Những vấn đề chung về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba - Pdf 35

Những vấn đề chung về bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân


Những vấn đề chung về bảo hiểm trách
nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Phiên bản trực tuyến:
/>

MỤC LỤC
1. Sự cần thiết phải triển khai bảo hiểm trách nhiện dân sự của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba
2. Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
3. Nội dung cơ bản của bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba
4. Phí bảo hiểm.
5. Trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia
6. Công tác giám định và giải quyết bồi thường
Tham gia đóng góp

1/21


2/21


Tác dụng của bảo hiểm trách nhiệm dân sự
của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba.
Đối với chủ xe.
BHTNDS của chủ xe cơ không chỉ có vai trò to lớn đối với người bị thiệt hại mà còn cả
xã hội, nó là tấm lá chắn vững chắc cho các chủ xe khi tham gia giao thông.
- Tạo tâm lý yên tâm, thoải mái, tự tin, khi điểu khiển các phương tiện tham gia giao
thông.
- Bồi thường chủ động, kịp thời cho chủ xe khi phát sinh TNDS, trong đó có lỗi của chủ
xe thì công ty bảo hiểm nơi mả chủ xe tham gia ký kết bảo hiểm tiến hành bồi thường
nhanh chóng để các chủ xe phục hồi lại tinh thần, ổn định sản xuất., phát huy quyền tự
chủ về tài chính, tránh thiệt hại về kinh tế cho chủ xe.
- Có tác dụng giúp cho chủ xe có ý thức trong việc đề ra các biện pháp hạn chế, ngăn
ngừa tai nạn băng cách thông qua bảo hiểm TNDS của chủ xe.
- Góp phần xoa dịu, làm giảm bớt căng thẳng giữa chủ xe và người bị nạn. Đây là mục
đích cao cả trong nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với người thứ ba.
b. Đối với người thứ ba.
- Thay mặt người thứ ba bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ. Vì khi chủ xe gây tai nạn
thì công ty thay mặt của xe bồi thường những thiệt hại cho nạn nhân một cách nhanh
chóng, kịp thơì mà không phụ thuộc vào tài chính của xe.
- BHTNDS cũng giúp cho người thứ ba ổn định về mặt tài chính và về mặt tinh thần,
trành gẩya căng thẳng hay sự cố bất thường từ phía của nhà người bị hại (trong trường
hợp người thứ ba bị chết).
c. Đối với xã hội.
- Từ công tác giám định cũng như công tác bồi thường sau mỗi một vụ tai nạn, công ty
bảo hiểm sẽ thống kê được các rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro để từ đó đề ra biện
pháp đề phòng hạn chế tổn thất một cách hiệu quả nhất, giảm bớt những đáng kể do hậu
quả tai nạn giao thông gây ra cho mỗi người, giảm bớt thiệt hại cho toàn xã hội. Đây là

có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba thì đối tượng
này mới được xác định cụ thể.
Điều kiện để phát sinh bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Thông thường phải có đủ bốn điều kiện sau:
- Điều kiện thứ nhất: Phải có thiệt hại về tài sản, tính mạng hay sức khoẻ của bên thứ ba.
- Điều kiện thứ hai: Chủ xe (lái xe) phải có hành vi trái pháp luật. Có thể do vô tình hay
cố ý mà lái xe vi phạm luật giao thông đường bộ, hoặc vi phạm quy định khác của Nhà
nước
- Điều kiện thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả của hành vi trái pháp luật của chủ xe
(lái xe) với những thiệt hại của người thứ ba.
- Điều kiện thứ tư: Chủ xe (lái xe) phải có lỗi.
Thực tế chỉ cần thực hiện ba điều kiện thứ 1,2,3 là phát sinh trách nhiệm dân sự đối với
người thứ ba của chủ xe (lái xe). Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên trách nhiệm dân
sự của chủ xe sẽ không phát sinh, và do đó sẽ không phát sinh trách nhiệm của bảo hiểm.
Điều kiện thứ tư có thể có hoặc có thể không vì nhiều khi tai nạn xảy ra là do tính nguy
hiểm cao độ của xe cơ giới mà không hoàn toàn do lỗi của chủ xe. Ví dụ ôtô đang chạy
với tốc độ lớn trên đường thì bị làm văng lốp xe ra ngoài làm bắn vào người đi đường
5/21


