Hoàn thiện pháp luật về người không được quyền hưởng di sản - Pdf 33

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công
dân, được ghi nhận tại Điều 58 Hiến pháp năm 1992 và Điều 631 BLDS năm
2005. Nguyên tắc quyền bình đẳng về thừa kế là một trong những nguyên tắc
của quyền thừa kế, cụ thể Điều 632 BLDS năm 2005 quy định: “Mọi cá nhân
đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền
hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Tuy nhiên, trong xã hội có
một số trường hợp người thừa kế vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình,
có những hành vi trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội, trái với thuần phong
mĩ tục của dân tộc Việt Nam, xâm phạm đến danh dự, uy tín, tính mạng, sức
khỏe của bố, mẹ, anh, em, vợ, chồng,... Những người này không còn xứng
đáng được hưởng thừa kế và pháp luật đã tước quyền đó của họ. Để làm rõ
hơn về vấn đề này, em xin chọn đề tài số 12: “ Hoàn thiện pháp luật về
người không được quyền hưởng di sản ” làm bài tập lớn học kì của mình.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1. Khái quát về thừa kế
Quyền thừa kế, theo nghĩa rộng là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp
các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ về việc dịch chuyển tài sản từ
người chết cho những người còn sống khác theo ý chí của họ được thể hiện
trong di chúc hoặc theo ý kiến của nhà nước được thể hiện trong các quy
phạm pháp luật. Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng
dân sự chủ quan của chủ thể có quyền để lại di sản thừa kế hoặc có quyền
hưởng di sản thừa kế của người chết để lại theo ý chí của người đó hoặc theo
quy định của pháp luật.
Thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo
1


di chúc hoặc theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền,

nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không
xác định được người nào chết trước thì họ không được hưởng di sản thừa kế
của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ
trường hợp thừa kế thế vị”.
Từ chối nhận di sản. Theo quy định tại Điều 642 BLDS năm 2005 thì người
thừa kế có quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn
tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Quy định người không có quyền hưởng di sản của pháp luật Việt Nam
trước BLDS năm 2005.
Trước năm 1945 ở nước ta, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến cũng có
những quy định về người thừa kế không có quyền hưởng di sản của người quá
cố (họ được coi là người thừa kế bất xứng).
Điều 313 Bộ dân luật Bắc Kì và Điều 306 Dân luật Trung Kì đều dự liệu
những trường hợp người thừa kế không có quyền hưởng di sản đó là:
Thứ nhất, người đã bị người lập di chúc tuyên bố không xứng đáng được
hưởng di sản của người lập di chúc.
Thứ hai, người có hành vi xâm phạm đến tính mạng người để lại di sản hoặc
với danh nghĩa chính phạm hoặc đồng phạm hoặc tòng phạm.
Thứ ba, người đã trưởng thành biết được hành vi cố ý giết người mà không tố
giác với Tòa án, nhưng nếu kẻ sát hại là cha, mẹ, anh, em, vợ, chồng hoặc
người thân thuộc của người thừa kế thì không bị coi là có lỗi vì đã không bị
coi là tố giác và cuối cùng là người có hành vi vu khống để lại di sản hoặc vu
khống ông, bà, cha, mẹ của người đó và người bị vu khống đã bị phạt về trọng
tội hay thường tội.
Cũng về vấn đề trên, theo án lệ ở miền Nam nước ta trước năm 1945 thì
người vợ góa bị coi là bất xứng không có quyền hưởng di sản, phần di sản đó
sẽ do con hoặc cháu của người đó được hưởng nếu người vợ góa có các hành
vi như là: không để tang chồng; sống thiếu đạo đức và đã công khai gây tai
3



