Bài tập học kì – Luật Lao động
I. Các quy định về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp.
Các quy định về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp gây ra cho
người sử dụng lao động được quy định tại điều 179 BLLĐ, nghị định 11/2008/NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 30/10/2008 và thông tư liên tịch số 07/2008/TTLTBLĐTBXH-BTC ban hành ngày 30/5/2008 hướng dẫn thực hiện nghị định
11/2008/NĐ-CP.
1. Điều kiện để được bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp.
Việc bồi thường được chia làm hai trường hợp đó là bồi thường cho người sử
dụng lao động và bồi thường cho người lợi dụng cuộc đình công để cố ý xâm phạm
tài sản của doanh nghiệp. Trường hợp thứ hai vẫn có áp dụng đối với cuộc đình công
hợp pháp và sẽ được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản theo Luật dân sự
điều chỉnh.
Để người sử dụng lao động được bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp
pháp gây ra thì điều kiện đặt ra là cuộc đình công do người lao động tham gia phải bị
Tòa án nhân dân tuyên bố là bất hợp pháp. Vậy cuộc đình công được coi là bất hợp
pháp khi mà nó thuộc một trong các trường hợp quy định tại điều 173 BLLĐ
- Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể
- Không do những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến
hành.
- Khi vụ tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ
chức giải quyết theo quy định của Bộ luật này
- Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động không lấy ý
kiến người lao động về đình công
- Việc tổ chức và đình công không tuân theo quy định tại điều 172.
- Cuộc đình công tiến hành tại các doanh nghiệp không được đình công theo
quy định của Chính phủ.
1
Bài tập học kì – Luật Lao động
Bài tập học kì – Luật Lao động
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại điều 4 nghị định 11 và
khoản 1 mục II thông tư liên tịch 07. Do bồi thường thiệt hại được đặt ra nhằm mục
đích bảo vệ quyền lợi của NSDLĐ, chính vì vậy chủ thể có trách nhiệm bồi thường
thiệt hại chính là đối tượng quy định tại khoản 1 điều 2 nghị định 11 và điểm a
khoản 2 mục I thông tư 07 đó là:
- Ban chấp hành công đoàn cơ sở
- Đại diện được tập thể lao động cử và việc cử này đã được thông báo với
liên đoàn lao động cấp huyện hoặc tương đương.
- Người lao động.
Tuy nhiên tùy từng trường hợp cụ thể mà pháp luật quy định chủ thể chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại là khác nhau:
Thứ nhất cuộc đình công mà do tổ chức công đoàn cơ sở lãnh đạo mà gây
thiệt hại cho người sử dụng lao động thì trách nhiệm bồi thường thuộc về ban chấp
hành công đoàn cơ sở. Khi đó tổ chức công đoàn cơ sở lãnh đạo cuộc đình công bất
hợp pháp sẽ phải thực hiện bồi thường thiệt hại từ nguồn kinh phí của tổ chức công
đoàn như kinh phí do đoàn viên đóp, kinh phí công đoàn do người sử dụng lao động
trích nộp và các khoản thu khác từ hoạt động văn hóa thể thao, hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ do công đoàn tổ chức, tài trợ của các tổ chức trong nước và
nước ngoài.
Trường hợp thứ hai người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là những
người được cử làm đại diện cho tập thể lao động và những người lao động tham gia
đình công. Nếu là ban chấp hành công đoàn cơ sở chịu trách nhiệm thì trách nhiệm
này sẽ là toàn bộ đối với công đoàn, Ban chấp hành công đoàn cơ sở phải chịu bồi
thường toàn bộ các thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp gây ra. Còn đối với
trường hợp trách nhiệm bồi thường thuộc về người đại diện cho tập thể lao động và
những người lao động tham gia đình công thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân theo
từng phần. Điều này có nghĩa là trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được chia đều
cho tất cả mọi thành viên tham gia đình công bất hợp pháp. Việc bồi thường của mỗi
đầy đủ nội dung như giá trị thiệt hại, các bằng chứng chứng minh giá trị thiệt hại,
mức yêu cầu, phương thức và thời hạn thực hiện bồi thường. Sau đó mẫu yêu cầu
4
Bài tập học kì – Luật Lao động
được gửi lên ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động, đồng
thời gửi tới Sở Lao động- Thương binh xã hội, Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố
trực thuộc tring ương nơi xảy ra đình công bất hợp pháp.
