A.
LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn
và dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu, người ta vẫn có thể phải gánh chịu
những rủi ro tổn thất bất ngờ. Bảo hiểm có vai trò như một công cụ an toàn thực
hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho xã hội, góp phần ổn định
và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Sự có mặt của các công ty bảo
hiểm thời gian qua đã góp phần tạo nên một thị trường cạnh tranh sống động
giàu tiềm năng, hoạt động bảo hiểm đã đi vào đời sống xã hội khá sâu rộng,
song cũng từ đây, những tranh chấp phát sinh cũng khiến dư luận có cái nhìn
khác nhau về hoạt động bảo hiểm. Mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm và khách
hàng được thể hiện thông qua bản hợp đồng. Khi phát sinh tranh chấp, hợp đồng
là cơ sở pháp lý quan trọng nhất. Tuy nhiên, không ít nội dung, chi tiết trong
hợp đồng đã đẩy khách hàng vào thế bại. Luật Kinh doanh bảo hiểm đã được
ban hành từ 9/12/2000 và đã phát huy tác dụng tích cực của nó. Tuy nhiên,
trong thực tế thi hành, các doanh nghiệp và những cá nhân, tổ chức tham gia thị
trường bảo hiểm còn chưa thật sự nắm vững các quy định của pháp luật trong
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Đã có nhiều vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
xảy ra mà các bên không thể tìm ra cách giải quyết thoả đáng.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm chung
1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
Theo điều 12 Luật kinh doanh bảo hiểm: Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận
giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm
phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho
người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện
bảo hiểm
2. Chủ thể và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm
quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho hoạt động kiểm tra của các cơ quan
hành pháp.
Ngoài ra luật kinh doanh bảo hiểm quy định thêm các hình thức như điện
báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định. Quy định này đó đã
góp phần đa dạng hóa các loại hợp đồng bảo hiểm được ký kết qua các phương
tiện ngày càng hiện đại. Tuy nhiên luật kinh doanh bảo hiểm đã không quy định
rõ các hình thức như điện báo, telex, fax và các hình thức do pháp luật quy định
có là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm như đơn bảo hiểm, giấy chứng
nhận bảo hiểm. Nên chăng luật kinh doanh bảo hiểm cũng cần khẳng định rõ
các hình thức như điện báo, telex, fax và các hình thức khác chỉ là hình thức thể
hiện của giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm, còn bằng chứng giao
kết hợp đồng bảo hiểm vẫn là giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm.
Ngoài ra trên thực tế một số doanh nghiệp bảo hiểm có cung cấp cho khách
hàng giấy chứng nhận bảo hiểm tạm thời sử dụng ở thời điểm khách hàng đã
đồng ý giao kết hợp đồng, doanh nghiệp đang trong quá trình thẩm định hồ sơ.
2
Tác dụng của giấy chứng nhận bảo hiềm tạm thời là công ty bảo hiểm tạm thời
bảo hiểm cho khách hàng ở một phạm vi nhất định (thường nhở hơn phạm vi
bảo hiểm theo hợp đồng) trong thời gian thẩm định hồ sơ yêu cầu bảo hiểm. Xu
hướng sử dụng giấy chứng nhận bảo hiểm tạm thời sẽ ra tăng nhất là trong lĩnh
vực bảo hiểm nhân thọ bởi công ty luôn mong muốn khách hàng của mình có
cảm giác được bảo vệ ngay từ khi đồng ý giao kết hợp đồng và đóng phí bảo
hiểm lần đầu. Vì vậy pháp luật nên quy định rõ về giá trị pháp lý cũng như
phạm vi sử dụng giấy tờ này.
