§Ò 9:Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự của bên vi phạm hợp đồng
BÀI LÀM
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự
và là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp của
các chủ thể trong xã hội. Hợp đồng dân sự được xác lập sẽ hình thành,mối liên
hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, mối liên hệ pháp lí
này được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của Nhà nước. Do đó,
sau khi hợp đồng được thiết lập, sự ràng buộc pháp lí về quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể được thể hiện rõ nét, theo đó, bên nào vi phạm cam kết, thỏa
thuận phải gánh chịu hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi vi phạm của mình. Sau
đây, em xin đi sâu vào tìm hiểu điều kiện phát sinh trách nhiệm d©n sù do vi
phạm hợp đồng.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I, Kh¸i niÖm hợp đồng dân sự:
Khái niệm hợp đồng dân sự được đề cập tại điều 388, BLDS 2005.Theo
đó:
“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”
Một xã hội muốn tồn tại và phát triển ,nhu cầu của con người muốn
được thỏa mãn thì buộc các chủ thể phải tìm đén nhau thông qua quan hệ hợp
ng v trong quan h hp ng ú phi cú s t do ý chớ ca ch th.Hp
ng dân sự không chỉ là s tha thun để một bên chuyển giao tài sản , thực
hiện một công việc cho bên kia mà còn có thể là sự thoả thuận để thay đổi hay
chấm dứt các nghĩa vụ đó. Y chí của chủ thể có thể là căn cứ phát sinh nghĩa
vụ. Tuy nhiên nếu ý chí đơn phơng làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ không cần
với nghĩa vụ, nhưng ở đây, khái niệm trách nhiệm đã hàm chứa một yếu tố
quan trọng của trách nhiệm, đó là “hậu quả”.Với trách nhiệm pháp lý, , tức là
trách nhiệm đã được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành, các hậu quả này sẽ là những “hậu quả bất lợi” được áp đặt lên những
người phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý luôn là một chế
định rất quan trọng đối với mọi hệ thống luật, vì nó chính là đảm bảo cho sự
tuân thủ pháp luật của các thành viên trong xã hội. Trách nhiệm pháp lí xuất
hiện khi có sự vi phạm pháp luật, là hậu quả của hành vi vi phạm và là sự thể
hiện thái độ trừng phạt của quyền lực Nhà nước đối với các hành vi vi phạm.
Theo tù điển giải thích ngôn ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà
Nội, thì “TNDS là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối
với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh
thần cho người bị thiệt hại”. Nếu hiểu theo nghĩa này, trách nhiệm dân sự là
loại trách nhiệm pháp lý được đặt ra khi và chỉ khi có sự vi phạm trách nhiệm
dân sự.
Còn trong một số chuyên đề về Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, tạp
chí dân chủ và pháp luật của Bộ tư pháp, lại đưa ra một cách định nghĩa khác
về trách nhiệm dân sự trong phần thuật ngữ pháp luật dân sự:
Trách nhiệm dân sự( theo nghĩa rộng) là các biện pháp có
tính cưỡng chế, được áp dụng nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của
một quyền dân sự bị vi phạm.Trách nhiệm dân sự (theo nghĩa hẹp) là các
biện pháp có tính cưỡng chế áp dụng đối với người có hành vi vi phạm
pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác, người gây ra thiệt hại phải chịu
trách nhiệm khắc phục những hậu quả xấu xảy ra bằng tài sản của mình
(trong đoc có bồi thường thiệt hại ngoài hợp đòng hoặc trong hợp đồng )
Có thể thấy, dù ở cách này hay cách khác, trách nhiệm dân sự vẫn được
hiểu là một loại trách nhiệm pháp lý, vì vậy nó mang những đặc tính chung
của trách nhiệm pháp lí như luôn đi kèm với chế tài, phải được nhà nước quy
Pháp lệnh này đã dành riêng một chơng để quy định về TNDS do vi phạm hợp
đồng. Tuy nhiên, trong giảo trình của các trờng Đại học giảng dạy về chuyên
ngành Luật cũng nh Đại học Luật Hà Nội và trong các từ điển thuật ngữ luật
học vẫn cha có một khái niệm chính thức về TNDS do vi phạm hợp đồng .
TNDS do vi phạm hợp đồng trớc tiên là một loại TNDS, ngoài những
đặc điểm chung mà TNDS nào cũng có, nó còn mang những nét riêng biệt
sau:
- Vì là TNDS do vi phạm hợp đồng nên tất yếu giữa hai bên trong quan
hệ phải tồn tại mội hợp đồng cụ thể và hợp đồng này phải có hiệu lực. Néu hợp
đồng vô hiệu, thì không thể có trách nhiệm dân sự phát sinh và nếu có phát
sinh thì sẽ là trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
- TNDS trong hợp đồng chỉ phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ đợc
giao kết trong hợp đồng đó. Tức là TNDS trong hợp đồnggiới hạn trong phạm
vi nghĩa vụ đợc quy định trong hợp đồng.