gây tai nạn chết người. Trong trường hợp này trách nhiệm dân sự có thể phát sinh nếu
có đủ 3 điều kiện đầu tiên.
Trong BHTNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, khi xảy ra tai nạn thiệt hại cho
người thứ ba thì người được bảo hiểm bồi thường là chủ xe hoặc người đi diện chi chủ
xe được pháp luật công nhận.
Người thứ ba của BHTNDS chủ xe cơ giới có thể là người đi bộ hay đi xe đạp hoặc các
phương tiện cơ giới khác nhưng không bao gồm những trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra do bản thân phương tiện được bảo hiểm.
- Thiệt hại về tính mạng sức khoẻ xảy ra do bản thân người được bảo hiểm, người điều
khiển xe hay bất kỳ người nào khác đi trên cư.

hiểm có thẻ mở rộng phạm vi bảo hiểm của mình cho những rủi ro khác. Những bảo đảm
bổ xung xong BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba kéo theo một khoản phí
đóng thêm của người khác được bảo hiểm.
b. Các rủi ro loại trừ: theo điều 13 chương II QĐ 299/1998/QĐ - BTC.
Người được bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các vụ tai nạn
mặc dù có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe trong các trường hợp sau:
- Tai nạn xảy ra do hành động xấu, cố ý của chủ xe, lái xe.
- Tai nạn xảy ra do hành động xấu, cố ý của người thứ ba.
- Xe không có giấy phép lưu hành.
- Lái xe chưa đủ tuổi lái xe theo quy định của pháp luật.
- Lái xe không có bằng lái hoặc có những không hợp lệ hoặc bằng lái xe bị đình chỉ hay
tạm giữ.
- Điều khiển xe trong tình trạng say rượu, bia, ma tuý, hay các chất kcíh thích tương tự
khác...
- Lái xe sử dụng không được sự đồng ý của chủ xe.
- Xe được sử dụng để chuyên chở chất cháy, chất nổ trái phép.
- Xe trở quá trọng tải hoặc quá số khách quy định.
- Xe có hệ thống lái ben phải.
- Xe sử dụng để tập lái hoặc đua thể thao.
- Xe đang sửa chữa hay đang trong thời gian chạy thử sau khi sửa chữa.

7/21


- Xe không đủ điều kiện kỹ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành.
- Đồ vật trở trên xe rơi xuống đường gây thiệt hại cho người thứ ba.
- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp, bị cướp trong tai nạn.
- Thiệt hại đối với người không phải là người thứ ba như đã nêu ở phần đối tượng bảo
hiểm.
- Thiệt hại gián tiếp do xe bị tai nạn làm ngưng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm

tai nạn khác nhau. Do đó phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc
nhóm phương tiện) tuỳ theo mỗi đầu phương tiện.
b. Phương pháp tính phí.
Do phí BHTNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba được thu theo mỗi đầu phương
tiện hay thu theo số lượng mỗi loại phương tiện hoạt động. Các phương tiện khác nhau
có xác suất gây ra tai nạn khác nhau. Nên phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại
phương tiện (thường tính theo năm) là:
P =f +d.
Trong đó: p - phí bảo hiểm/phương tiện.
f - phí thuẩn.
d - phụ phí.
Phí thuần được xác định theo công thức.
F=