II.Quy định của pháp luật về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
của doanh nghiệp bảo hiểm
Việc xác định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của DNBH đóng vai
trò hết sức quan trọng. Đây chính là mốc thời gian mà DNBH phải thực hiện
sinh trách nhiệm bảo hiểm trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác trong hợp
đồng. Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia nộp cho công ty bảo hiểm
để bảo hiểm cho những rủi ro mà họ tham gia. Quy định trên của LKDBH là
hoàn toàn phù hợp xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, về phương diện kinh tế, để thực hiện được hoạt động kinh doanh
bảo hiểm, DNBH phải bỏ ra những chi phí nhất định. Các chi phí này bao gồm
hai phần cơ bản đó là khoản tiền mà DNBH phải chi trả cho bên mua bảo hiểm
khi họ thuộc trường hợp bảo hiểm và khoản tiền mà DNBH phải bỏ ra để thực
hiện hoạt động kinh doanh như chi phí ký kết hợp đồng, chi phí quản lý, thuế
nộp cho ngân sách nhà nước... Để bù đắp những chi phí mà mình bỏ ra cũng
như đảm bảo yếu tố lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của mình, khi tiến
hành cấp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, DNBH được quyền yêu cầu bên
mua bảo hiểm nộp cho họ phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm chính là khoản tiền mà
bên mua bảo hiểm phải trả cho việc nhận cung ứng dịch vụ bảo hiểm từ DNBH,
hay nói một cách khác, phí bảo hiểm là giá cả của sản phẩm bảo hiểm.
Về nguyên tắc, phí bảo hiểm phải đủ để:
+ DNBH thực hiện cam kết bồi thường cho các khiếu nại dự kiến phát sinh
trong thời gian bảo hiểm. DNBH chỉ có thể ước tính số tiền khiếu nại trong kỳ,
chứ không thể tính toán được chính xác số tiền sẽ phải bồi thường. Tuy nhiên,
bởi vì có nhiều người tham gia bảo hiểm nên DNBH có thể dự kiến được số
tiền có thể phải bồi thường dựa vào xác suất rủi ro đối với từng nghiệp vụ bảo
hiểm.
+ Dự trữ một khoản tiền nhất định để thanh toán các khiếu nại còn tồn đọng (là
những khiếu nại đã phát sinh nhưng chưa giải quyết). Sở dĩ, DNBH phải tính
toán đến điều này vì không phải tất cả các khiếu nại đều có thể được thanh toán
dứt điểm ngay, vì vậy, phí bảo hiểm cũng phải tính toán đến yếu tố này.
+ Trích lập quỹ dự phòng tổn thất lớn, là những tổn thất nghiêm trọng vượt quá
khả năng kiểm soát của DNBH, chẳng hạn như các tổn thất do thiên tai, dịch
bệnh...
4
đồng bảo hiểm đã được giao kết
Theo quy định tại điều 14 luật kinh doanh bảo hiểm quy định: Hợp đồng bảo
hiểm phải được lập thành văn bản.Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là
giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức
khác do pháp luật quy định.”
Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm đồng ý bảo
hiểm (thể hiện qua việc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm). Nhưng
5
đồng ý bảo hiểm khác hoàn toàn với việc phát sinh trách nhiệm bảo hiểm. Cụ
thể, đồng ý bảo hiểm trong bảo hiểm thể hiện doanh nghiệp bảo hiểm có đủ
điều kiện để cấp bảo hiểm, tuy nhiên nếu doanh nghiệp bảo hiểm đồng ý bảo
hiểm nhưng bên mua bảo hiểm chưa đóng phí thì không thể phát sinh trách
nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm được. Bởi vì, hợp đồng bảo hiểm chỉ được
coi là có hiệu lực pháp lý khi nó thể hiện ý chí tham gia vào hợp đồng của cả
hai bên. Nếu bên mua bảo hiểm chưa đóng phí thì điều đó có nghĩa là bên mua
bảo hiểm chưa thể hiện ý chí tham gia hợp đồng. Hơn nữa, bản chất kinh tế của
phí bảo hiểm là khoản tiền mà người mua bảo hiểm đóng góp vào quỹ bảo hiểm
để doanh nghiệp bảo hiểm chi trả bảo hiểm, do vậy, nếu người mua bảo hiểm
chưa đóng phí, thì không có cơ sở kinh tế để doanh nghiệp bảo hiểm bồi
thường. Còn xét ở góc độ pháp lý, khi người mua bảo hiểm chưa thực hiện
nghĩa vụ thì cũng không thể được hưởng quyền. Như vậy, có thể khẳng định,
thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm là thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm
chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm.
Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói chung được Bộ luật dân sự
2005 quy định tại Điều 405 như sau: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu
lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có
quy định khác.” Theo quy định này thì thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng
dân sự được xác định theo một trong ba căn cứ: Theo thời điểm giao kết của
hành đóng phí thì cũng chưa thể hiện ý chí tham gia hợp đồng của bên mua bảo
hiểm (nếu không có thỏa thuận về gia hạn đóng phí) do vậy chưa thể coi đây là
thời điểm phát sinh hiệu lực pháp lý của hợp đồng.