- Chế tài của TNDS do vi phạm hợp đồng rất phong phú và chỉ cần có sự
vi phạm nghĩa vụ sẽ lập tức phát sinh trách nhiệm. Tuỳ theo sự thoả thuận giữa
hai bên và hậu quả của sự vi phạm mà có các chế tài khác nhau đợc áp đặt lên
ngời chịu TNDS. Cơ bản nhất , khi có sự vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, chế
tài buộc phải thực hiện, thực hiện đúng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ ngay lập
tức sẽ đợc áp đặt; trong trờng hợp từ sự vi phạm nghĩa vụ phát sinh thêm hậu
quả thiệt hại cho bên kia thì chế tài bồi thờng thiệt hại đợc áp đặt ; còn nếu hai
bên thoả thuận về việc phạt hợp đồng thì chỉ cần có sự vi phạm nghĩa vụ trong
hợp đồng, chế tài phạt hợp đồng sẽ phát sinh. Sự đa dạng của chế tài tuỳ thuộc
vào tính chất của sự vi phạm, sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng, hậu
quả của sự vi phạm mà từ đó có thể áp dụng một , hai hoặc tất cả các chế tài
trong một vụ việc.
Có thể nói, việc có những quy định riêng về TNDS do vi phạm hợp đồng
có ý nghĩa quan trọng trong điều chỉnh các quan hệ hợp đồng. Vì sâu xa, mục
phát sinh bất cứ loại trách nhiệm dân sự nào cũng cần có hai căn cứ cơ bản là
hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng và lỗi.
2.1. Hành vi vi phạm nghĩa vụ:
Theo từ điển tiếng Việt, Hnh vi "l ton th nhng phn ng ca c
th, nhm ỏp ng li kớch thớch ngoi gii" hnh ng hoc phn ng ca i
tng (khỏch th) hoc sinh vt, thng s dng trong s tỏc ng n mụi
trng, xó hi. Hnh vi cú th thuc v ý thc, tim thc, cụng khai hay bớ
mt, v t giỏc hoc khụng t giỏc.
Còn hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự là những phản ứng của con ngời
không tuân theo những cam kết của hợp đồng. Hay nói cách khác, hành vi vi
phạm nghĩa vụ là những hành vi không thực hiện nghiã vụ hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ.
Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, có rất nhiều trờng hợp , tình huống xảy
đến do những hành vi vi phạm nghĩa vụ. Những hành vi này dù cố tình hay vô
ý cũng đều mang lại hậu quả bất lợi cho hợp đồng, dẫn đến vi phạm hợp đồng.
Hành vi không thực hiện nghĩa vụ đợc hiểu là ngời có nghĩa vụ phải
thực hiện nghĩa vụ trớc ngời có quyền theo quan hệ nghĩa vụ đợc xác lập nhng
ngời có nghĩa vụ đã không thực hiện nghĩa vụ đó.
Hành vi không thực hiện nghĩa vụ có thể đợc biểu hiện qua các trờng
hợp sau:
- Ngời có nghĩa vụ không thực hiện việc chuyển giao tài sản nếu
đối tợng của nghĩa vụ đợc các bên thoả thuận là tài sản và theo đó bên có
nghĩa vụ phải chuyển giao tài sản cho bên có quyền;Ví dụ nh mua đồ điện tử ở
cửa hàng, và cửa hàng đó không giao hàng cho ngời mua....
- Ngời có nghĩa vụ không thực hiện công việc theo thoả thuận với
bên có quyền hoặc theo quy định của pháp luật.
Hành vi thực hiện không đúng nghĩa vụ đợc hiểu là ngời có nghĩa vụ
phải thực hiện đúng nội dung đuợc xác định cụ thể trong hợp đồng (thực hiện
Tại điều 308, BLDS 2005 có quy định về lỗi nh sau:
1. Ngời không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự
thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trờng hợp có
thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
2. Cố ý gây thiệt hại là trờng hợp một ngời nhận thức rõ hành vi của
mình sẽ gây hại cho ngời khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy
không mong muốn nhng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là trờng hợp một ngời không thấy trớc hành vi của
mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trớc thiệt
hại sẽ xảy ra hoặc thấy trớc hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhng
cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn đợc.