a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc hành
vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác
nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế khác có
quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép người có tài sản trong việc lập di
chúc; giả mạo di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di
sản trái với ý chí của người có tài sản.
2- Những người nói tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người
có tài sản thể hiện ý chí vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”.
Nội dung của Điều 7 Pháp lệnh thừa kế nói trên đã được giữ nguyên và được
thể hiện tại Điều 646 BLDS năm 1995 và nay là Điều 643 BLDS năm 2005
3. Những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều
643 BLDS năm 2005
Người không được hưởng di sản hay người bị tước quyền hưởng di sản
được quy định trong Điều 643 BLDS 2005 gồm cả người thừa kế theo pháp
luật và người thừa kế theo di chúc. Đó là những người đáng lẽ được hưởng di
sản, họ là người thừa kế của người để lại di sản hoặc đã được người lập di
chúc cho họ hưởng di sản nhưng những người này lại có hành vi trái pháp
luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản theo pháp luật
cũng như theo di chúc.
Điều 643 BLDS năm 2005 quy định “ người không được quyền hưởng di
sản”
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe
hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm
phạm nghiêm trọng danh dự nhân phẩm của người đó.
5



Một người có quyền dân sự nhưng đã có hành vi gây hậu quả trái pháp luật là
nguyên nhân dẫn đến quyền đó bị triệt tiêu. Người thừa kế có hành vi cố ý
giết người để lại di sản, hành hạ, ngược đãi người để lại di sản, xâm phạm đến
danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản và đã bị Tòa án kết án về những
hành vi cố ý đó thì bị tước quyền thừa kế của người để lại di sản. Các tội này
đã được quy định tại Chương XII (các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe,
nhân phẩm, danh dự của con người) và Điều 151 (tội ngược đãi hoặc hành hạ
ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình) Bộ
luật hình sự năm 1999.
Như vậy, ta có thể kết luận: Điều kiện chính đặt ra trong trường hợp này
đó là phải có một bản án có hiệu lực pháp luật. Pháp luật luôn bảo vệ quyền
lợi chính đáng cho mọi người nhưng những ai có hành vi cố ý tước đoạt tính
mạng của người để lại di sản một cách trái pháp luật thì pháp luật quy định họ
không có quyền thừa kế di sản của người để lại di sản. Với quy định “hành vi
cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe” điều đó cũng có nghĩa rằng nếu một
người chỉ bị kết án về hành vi vô ý làm chết người thì không bị tước quyền
thừa kế. Bên cạnh đó, người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
không bị kết án thì không bị ràng buộc bởi điều luật này. Người có hành vi
ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, đối xử tàn tệ hoặc đày đọa về thể xác, tinh
thần người để lại di sản thì bị tước quyền hưởng thừa kế di sản người bị
ngược đãi, hành hạ đó. Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến danh
dự, nhân phẩm của người để lại di sản đã biết hành vi của mình là trái pháp
luật nhưng vẫn thực hiện hành vi để đạt được mục đích của mình thì không có
quyền nhận di sản thừa kế của người để lại di sản.
Thứ hai là “người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại
di sản”.
Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ giữa người để lại di sản với người thừa
kế theo pháp luật khi người để lại di sản còn sống. Quan hệ nuôi dưỡng phổ

8


b. Người để lại thừa kế là con của họ:
Cha mẹ chỉ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con khi con chưa thành
niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có
khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình (khoản 1 điều 36
LHNGĐ 2000). Do đó, cha mẹ luôn là người thừa kế theo luật đối với di sản
do con để lại. Tuy nhiên, cha mẹ sẽ không được hưởng thừa kế theo pháp luật
đối với di sản của con nếu cha mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con
khi người con đó trong tình trạng nêu trên.
Tương tự như vậy, một người khi đã có đủ năng lực hành vi dân sự hoặc
trên 15 tuổi nhưng có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ có thể lập di
chúc để định đoạt tài sản. Do đó, cha mẹ có thể là người thừa kế theo di chúc
của con trong ba trường hợp sau: con đã thành niên có năng lực hành vi dân
sự, con đã tròn 15 tuổi, con đã thành niên nhưng tàn tật (không mất năng lực
hành vi dân sự) lập di chúc và chỉ định cha, mẹ là người thừa kế di sản của
người con đó. Trong đó, cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong hai
trường hợp là: con đã tròn 15 tuổi hoặc con đã thành niên nhưng tàn tật
(không mất năng lực hành vi dân sự). Như vậy, chỉ có thể tước quyền hưởng
di sản theo di chúc của cha, mẹ đối với di sản thừa kế của con nếu họ không
thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con trong hai trường hợp đã nêu.
c. Người để lại thừa kế là anh, chị hoặc em của họ:
Điều 48 LHNGĐ 2000: “Anh, chị, em có bổn phận thương yêu, chăm
sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ và quyền đùm bọc, nuôi dưỡng nhau trong
trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con”.
Theo như điều luật trên, trong trường hợp anh chị hoặc em của người để
lại di sản không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng với người để lại di sản trong
trường hợp nêu trên thì họ không có quyền được thừa kế di sản do anh, chị