2. Thời hạn bảo hiểm
Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian được xác định theo hợp đồng bảo
hiểm bằng điều khoản quy định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thức hiệu lực
bảo hiểm, mà trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm
chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm nếu
xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời hạn bảo hiểm có thể được tính theo ngày hoặc có
thể được tính theo sự kiện. Nếu tính theo ngày thì thời điểm bắt đầu của thời
hạn bảo hiểm được tính từ 0 giờ của ngày bảo hiểm đầu tiên theo dương lịch
(ngày tiếp theo ngày hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực). Nếu được tính theo sự
kiện thì thời điểm bắt đầu của thời hạn bảo hiểm chính là thời điểm bắt đầu của
sự kiện. Thông thường, thời hạn bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản
là một năm. Thời hạn bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là 5 năm,
10 năm, 20 năm hoặc suốt đời. Thời hạn bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm
thiệt hại khác như bảo hiểm công trình xây dựng, bảo hiểm hàng hoá vận
chuyển, bảo hiểm hành khách thường được xác định theo lộ trình công việc đó
Nếu thời hạn của hợp đồng bảo hiểm là căn cứ để xác định mối liên hệ pháp lý
về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thì thời hạn bảo hiểm là căn
cứ để xác định một rủi ro, thiệt hại được coi là một sự kiện được bảo hiểm.
Thông thường, một rủi ro xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm sẽ là sự kiện được bảo hiểm nhưng cũng có rất nhiều trường hợp không
7
phải là sự kiện bảo hiểm nếu xem xét trong mối liên hệ nói trên. Vì thế, việc xác
định chính xác thời hạn bảo hiểm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
quyền được hưởng bảo hiểm hay không của người được bảo hiểm đồng thời
cũng là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
8
* Không chấp nhận việc tăng phí bảo hiểm khi bên bảo hiểm tính lại phí bảo
hiểm trên do có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm dẫn
đến tăng các rủi ro được bảo hiểm.
* Bên tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không tiếp tục đóng phí bảo hiểm
sau 60 ngày kể từ ngày gia hạn đóng phí thì hợp đồng bảo hiểm này đương
nhiên bị coi là chấm dứt kể từ thời điểm hết thời hạn của gia hạn đóng phí.
(Trong trường hợp thời gian đã đóng phí bảo hiểm chưa đủ hai năm).
* Người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp an toàn cho đối tượng
bảo hiểm và bên bảo hiểm đã ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm
thực hiện các biện pháp đó nhưng hết thời hạn mà các biện pháp đó vẫn không
được thực hiện thì hợp đồng bảo hiểm bị chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm bên
tham gia bảo hiểm đã nhận được thông báo bằng văn bản của bên bảo hiểm về
việc chấm dứt hợp đồng.
- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi hợp đồng bị huỷ bỏ.
+ Bên tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã đóng phí bảo hiểm được từ hai
năm trở lên và không tiếp tục đóng phí bảo hiểm sau 60 ngày kể từ ngày gia hạn
đóng phí thì hợp đồng bảo hiểm này chấm dứt kể từ khi bên bảo hiểm thực hiện
việc chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, bên bảo hiểm phải trả cho bên mua giá trị
hoàn lại của hợp đồng (giá trị giải ước). Ta nói rằng trường hợp này chính là
huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm.
+ Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi đối tượng được bảo hiểm không còn.
Khi tài sản được bảo hiểm bị mất hoặc bị huỷ hoại toàn bộ. Tài sản bị mất hoặc
bị huỷ hoại có thể chính là sự kiện bảo hiểm, có thể không thuộc sự kiện bảo
hiểm trong một hợp đồng. Chẳng hạn, trong các hợp đồng bảo hiểm trộm cắp,
nếu tài sản bị mất do trộm cắp là sự kiện bảo hiểm, nhưng nếu tài sản bị huỷ
hoại thì không thuộc sự kiện bảo hiểm. Tuy nhiên, theo nguyên tắc chung thì
hợp đồng được coi là chấm dứt tại thời điểm tài sản được bảo hiểm không còn.
luật có liên quan.
Theo quy định tại điều 137 Bộ luật dân sự 2005 thì giao dịch dân sự vô hiệu
không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các
bên kể từ thời điểm xác lập. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên phải khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận… và bên có lỗi
gây thiệt hại phải bồi thường.