Đẻ xác định ngời có nghĩa vụ khi vi phạm nghĩa vụ đó có phải chịu
trách nhiệm dân sự hay không trớc hết phải xem xét ngời đó có lỗi hay không.
điều 308 BLDS 2005 đã đặt ra hai loại lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý.
Lỗi là một yếu tố chủ quan thể hiện thái độ tâm lý của con ngời đối
với hành vi của mình và hậu quả của hành vi ấy.
Trung thc, thin chớ l mt trong nhng nguyờn tc nn tng ca vic
ký kt v thc hin hp ng, c ghi nhn khụng nhng trong phỏp lut hp
ng ca Vit Nam m cũn c quy nh trong phỏp lut ca nhiu nc.
Gia hnh vi vi phm hp ng vi nguyờn tc núi trờn tn ti mi quan h
tng h. Có thể nói, vi phm hp ng c ý l biu hin ca s khụng trung
thc, thin chớ, cũn khụng c ý vi phm hp ng cú th khụng vỡ khụng thin
chớ, trung thc. Hnh vi vi phm hp ng l nhng biu hin khỏch quan
di dng hnh ng hoc khụng hnh ng trỏi vi cỏc ni dung m cỏc bờn
ó tha thun trc ú. Tuy nhiờn khi s vi phm c gn lin vi yu t li
thỡ biu hin khỏch quan ó c lng ghộp vi nhng du hiu ch quan, bi
li phn ỏnh trng thỏi nhn thc ca ngi vi phm khi cú hnh vi trỏi vi
tha thun. Vỡ th khi s dng nguyờn tc trung thc, thin chớ soi vo cỏc
hai hỡnh thc li: c ý v vụ ý trong vic xỏc nh trỏch nhim do vi phm hp
ng..BLDS năm 2005 quy định ngời có nghĩa vụ mà không thực hiện nghĩa
vụ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ phải chịu TNDS khi họ có lỗi( lỗi vô
ý hoặc cố ý) . Trong một số trờng hợp nhất định, thì điều kiện xác định trách
nhiệm dân sự phải là lỗi cố ý, ví dụ trong trờng hợp lừa dối để không phải thực
hiện nghĩa vụ. Nếu trong trờng hợp họ không có lỗi thì họ không phải chịu
TNDS.
Ngời vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm nghĩa
vụ của mình dù là lỗi cố ý hay vô ý, nhng cần lu ý, việc phân biệt lỗi cố ý hoặc
lỗi vô ý trong trách nhiệm dân sự có ý nghĩa trong việc giảm mức bồi thờng
cho ngời vi phạm hoặc xác định trách nhiệm của ngời có quyền nếu họ có lỗi
cố ý đối với hành vi vi phạm nghĩa vụ của ngời có nghĩa vụ.
Trong một số trờng hợp yếu tố lỗi cố ý hay vô ý đợc nhận thức dễ dàng
từ tính chất vụ việc. Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng có thể xác định đợc
việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ là do lỗi cố ý hay lỗi
vô ý của ngời có nghĩa vụ. Do đó trớc đây, điều 309 BLDS năm 1995 quy định
trách nhiệm chứng minh lỗi cố ý hay lỗi vô ý thuộc về ngời vi phạm nghĩa vụ
dân sự. Tuy nhiên, đây là quy định thuộc về pháp luật tố tụng, việc đa ra các
chứng cứ để chứng minh mình có lỗi trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự hay
không đã đựoc Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định đầy đủ , cụ thể và vì
lí do đó BLDS năm 2005 không điều chỉnh quy định này.
III. KÊT THUC VÂN ĐÊ:
Khi vi phạm hợp đồng, điều kiện để phát sinh trách nhiệm dân sự bao
gồm cả hành vi vi phạm nghĩa vụ và lỗi. Trong ú hnh vi vi phm hp ng
l nhng biu hin khỏch quan di dng hnh ng hoc khụng hnh ng
trỏi vi cỏc ni dung m cỏc bờn ó tha thun trc ú. Tuy nhiờn khi s vi
Ng©n.
5.
Phạm Kim Anh, Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự, Tạp chí
Khoa học pháp lý số 3(18)/2004.
6. webside: luatdaiviet.vn.
7. webside: thuvienphapluat.vn.
C¥ C¢U BAI LAM:
T VN :
GII QUYT VN :
I, Khái niệm hp ng dõn s:
II, Đôi nét cơ bản về trỏch nhim dõn s:
III, Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp
đồng:
1,Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp đồng:
2. Điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp đồng:
2.1. Hành vi vi phạm nghĩa vụ:
2.2 .Lỗi:
KÊT THUC VÂN ĐÊ: