bình luận về các quy định về thu ngân sách từ phí và lệ phí và bước đầu đề xuất các giải pháp hoàn thiện - Pdf 33

MỞ ĐẦU.
Như chúng ta đã biết, ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ
hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại của nhà nước. Và có
thể nói rằng thu ngân sách nhà nước chính là việc tạo lập quỹ ngân sách nhà nước
mới giúp ngân sách nhà nước có khả năng phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ này
nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước. Có thu thì mới có chi, thu có tốt thì
chi mới có thể tốt vậy nên có thể khẳng định thu ngân sách nhà nước có vai trò đặc
biệt quan trọng.
Trong thời gian qua, thu ngân sách góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực tài
chính của Nhà nước. Thu ngân sách nhà nước không những đảm bảo cho nguồn
thu cho chi thường xuyên của chính phủ mà còn để dành ra một phần cho tích luỹ
đầu tư phát triển. Trong đó số thu từ thuế, phí và lệ phí là lớn và chiếm tỉ trọng cao
trong tổng thu ngân sách nhà nước và cụ thể thì bình quân thu từ thuế, phí và lệ phí
chiếm khoảng 95% trong tổng thu ngân sách. Thuế thì hầu như mọi người dân đều
biết đến nó vì khái niệm thuế và các quy định của nó được áp dụng rộng rãi trong
thực tiễn. Vậy còn phí và lệ phí là gì nó được pháp luật quy định như thế nào ? và
có những giải pháp nào để hoàn thiện các quy định này. Bài viết sau sẽ đi vào bình
luận về các quy định về thu ngân sách từ phí và lệ phí và bước đầu đề xuất các
giải pháp hoàn thiện.

1


NỘI DUNG.
I. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH TỪ PHÍ VÀ
LỆ PHÍ.
1.Khái quát chung về phí và lệ phí.
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực
hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Sự tồn tại của Nhà nước và nền sản xuất hàng hoá là tính tất yếu của thu ngân sách

chủ thể cung cấp các dịch vụ gắn với chức năng quản lý nhà nước mới được phép
thu lệ phí. Khoản thu từ lệ phí, vì vậy được tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước.
Về nguyên tắc, các khoản thu về phí và lệ phí được đặt ra là để giúp nhà nước
thu hồi lại một phần các chi phí đã bỏ ra cho việc cung cấp các hàng hoá và dịch
vụ công cộng cho xã hội. Các khoản thu này thực chất là “giá cả” của các hàng hoá
và dịch vụ công cộng được đem trao đổi giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân
trong quá trình sản xuất và đời sống, mặc dù giá này trên thực tế không phản ánh
đúng giá trị của các hàng hoá dịch vụ công cộng mà nhà nước đã cung ứng theo
nhu cầu của toàn xã hội.
2. Các quy định của pháp luật về thu phí.
Có nhiều cách đề phân loại nguồn thu của ngân sách nhà nước cũng chính vì thế
nên thu phí và lệ phí cũng được xếp vào các loại nguồn thu khác nhau. Căn cứ vào
nội dung pháp lý thì thu phí và lệ phí là khoản thu mang tính chất bắt buộc còn căn
cứ vào mức độ định kì qua đó hoạt động thu được tiến hành thì thu phí và lệ phí là
khoản thu mang tính thường xuyên. Vậy có thể nhận thấy thu ngân sách nhà nước
từ phí và lệ phí là khoản thu bắt buộc mang tính thường xuyên.
3


Điều 2 của pháp lệnh phí và lệ phí quy định : “ Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá
nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định
trong Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này ”. Các loại phí chia ra :
1.Phí thuộc lãnh vực nông nhiệp, lâm nghiệp, thủy sản: thủy lợi phí...
2. Phí thuộc lãnh vực công nghiệp, xây dựng: phí xây dựng..
3. Phí thuộc lãnh vực thương mại, đầu tư: phí chợ…
4. Phí thuộc lãnh vực lưu thông vận tải: phí sử dụng đường bộ…
5. Phí thuộc lãnh vực thông tin, liên lạc: phí sử dụng và bảo vệ tần số vô tuyến
điện…
6. Phí thuộc lãnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: phí trông giữ xe…
7. Phí thuộc lãnh vực văn hóa xã hội: phí tham quan…

trang trải chi phí cho việc thu phí, phần còn lại phải nộp vào ngân sách nhà nước.
- Phí thu được từ các dịch vụ không do Nhà nước đầu tư hoặc do Nhà nước đầu tư
nhưng đã chuyển giao cho tổ chức, cá nhân thực hiện theo nguyên tắc hạch toán là
khoản thu không thuộc Ngân sách nhà nước, tổ chức cá nhân thu phí có quyền
quản lý, sử dụng số tiền được qui định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân thu phí này
thì phải có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật
Một điểm nữa cũng cần chú ý : các loại phí bảo hiểm xã hội, phí bảo hiểm y tế
và các loại phí bảo hiểm khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh phí
và Lệ phí ( điều 4 pháp lệnh phí và lệ phí 2001 ).
3. Các quy định pháp luật về thu lệ phí.
Điều 3 pháp lệnh phí và lệ phí năm 2001 quy định : “ lệ phí là khoản tiền mà tổ
chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền
phục vụ công việc quản lý Nhà nước được qui định trong danh mục Lệ phí ban
hành kèm theo Pháp lệnh Phí và Lệ phí ”.
Theo danh mục Phí và Lệ phí, được áp dụng ban hành kèm theo Pháp lệnh Phí
và Lệ phí, các loại phí chia ra:

5


1.Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân: lệ phí
tòa án..
2. Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản:
lệ phí trước bạ…
3. Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến sản xuất kinh doanh, cung cấp thông
tin về Lệ phí Đăng ký kinh doanh.
4. Lệ phí quản lý Nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia: lệ phí ra vào cảng…
5. Lệ phí quản lý Nhà nước trong các lãnh vực khác: lệ phí hải quan, lệ phí
chứng thực, lệ phí công chứng.
Cũng như phí việc xác định mức thu lệ phí cũng căn cứ vào các nguyên tắc được

dịch vụ công mà người dân được hưởng... bãi bỏ những khoản đóng góp với danh
nghĩa tự nguyện nhưng không hợp lý.
Thứ hai, bãi bỏ ngay những khoản thu phí, lệ phí không có tên trong danh mục
chi tiết phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị định số 24/2006/NĐ-CP ngày 6/3/2006
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí, lệ phí.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã có văn bản báo cáo Chính phủ
về việc người nông dân hiện đang phải chịu đến 122 khoản thu có tính cách như
thuế. Loại trừ các khoản phí, lệ phí phải nộp theo qui định của Nhà nước khi giải
quyết các việc hành chính, mỗi hộ dân còn phải đóng góp hằng năm từ 2,5 - 5,2%
thu nhập bình quân của mình cho các loại phí khác, điều này gây khó khăn cho họ
trong đầu tư sản xuất, đi lại, học hành, y tế...

8


Việc đóng góp phí, lệ phí là một việc rất bình thường bởi người dân phải có
trách nhiệm đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua việc sử dụng các dịch vụ
hoặc một số công việc liên quan đến quản lý nhà nước. Nguồn thu đó góp phần đầu
tư vào các công trình phục vụ chính người dân.
Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại trong việc thực hiện pháp lệnh phí và lệ phí.
Trong 340 loại phí, lệ phí Chính phủ chỉ đạo các địa phương phải bãi bỏ thì một số
địa phương vẫn chưa có báo cáo cụ thể về việc bãi bỏ. Theo đánh giá của Ủy ban
Tài chính - ngân sách của Quốc hội, Chính phủ vẫn chưa bao quát hết những khoản
phát sinh phí, lệ phí và mức thu chưa phù hợp với cơ chế thị trường, chậm được bổ
sung. Một số qui định còn thiếu nhất quán, bất cập. Công tác kiểm tra, kiểm soát
thực hiện pháp lệnh phí và lệ phí còn thiếu chặt chẽ. Quá nhiều khoản đóng góp
đang trở thành gánh nặng đối với người dân.
Miễn giảm đóng góp cho dân. Hội Nông dân VN đã điều tra và thấy có quá
nhiều khoản đóng góp đối với người dân nói chung và các hộ dân ở nông thôn nói

khoản huy động mang tính chất xã hội từ thiện, phải vận động đóng góp tự nguyện,
nhưng lại quy định nâng tính bắt buộc... Trong 28 khoản thu phí tự nguyện thì đã
có tới 10 khoàn thu phí dịch vụ của các hợp tác xã. Từ thực tiễn đấy thì nhà nước
cùng các cơ quan có thẩm quyền nên xem xét và có hướng giải quyết các khoản chi
tiêu từ nguồn thu dịch vụ của các hiợ
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu rõ chính
sách và quy định của pháp luật đối với từng khoản thu phí, lệ phí; các khoản đóng
góp và giá một số dịch vụ phải trả. Thực hiện công khai, minh bạch trong việc huy
động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân. Tăng cường trách
nhiệm của các Sở và cơ quan nhà nước cấp tỉnh trong kiểm tra, giám sát trong
việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân.
10


Ngoài các đại họa như lũ lụt, AIDS, ma túy, tham nhũng... dân ta hiện nay còn bị
tấn công bởi các loại “phí” và “lệ phí”. Quá nhiều cơ quan có quyền thu đủ các loại
“phí”. Cơ quan thu thuế cấp cao nhất nước là Bộ Tài chính đã công nhận, trên cả
nước hiện có những loại phí và lệ phí không nằm trong những qui định do chính
Bộ này ban hành. Con số thực chưa ai xác định được vì còn nhiều loại phí và lệ phí
do các ngành, các UBND ban hành. Ở cấp quận huyện, phường xã vẫn có đủ thứ
khoản thu khác nhằm “tự cân đối”, “tự bổ sung” ngân sách của từng đơn vị. Các
khoản nộp này lắm khi… không có biên lai. Riêng việc bán nhà, ngoài các khoản
phải nộp cho cơ quan nhà đất, còn có khoản “ủng hộ” cho phường xã, tùy theo giá
trị ngôi nhà mà “bắt buộc ủng hộ” từ vài trăm ngàn đến vài triệu đồng. Tiền dân
phòng, tiền xóa đói giảm nghèo, tiền điện chiếu sáng, tiền phòng cháy chữa cháy,
tiền lao động công ích... tất cả đều nhằm vào các mục đích tốt đẹp cả. Chỗ thu béo
bở nhất là hải quan với hàng chục loại phí: Lệ phí niêm phong, lệ phí áp tải, lệ phí
kiểm dịch, lệ phí hàng hóa... Đó là những loại được công khai đàng hoàng, có giấy
tờ rõ ràng. Còn, các loại… lót tay riêng thì chưa kể và cũng không thể kể.
Cũng khó mà tránh việc tự ý thu vì mỗi ngành, mỗi đơn vị đều phải tự lo, tự cứu.

Theo kết quả giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí,
thì việc huy động đóng góp sức dân đang nảy sinh nhiều vấn đề nổi cộm, gây bức
xúc trong nhân dân. Mức huy động đóng góp tự nguyện của người dân đã được
thực hiện tùy tiện tại các địa phương, gây ra những bất hợp lý giữa các vùng có
cùng điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả khảo sát tại 46 tỉnh, thành phố, ở
135 xã, 117 hợp tác xã nông nghiệp của Cục Hợp tác xã và phát triển nông thôn
(Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho thấy đóng góp của các hộ nông dân
ở mức cao và có sự chênh lệch lớn giữa các vùng với mức từ 250.000 đồng 800.000 đồng, cá biệt có địa phương yêu cầu đóng tới 2 triệu đồng/hộ/năm.
12


Điều nghịch lý là những vùng kinh tế khó khăn, thu nhập thấp thì mức đóng góp
có xu hướng cao hơn các vùng thuận lợi. Nhiều địa phương đã hành chính hóa các
khoản đóng góp có tính chất tự nguyện thông qua việc giao chỉ tiêu huy động,
không phân biệt hoặc không giải thích cụ thể những khoản đóng góp nào có tính
chất bắt buộc và khoản đóng góp tự nguyện. Thậm chí có địa phương, việc xác
nhận những thủ tục hành chính liên quan đến lợi ích của người dân - vốn là dịch vụ
công - cũng phải đóng lệ phí.
Ở các đô thị, tình trạng lạm thu phí và lệ phí đang diễn ra thường xuyên và rất
đáng lo ngại. Chẳng hạn ở các trường học, theo quy định của Luật Giáo dục ban
hành năm 2005 thì ngoài học phí và lệ phí tuyển sinh, người đi học và gia đình họ
không phải đóng thêm khoản tiền nào khác. Nhưng trên thực tế, dư luận nhiều năm
nay vẫn than phiền về vô số các khoản đóng góp của cha mẹ học sinh, từ xây dựng
cơ sở hạ tầng, quỹ phát triển giáo dục, tiền điện, tiền nước, tiền mua và sửa chữa
máy vi tính cho nhà trường…
Điều gì đã khiến tình trạng này hàng chục năm qua chưa được điều chỉnh? Do
ngân sách thiếu hụt, do sự tùy tiện của các địa phương hay sự cố tình lạm dụng
những chủ trương đúng đắn của Nhà nước nhằm mang lại lợi ích cục bộ, thậm chí
lợi ích cá nhân? Và tại sao trong 340 loại phí và lệ phí mà Chính phủ chỉ đạo các
địa phương phải bãi bỏ thì một số nơi vẫn chưa thực hiện?

MỞ ĐẦU......................................................................................................................................................1
NỘI DUNG....................................................................................................................................................2
I. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU NGÂN SÁCH TỪ PHÍ VÀ LỆ PHÍ..............................................2
1.Khái quát chung về phí và lệ phí..........................................................................................................2
14


2. Các quy định của pháp luật về thu phí.............................................................................................3
3. Các quy định pháp luật về thu lệ phí................................................................................................5
II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ THU NGÂN SÁCH
TỪ PHÍ VÀ LỆ PHÍ.....................................................................................................................................7
KẾT LUẬN...................................................................................................................................................14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Giáo trình Luật ngân sách nhà nước – nxb

-

2. Luật ngân sách nhà nước 2002.
3. Pháp lệnh Phí và Lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 8 năm
2001
4. Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí và Lệ phí
5. Nghị định số 24/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành Pháp lệnh Phí và Lệ phí
http://www.thuvienphapluat.com
7. www.vietbao.com
6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status