III. Thực tế về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm liên quan đến vấn đề xác
định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
Thời gian gần đây, liên tục xảy ra nhiều vụ tranh chấp bồi thường bảo
hiểm giữa các công ty bảo hiểm và khách hàng, vì lý do khách hàng chậm nộp
phí bảo hiểm. Đây không phải là vấn đề mới phát sinh, mà thực tế nhiều công
ty bảo hiểm đã từng rơi vào trường hợp tương tự.
ĐTCK từng có nhiều bài viết phản ánh về những vụ tranh chấp này như vụ
Công ty Công nghiệp tàu thủy Dung Quất kiện Bảo Minh hay gần đây là Công
ty Nishu Nam Hà kiện Bảo hiểm Hàng không (VNI) ra tòa vì không chịu bồi
thường . Vấn đề cũng phát sinh từ việc chậm đóng phí bảo hiểm .
10
Tình huống 1. Công ty CP Bảo hiểm Hàng Không (VNI) đang phải đối mặt
với một vụ “đáo tụng đình” do từ chối bồi thường tổn thất cháy nhà xưởng
sản xuất sơn của Công ty Cổ phần NISHU Nam Hà, xảy ra đêm ngày
03/01/2011 tại Khu Công nghiệp Đồng Văn, Duy Tiên, Hà Nam.
Ngày 18/8/2009 NISHU Nam Hà đã ký các Hợp đồng bảo hiểm hoả hoạn và
các rủi ro đặc biệt số 040900277 cho cùng tài sản là: nhà xưởng, máy móc thiết
bị và nguyên vật liệu sản xuất với Công ty CP Bảo hiểm Hàng Không (VNI).
Ngày 18/8/2010, hợp đồng số 040900277 hết hạn,VNI đề nghị NISHU Nam Hà
ký hợp đồng tái tục và làm các thủ tục để ký tiếp hợp đồng. Do NISHU Nam Hà
có một số tài sản đã thế chấp cho ngân hàng để vay vốn, do đó ngân hàng yêu
cầu tách các hợp đồng bảo hiểm để ngân hàng là đơn vị thụ hưởng đối với
081000587) và ngày 22/10/2010 (đối với HĐ số 081000670) vậy mà ngày
11/11/2010 VNI vẫn phát hành hóa đơn thu phí bảo hiểm số 0012570 và
0012571 đề nghị Nishu Nam Hà thanh toán phí bảo hiểm.
NISHU Nam Hà đã đóng phí bảo hiểm ngày 14/12/2010 trước ngày xảy ra sự
kiện bảo hiểm, Trong hồ sơ gửi tòa án Thành phố Hà Nội, có công văn số 03
của VNI được ký bởi ông Vũ Mạnh Hà –Phó trưởng VPKV5 của VNI ngày
20/12/2011 và chỉ rõ, bằng công văn này, VNI thông báo về việc các HĐ đã
chấm dứt hiệu lực và bị hủy bỏ. Thế nhưng trên thực tế ( căn cứ dấu bưu điện)
thì Nishu nhận được công văn này vào ngày 31/1/2011 ( sau khi xảy ra vụ cháy
tại xưởng của Nishu Nam Hà ngày 4/1/2011). Sau đó, ngày 5/4/2011 VPKV5
của VNI cũng đã có công văn 377 từ chối bồi thường bảo hiểm.
Trong trường hợp này, các hợp đồng bảo hiểm NISHU Nam Hà ký với VNI đã
có hiệu lực đầy đủ vào thời điểm VNI phát hành hóa đơn thu phí bảo hiểm và
nhận phí bảo hiểm. Thiệt hại thực tế xảy ra đối với tài sản (nhà xưởng sản xuất,
máy móc thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất sơn) do hậu quả của vụ cháy thuộc
phạm vi bảo hiểm theo các Hợp đồng bảo hiểm đã ký. Vụ cháy thuộc rủi ro
được bảo hiểm và không thuộc điều khoản loại trừ bảo hiểm. Do vậy, theo điều
15 luật kinh doanh bảo hiểm thì VNI phải có trách nhiệm bồi thường cho
NISHU Nam Hà, việc VNI đưa ra lý do chậm nộp phí (căn cứ vào ngày ký hợp
đồng, không căn cứ vào giao dịch hợp đồng thực tế) trong khi vẫn nhận tiền,
phát hành hóa đơn cho đơn vị mua bảo hiểm (mà không đề nghị ký lại hợp đồng
hay làm thêm phụ lục) là không công bằng, không đúng tinh thần Luật kinh
doanh bảo hiểm
Tình huống
Tháng 3.2009, VFC ký hợp đồng mua tour du lịch Thái Lan với Công ty
TNHH dịch vụ du lịch Lễ hội (CT.A ). Theo hợp đồng, CT.A bán tour cho 26
nhân viên của VFC (Trong đó có anh P) đi du lịch Thái Lan (5 ngày, 4 đêm, từ
26 - 30.3.2009), giá trọn gói là 273 USD/khách, bao gồm bảo hiểm du lịch quốc
tế do Công ty bảo hiểm B (BHVĐ) cấp.