9/21


Trong đó: Si - số vụ tai nạn xảy ra có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe được bảo
hiểm bồi thường trong năm i.
Ti - số tiền bồi thường bình quân một vụ tai nạn trong năm i/
Ci - số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong năm i.
n - số năm thống kê thường từ 3 -5 năm i = (1,n)
Như vậy thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n năm cho mỗi đầu
phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó.
Ở Việt Nam thì phụ phí thường từ 20% - 30% phí cơ bản.
d=
Đây là cách tính bảo hiểm cho các phương tiện giao thông thông dụng trên cơ sở quy
luật số đông. Đối với các phương tiện không thông dụng, mức độ rủi ro lớn hơn như kéo
rơmooc, xe chở hàng nặng... thì tính thêm tỷ lệ phụ phí so với mức phí cơ bản.
Đối với các phương tiện hoạt động ngắn (dưới 1 năm) thời gian tham gia bảo hiểm được

- Ngoài ra: Những lái xe không có kinh nghiệm, không thuộc đường, không thuộc các
biển báo xe trên các trục lộ đường. Trước khi tham gia bảo hiểm chủ xe không khai báo
tiền sử các vụ tai nạn đã xảy ra trước đây để công ty bảo hiểm còn biết có nên ký hợp
đồng bảo hiểm với chủ xe hay bị tai nạn giao thông hoặc tăng mức phí nếu nhà bảo hiểm
yêu cầu.

11/21


Trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham
gia
a. Trách nhiệm và quyền lợi của chủ xe cơ giới.
* Trách nhiệm của chủ xe cơ giới: theo điều 8 chương I QĐ số 299/1998/QĐ - BTC thì
chủ xe cơ giới phải thực hiện như sau:
- Thứ nhất: Khi yêu cầu bảo hiểm, chủ xe cơ giới phải kê khai đầy đủ và trung thực
những nội dung trong giấy yêu cầu bảo hiểm và đóng phí boả hiểm.
- Thứ hai: Khi tia nạn giao thông xảy ra, chủ xe cơ giới phải có trách nhiệm:
+ Cứu chữa, hạn chế thiệt hại về tài sản, bảo vệ hiện trường tai nạn, báo ngay cho cảnh
sát giao thông nơi gần nhất để phối hợp giải quyết tai nạn. Trừ khi có một số lý do chính
đáng, trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn, chủ xe cơ giới phải gửi cho doanh
nghiệp bảo hiểm giấy báo tai nạn ghi rõ (ngày giờ, địa điểm xảy ra tia nạn, giấy đăng ký
giấy thông báo tai nạn,họ ten chủ xe, lái xe, nguyên nhân tai nạn và biện pháp xử lý ban
đầu...).
+ Không được di chuyển tháo dỡ hoặc sửa chữa tài sản khi chưa có ý kiến của doanh
nghiệp bảo hiểm, trừ trường hợp làm như vậy là cần thiết để đảm bảo an toàn coh người
và tài sản hoặc phải thi hành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
- Thứ ba: Bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho doanh nghiệp
bảo hiểm trong phạm vi số tiền đã bồi thường kèm theo toàn bộ chứng từ có cần thiế
liên quan tới trách nhiệm của người thứ ba.
- Thứ tư: Chủ xe cơ giới phỉa trung thực trong việc thu thập và cung cấp các tài liệu,

giấy yêu cầu bảo hiểm. Nếu qua xác minh thấy vụ tai nạn thuộc phạm vi trách nhiệm
của công ty thì công ty xúc tiến các công việc như sau:
+ Phối hợp với công an, cảnh sát giao thông tiến hành giám định hiện trường, xác định
mức lỗi của mỗi bên.
+ Tranh thủ ý kiến của chủ xe và lời khai báo của nhân chứng qua tờ khai tai nạn kết
hợp với hiện trường nghiên cứu các tài liệu cần thiết và xem xét lại một lần nữa nguyên
nhân tai nạn.
+ Tiến hành xác định minh thiệt hại đối với người thứ ba.
- Sau khi giám định xong công ty bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường coh người
bị hại khi rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm theo phần lỗi của chủ xe (bồi thường thiệt hạ
về người, về tài sản).

13/21


- Các công ty bảo hiểm phải có các biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất, xây dựng cải
tạo đường xá cầu cống, hoàn chỉnh hệ thống đèn báo, biển báo giao thông. Ngoài ra còn
giáo dục ý thức cho chủ xe (lái xe) thực hiện tốt an toàn giao thông.
* Quyền lợi của công ty bảo hiểm.
- Công ty bảo hiểm được phép sử dụng phí bảo hiểm để sử dụng các mục đích của mình
(chi bồi thường, chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi các hoạt động đầu tư).
- Nhà bảo hiểm có quyền giám sát thực hiện đề phòng, ngăn ngừa tai nạn chủ xe hoặc
các bên có liên quan trong việc tục lơi bảo hiểm (lập hồ sơ giả, khai báo không trung
thực...).

14/21


Công tác giám định và giải quyết bồi thường
a. Thiệt hại của ben thứ ba: theo quy định của pháp luật việc xác định mức độ thiệt hại



- Trong trường hợp nạn nhân bị chết.
+ Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc, cứu chữa cho người thứ ba trước khi chết (xác định
tương tự như ở phần thiệt hại về sức khoẻ).
+ Chi phí hợp lý cho việc mai táng người thứ ba (những chi phí do hủ tục sẽ không được
thanh toán).
+ Tiền trợ cấp cho những người mà người thứ ba phải cung cấp nuôi dưỡng (vợ, cồng,
con cái... đặc biệt trong trường hợp người thứ ba là lao động chính trong gia đình).
Khoản tiền trợ cấp này được xác định tuỳ theo quy định của mỗi quốc gia, tuy nhiên sẽ
được tăng thêm nếu hoàn tcảnh gia đình thực sự khó khăn.
b. Tính toán mức bồi thường của người gây thiệt hại.
+ Mức độ lỗi của người gây thiệt hại.
+ Thiệt hại thực tế của bên thứ ba.
Công thức xác định mức bồi thường.
Trách nhiệm bồi thường = lỗi của người gây thiệt hại x thiệt hại của bên thứ ba.
Trường hợp cả hai bên đều gây thiệt hại và bên thiệt hại cùng có lỗi thì bên gây thiệt hại
vẫn phải bồi thường phù hợp với mức lỗi của họ. Nếu hai xe đâm nhau với bên với mức
lỗi ngang nhau thì bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho mỗi bên với mức bằng 50%
thiệt hại của bên kia.
Trong trường hợp chủ xe còn có một bên thứ khác cùng có lỗi gây ra tai nạn đó:
Số tiền bồi thường = (lỗi của chủ xe + lỗi của chủ xe khác) x thiệt hại của bên thứ ba.
Việc bồi thường được tính theo thực tế thiệt hại bao nhiêu thì bồi thường bấy nhiêu,
nhưng số tiền bồi thường tối đa không vượt quá số tiền bảo hiểm đã ghi trên giấy chứng
nhận bảo hiểm.
- Nếu hai cùng một chủ đâm và nhau và hai xe đều bị thiệt hại đồng thời gây thiệt hại
cho người đi đường thì phần thiệt hại của hai xe không phát sinh trách nhiệm bồi thường
của bảo hiểm. Nhưng phần thiệt hại của người đi đường lại phát sinh trách nhiệm dân sự
do đó bảo hiểm sẽ bồi thường theo thiệt hại thực tế.
- Nếu hai hay nhiều xe cùng gây thiệt hại cho một hoặc một số người thì các công ty bảo

thường cho chủ xe theo yêu cầu của họ bồi thường trực tiếp cho nạn nhân.
Số tiền bồi thườg = thiệt hại thực tế của bên thứ ba x lỗi của chủ xe.