10


f. Người để lại thừa kế là vợ hoặc chồng của họ:
Luật hôn nhân gia đình 2000 không xác định nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa
vợ chồng mà chỉ xác định nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau sau khi họ ly hôn.
Trong trường hợp vợ chồng đã được tòa án cho ly hôn bằng một bản án đã có
hiệu lực pháp luật mà một bên chết thì người kia không còn là người thừa kế
theo pháp luật của người chết nữa, nhưng họ vẫn có thể là người thừa kế theo
di chúc. Trong trường hợp này, nếu sau khi ly hôn, người còn sống (chồng
hoặc vợ) có nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại di sản theo di chúc mà vi phạm
nghĩa vụ đó thì cũng sẽ bị tước quyền hưởng di sản theo di chúc.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nhau giữa những người thân do pháp luật quy định
nếu vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là vi phạm pháp luật. Do vậy, người vi
phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản mà bị kết án về hành vi đó sẽ
không có quyền thừa kế di sản của người để lại di sản.
Thứ ba: người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa
kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa
kế đó có quyền hưởng.
Cũng giống như ở trường hợp thứ nhất, trong trường hợp này, người không
được quyền hưởng di sản là người đã có hành vi “cố ý xâm phạm đến tính
mạng người thừa kế khác” do mưu đồ chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di
sản thừa kế mà người thừa kế khác có quyền được hưởng. Trong trường hợp
này cũng cần một bản án có hiệu lực pháp luật liên quan đến việc phạm tội để
đương sự không có quyền hưởng di sản. Ngoài ra, việc đưa ra áp dụng quy tắc
này còn tùy thuộc vào việc có chứng minh được hay không động cơ phạm tội
nhằm hưởng một phần hay toàn bộ phần di sản mà người thừa kế có tính
mạng bị xâm hại được hưởng nếu còn sống. Theo quy định trên thì một người
bị kết án về hành vi cố ý giết hại người thừa kế khác với mục đích chiếm đoạt
di sản của người thừa kế đó có quyền hưởng thì bị tước quyền thừa kế. Nhưng

lập thành văn bản, hoặc có thể di chúc miệng trong các trường hợp đặc biệt.
12


Sự tự do về mặt ý chí trong khi lập di chúc của người có tài sản là một
quyền được pháp luật bảo hộ. Do đó, những hành vi cản trở đối với người lập
di chúc là hành vi trái pháp luật và những người này rất có thể sẽ bị tước
quyền hưởng di sản thừa kế của người để lại di sản. Theo điểm d khoản 1
Điều 643 BLDS có thể thấy:
− Người có hành vi giả mạo di chúc được hiểu là người có hành vi mạo
danh người để lại di chúc, lập một bản di chúc không theo ý chí của người để
lại di sản hoặc làm cho những người thừa kế khác tưởng rằng người chết có
để lại di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản. Người thực hiện
hành vi này có thể là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản, có
thể là người ngoài diện thừa kế theo pháp luật và có tên trong di chúc được
lập do lừa dối mà có được. Với trường hợp thứ nhất, người thực hiện hành vi
lừa dối là người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản thì dĩ nhiên tòa
án sẽ tuyên bố tước bỏ quyền hưởng thừa kế theo pháp luật của người đó với
di sản của người chết. Ở trường hợp còn lại, người thực hiện hành vi lừa dối
là người ngoài diện thừa kế theo pháp luật và có tên trong di chúc thì tòa án sẽ
tuyên di chúc vô hiệu và di sản được chia cho những người thừa kế theo pháp
luật.
− Hành vi cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc là
hành vi tác động đến tâm lý, tinh thần của người để lại di sản buộc họ phải lập
một di chúc để định đoạt di sản của mình trái với ý nguyện đích thực của họ.
− Hành vi sửa chữa di chúc là hành vi của một người trong việc thay đổi
một phần hoặc toàn bộ nội dung của di chúc với mục đích nhằm hưởng phần
di sản nhiều hơn so với phần di sản mà người lập di chúc định đoạt cho mình
hoặc nhằm hưởng toàn bộ di sản của người lập di chúc.
− Người có hành vi giả mạo di chúc được hiểu là người có hành vi lập

tốt. Năm 1990, bà Bùi Thị Út chết. Tháng 9-2006, bà Võ Thị Xuân yêu cầu
Tòa án chia thừa kế theo di chúc của bà Bùi Thị Út để lại ngày 22-5-1984.
Trong bản di chúc bà Út để lại di sản thừa kế cho 4 người con gái và 2 cháu
14


trai. Về phía bị đơn và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan cho rằng:
Bản di chúc do bà Xuân xuất trình là giả mạo và yêu cầu chia thừa kế theo
luật. Và theo Thông báo ngày 28-2-2007 của Tổ chức giám định Công an TP
Đà Nẵng đã xác định “chữ ký và con dấu của người xác thực di chúc là giả”
Trong vụ án :
− Nguyên đơn : Bà Võ Thị Xuân.
− Bị đơn : Ông Võ Ngọc Khôi.
Như vậy, trong trường hợp này việc chia di sản thừa kế tuân theo pháp
luật vì bà Bùi Thị Út không để lại di chúc hoặc di chúc bị thất lạc.
Tòa án nhân dân quận TK đã xử và quyết định:
1. Bác toàn bộ yêu cầu đòi chia di sản và tước quyền thừa kế theo luật
của bà Võ Thị Xuân đối với di sản.
2. Công nhận sự thỏa thuận về việc chia di sản thừa kế như sau:
44,21m2 đất tại số 189 Trần Cao Vân có giá trị 120.000.000đ là di sản thừa
kế do bà Bùi Thị Út để lại được giao ông Võ Ngọc Khôi quản lý sử dụng và
ông Nguyễn Văn Nghĩa từ chối nhận di sản thừa kế nên ông Khôi phải trích
trả kỉ phần thừa kế cho những người sau: Trả cho ông Võ Ngọc Thanh, bà
Nguyễn Thị Thu, bà Võ Thị Hương mỗi người là 30.000.000đ.
Trong tình huống trên, ta thấy được rằng bà Xuân đã có hành vi cung
cấp di chúc giả được xác nhận theo thông báo của Tổ chức giám định Công an
thành phố Đà Nẵng “chữ kí và con dấu của người xác thực di chúc là giả”.
Như vậy theo quy định của pháp luật thì bà Bùi thị Út chết không để lại di
chúc và di sản của bà Út sẽ được chia theo pháp luật. Tuy nhiên, bà Xuân đã
có hành vi “sử dụng” di chúc giả, từ chi tiết này em nhận thấy vẫn còn khúc

để lại di sản không thì còn phải xác định điều kiện, khả năng kinh tế của
người thừa kế đó có đủ khả năng để có thể nuôi dưỡng được người để lại di
sản hay không. Hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cha, mẹ phải được tòa
án xác định là nghiêm trọng. Việc xác định thế nào là vi phạm nghiêm trọng
nghĩa vụ nuôi dưỡng của Tòa án còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất bởi chưa
17