Ngày 24.3.2009 BHVĐ đã cấp giấy chứng nhận bảo hiểm cho đoàn khách của
(theo cách hiểu của họ là cứ mỗi 3 tháng một lần) chứ không phải tính theo quý
như được hiểu trong cách tính lịch thông thường (tháng 1 đến tháng 3 là hết
quý 1,…) nên thay vì thanh toán phí vào ngày 5.04.2009 ( theo tinh thần thoả
thuận là thanh toán phí bảo hiểm được thực hiện theo quý “từ ngày 1 đến 5 của
quý sau”) thì lại đợi đến tháng 05.06.2009 mới thanh toán (sau gần 3 tháng (1
quý) kể từ 24/03/2009 - thời điểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm ). BHB đã
cho rằng bên B vi phạm nghĩa vụ thanh toán đúng hạn nên không chấp nhận
bồi thường.
13
Theo quy định tại khoản 2, điều 23 và khoản 2, điều 24, hợp đồng bảo hiểm
chấm dứt hiệu lực nếu bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán và thời
điểm vi phạm nghĩa vụ thanh toán cũng chính là thời điềm chấm dứt hiệu lực
hợp đồng BH. Bên mua bảo hiểm phải có trách nhiệm thanh toán phí bảo hiểm
cho đến thời điềm hợp bảo hiểm chấm dứt hiệu lực, trừ trường hợp hai bên có
thỏa thuận khác. Tuy nhiên việc BHB vẫn nhận phí bảo hiểm trọn gói cho toàn
bộ chuyến đi và không hoàn lại số phí BH “dư” tính từ thời điểm hợp đồng
chấm dứt hiệu lực trở về sau là không hợp lý.
Đây là tour du lịch ngắn hạn (26 – 30.03.2009) nhưng hai bên lại thỏa thuận
phương thức thanh toán bằng cách: hằng tháng BHVĐ và CT.A đối chiếu, xác
nhận phí bảo hiểm phát sinh trong tháng …và thanh toán theo quý. Với quy
định này, áp dụng cho chuyến du lịch ngắn hạn sẽ không hợp lý ở chỗ: phí bảo
hiểm cho 5 ngày du lịch không thể đối chiếu, xác nhận theo tháng và thanh toán
theo quý được. Tuy nhiên nếu hợp đồng không thể hiện nội dung thỏa thuận,
chú thích các trường hợp riêng áp dụng cho tour của anh P thì trách nhiệm giải
thích hợp đồng của BHVĐ phải được xem xét theo quy định và mọi giải thích
nội dung hợp đồng đều phải thực hiện theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm
(Điều 21 luật kinh doanh bảo hiểm).
Tóm lại: dù sự việc diễn biến theo chiều hướng nào thì người bị bất lợi đầu tiên
www.phapluatvn.vn
15
MỤC LỤC
A. LỜI NÓI ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm chung
1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
2. Chủ thể và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng bảo hiểm
3. Một số hình thức liên quan đên hợp đồng bảo hiểm
II.Quy định của pháp luật về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
của doanh nghiệp bảo hiểm
1. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm
2. Thời hạn bảo hiểm
3. Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt
4. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu
III. Thực tế về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm liên quan đến vấn đề xác
định thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm
C. KẾT LUẬN
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
ĐỀ BÀI SỐ 7. Tìm hiểu về thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của
doanh nghiệp bảo hiểm. Phân tích một tình huống thực tế về tranh chấp hợp
đồng bảo hiểm liên quan đến vấn đề xác định thời điểm phát sinh trách
nhiệm bảo hiểm
Bài Làm
16