17/21


Trường hợp tai nạn xảy ra do lỗi cua rmột người nào đó sau khi bồi thường nhà bảo hiểm
sẽ thay mătj chủ xe khiếu nại người có lỗi này. Nhà bảo hiểm sẽ từ chối bồi thường nếu
có bằng chứng chứng minh được sự thông đồng gian lận giữa nạn nhân và người được
bảo hiểm.
Việc bồi thường của nhà bảo hiểm được tiên shành trong một lần, tuy nhiên óc những
trường hợp để giảm bớt những khó khăn về tài chính cho chủ xe, nhà bảo hiểm có thể
cho chủ xe ứng trước một số tiền bồi thường. Sau khi đã hoàn chỉnh hồ sơ, tính toán số
tiền bồi thường cụ thể, nhà bảo hiểm sẽ trừ đi số tiền mà chủ xe đã ứng trước đây.
Trường hợp bảo hiểm trùng, người được bảo hiểm có thể được quyền lợi từ các hợp
đồng đã ký, xong số tiền bồi thường không vượt quá mức trách nhiệm bồi thường của
người được bảo hiểm đối vơí người thứ ba.
Ngoài ra nhà bảo hiểm có thể bồi thường trợ cấp tối đa không vượt quá 50% mức trách
nhiệm của chủ xe đã tham gia đối với những trường hợp xe không gây tai nạn có thể
tham gia bảo hiểm nhưng không thuộc phạm vi bảo hiểm như:
+ Lái xe không có bằng lái hợp lệ.
+ Xe chở quá trọng tải hoặc sóo hành khách quy định...
Nói chung, trách nhiệm của các công ty bảo hiểm là giúp đỡ các đơn vị, chủ xe có tai
nạn xảy ra, động viên thường xuyên có khen thưởng xứng đáng đối với những đơn vị
thực hiện tốt công tác phòng ngừa, hạn chế tổn thất. Đồng thời công ty bảo hiểm là
người đảm bảo thanh toán, bồi thường chính xác đầy đủ, kịp thời. Bảo hiểm luôn phối
hợp cùng với các cơ quan chức năng thực hiện tuyên truyền giác ngộ người tham gia
bảo hiểm cũng như việc chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, thực hiện.

18/21

Chương trình Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (Vietnam Open Educational Resources
– VOER) được hỗ trợ bởi Quỹ Việt Nam. Mục tiêu của chương trình là xây dựng kho
Tài nguyên giáo dục Mở miễn phí của người Việt và cho người Việt, có nội dung phong
phú. Các nội dung đểu tuân thủ Giấy phép Creative Commons Attribution (CC-by) 4.0
do đó các nội dung đều có thể được sử dụng, tái sử dụng và truy nhập miễn phí trước
hết trong trong môi trường giảng dạy, học tập và nghiên cứu sau đó cho toàn xã hội.
Với sự hỗ trợ của Quỹ Việt Nam, Thư viện Học liệu Mở Việt Nam (VOER) đã trở thành
một cổng thông tin chính cho các sinh viên và giảng viên trong và ngoài Việt Nam. Mỗi
ngày có hàng chục nghìn lượt truy cập VOER (www.voer.edu.vn) để nghiên cứu, học
tập và tải tài liệu giảng dạy về. Với hàng chục nghìn module kiến thức từ hàng nghìn
tác giả khác nhau đóng góp, Thư Viện Học liệu Mở Việt Nam là một kho tàng tài liệu
khổng lồ, nội dung phong phú phục vụ cho tất cả các nhu cầu học tập, nghiên cứu của
độc giả.
Nguồn tài liệu mở phong phú có trên VOER có được là do sự chia sẻ tự nguyện của các
tác giả trong và ngoài nước. Quá trình chia sẻ tài liệu trên VOER trở lên dễ dàng như
đếm 1, 2, 3 nhờ vào sức mạnh của nền tảng Hanoi Spring.
Hanoi Spring là một nền tảng công nghệ tiên tiến được thiết kế cho phép công chúng dễ
dàng chia sẻ tài liệu giảng dạy, học tập cũng như chủ động phát triển chương trình giảng
dạy dựa trên khái niệm về học liệu mở (OCW) và tài nguyên giáo dục mở (OER) . Khái
niệm chia sẻ tri thức có tính cách mạng đã được khởi xướng và phát triển tiên phong
bởi Đại học MIT và Đại học Rice Hoa Kỳ trong vòng một thập kỷ qua. Kể từ đó, phong
trào Tài nguyên Giáo dục Mở đã phát triển nhanh chóng, được UNESCO hỗ trợ và được
chấp nhận như một chương trình chính thức ở nhiều nước trên thế giới.

21/21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status