có văn bản nào hướng dẫn một cách đầy đủ, cụ thể về việc thế nào được coi là
vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng. Do vậy, Tòa án chính là nơi xác định một
người có vi phạm nghĩa vụ đối với người để lại di sản hay không? Có bị tước
quyền thừa kế hay không? Từ đó dẫn đến sự thiếu thống nhất trong các quy
định của Tòa án. Mặt khác, trong luật cũng chưa xác định rõ về đối tượng
người thừa kế phải nuôi dưỡng người để lại di sản. Vậy người thừa kế là cháu
có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản là cô, dì, chú, bác hay không và
ngược lại cô, dì, chú, bác là người thừa kế có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu là
người để lại di sản hay không. Nếu có thì phải nuôi dưỡng trong điều kiện
nào? Do đó, trong điều luật này cần phải quy định rõ ràng hơn về vấn đề để
tránh tình trạng hiểu sai.
Thứ tư, ở điểm a khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2005 quy định người thừa kế
không có quyền hưởng di sản thì phải bị Tòa kết án. Nhưng thực tế, không
phải mọi hành vi vi phạm đều được đưa ra xét xử và có quyết luận của Tòa
án, nhất là các hành vi bạo lực gia đình, nó sẽ thường bị giấu kín do nhiều
nguyên nhân. Do vậy, chỉ những hành vi được Tòa án xác định bằng một bản
án, có lẽ sẽ là điểm thiếu sót của quy định pháp luật.
Thứ năm, về quy định tại khoản 2 Điều 643 BLDS năm 2005: “Những người
quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di
sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di
chúc”. Như vậy, nếu hành vi trái pháp luật của người thừa kế xảy ra trước,
người để lại di sản biết được nhưng vẫn lập di chúc cho người thừa kế đó

mạng của người để lại di sản thừa kế nên không xứng đáng nhận di sản của
người đó để lại”. Em nghĩ chúng ta ai cũng có thể thấy rằng đây là vấn đề liên
quan đến pháp luật mà người vi phạm không trực tiếp xâm phạm tính mạng
người để lại di sản nên không đến mức phải tước quyền thừa kế của họ. Chính
bởi những người trong diện được hưởng thừa kế thường có quan hệ gần gũi
với nhau như bố mẹ - con cái, vợ - chồng, anh, chị - em,… nên việc không tố
giác hành vi xâm phạm có thể không bị coi là phạm tội theo quy định của
BLHS. Lẽ đơn giản vì ai cũng là con người, có cảm xúc và mối quan hệ gắn
19


bó với nhau, pháp luật tuy nghiêm khắc và phải khách quan nhưng cũng là
những điều được tạo ra để bảo vệ mối quan hệ giữa con người với con người
cho nên cũng cần xét đến cảm tính để có những quyết định cuối cùng vừa hợp
tình, vừa hợp lý.
C. KẾT LUẬN
Việc xác định người không được quyền hưởng di sản là vấn đề quan trọng
trong khi chia thừa kế đối với di sản của người chết. Cùng những hiểu biết về
vấn đề này sẽ giúp cho Tòa án, cá nhân có thẩm quyền có những phán xử vừa
chính xác đúng với quy định của pháp luật vừa phù hợp với đạo đức xã
hội.Trong giai đoạn hiện nay, các tranh chấp về thừa kế có xu hướng ngày
càng gia tăng và trở nên phức tạp hơn. Đặc biệt, một trong những khó khăn
vướng mắc lớn khi áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh
chấp thừa kế chính là vấn đề xác định sao cho đúng người thừa kế, một người
có quyền hưởng di sản không những ảnh hưởng lớn đến ý chí của người để lại
thừa kế mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của người thừa kế. Chính vì vậy, cần
phải hoàn thiện hơn nữa quy định về “người không được quyền hưởng di sản.

20


1. Khái quát về thừa kế.....................................................................................1
2. Quy định người không có quyền hưởng di sản của pháp luật Việt Nam
trước BLDS năm 2005......................................................................................3
3. Những người không được quyền hưởng di sản theo quy định tại Điều
643 BLDS năm 2005.........................................................................................5
II. TRANH CHẤP THỰC TẾ LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC
HƯỞNG DI SẢN THEO PHÁP LUẬT VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT...................................................................................................................14
1. Tranh chấp thực tế......................................................................................14
2. Thực tiên áp dụng điều 643 BLDS và hướng hoàn thiện pháp luật về
người không được quyền hưởng di sản.........................................................16
C. KẾT LUẬN........................................................................................................20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status