5. Xác định thiệt hại để bồi thường
Bồi thường thiệt hại phải đáp ứng kịp thời, đúng, đủ. Chính vì vậy để làm
được điều này thì cần phải xác định số tài sản thiệt hại là bao nhiêu để người bị thiệt
hại được bồi thường. Theo quy định tại điều 6 nghị định 11 thì
“ Thiệt hại do cuộc đình công bất hợp pháp gây ra bao gồm tài sản của
doanh nghiệp bị thiệt hại trực tiếp do việc ngừng sản xuất, kinh doanh…” đó là
- Giá trị máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, sản phẩm đã
hoàn thành nhưng chưa được bảo quản, đóng gói bị hư hỏng…
- Các chi phí sửa chữa, bảo quản, vận hành máy móc, thiết bị, sản phẩm, chi
phí vận chuyển nguyên vật liệu hư hỏng ra chỗ khác.
Ngoài ra đối với tài sản cố định bị hư hỏng do ngừng vận hành, phải thay thế,
sửa chữa thì giá bồi thường thiệt hại được xác định căn cứ vào nguyên giá trị tài sản
cố định, có trừ mức trích khấu hao tài sản cố định theo quy định hiện hành và giá trị
thu hồi do thanh lý nếu có.
Điều đáng chú ý là giá trị bồi thường thiệt hại được xác định là giá thị trường
tại chính thời điểm xảy ra cuộc đình công bất hợp pháp. Hai bên sẽ thỏa thuận với
nhau về vấn đề bồi thường và bồi thường với giá trị bao nhiêu, tuy nhiên có nhiều
trường hợp hai bên cùng nhất trí về cách bồi thường, nhưng lại không thống nhất về
giá trị bồi thường, lúc này để công bằng, khách quan nhất, hai bên có quyền yêu cầu
một tổ chức trung gian là một tổ chức thẩm định giá được thành lập theo quy định
của pháp luật xác định giá trị thiệt hại. Bên nào có yêu cầu thì bên đó sẽ phải chịu
trong 5 ngày, hết thời hạn 5 ngày công bố kết quả xác định giá trị thiệt hại, hai bên
phải chấp thuận kết quả và mở phiên họp thương lượng để thỏa thuận tiếp.
♦ Từ chối thương lượng.
Từ chối thương lượng là trường hợp hết 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu
bồi thường của NSDLĐ, BCHCĐ cơ sở, đại diện tập thể người lao động không có
6
Bài tập học kì – Luật Lao động
văn bản trả lời. Bên có nghĩa vụ BTTH không thực hiện bồi thường theo đúng Cam
kết BTTH hoặc Biên bản thương lượng.
Lúc này, NSDLĐ sẽ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện
nơi xảy ra cuộc đình công đòi bồi thường thiệt hại.
6.2. Khởi kiện yêu cầu đòi bồi thường
Đây là trường hợp quá trình thương lượng diễn ra không thành, hoặc xuất phát
từ nhừng nguyên nhân sau:
“ 1. Phía đại diện người lao động từ chối thương lượng;
2. Việc thương lượng không đạt kết quả;
3. Bên có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại không thực hiện đúng thỏa thuận
cam kết về bồi thường thiệt hại”
Việc yêu cầu khởi kiện sẽ được diễn ra theo trình tự thủ tục mà pháp luật tố
tụng dân sự quy định.
II. Nhận xét các quy định hiện hành về bồi thường thiệt hại do
đình công bất hợp pháp gây ra.
Đình công trong xã hội hiện nay ngày càng trở thành một vấn đề nhức nhối
trong xã hội hiện nay, tình trạng công nhân các nhà máy, xí nghiệp, doanh nghiệp
ngày một nhiều. Để hạn chế đình công, pháp luật đã ban hành nghị định
11/2008/NĐ-CP và thông tư 07/2008 quy định về bồi thường thiệt hại trong đình
đoàn “ủng hộ” việc công nhân đình công...Hơn nữa, hiện nay, các tổ chức công đoàn
hoạt động đều thiếu và yếu, công đoàn hoạt động phụ thuộc vào người sử dung lao
động “người sử dụng lao động phải cộng tác chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi để
công đoàn hoạt động”. Có sự phụ thuộc như vậy, liệu người đứng đầu công đoàn có
chịu đứng lên để lãnh đạo cuộc đình công đòi bảo vệ lợi ích cho người lao động.
Như vậy luật nên quy định tổ chức công đoàn phải độc lập với doanh nghiệp và
không phải phụ thuộc vào doanh nghiệp nữa.
- Quy định mức bồi thường không vượt quá ba tháng lương và mỗi cá nhân bị
trừ mỗi tháng không quá 30% mức lương ghi trong hợp đồng. Quy định của luật như
vậy là quá cao so với thu nhập của người lao động. Nguyên nhân người lao động
đình công cũng xuất phát từ việc họ muốn tăng lương, đòi bảo hiểm xã hội…bởi lẽ
8
Bài tập học kì – Luật Lao động
giá cả ngày một leo thang, đồng tiền trượt giá trong khi tiền công, tiền lương mà
doanh nghiệp trả cho người lao động lại quá thấp, mặc dù trên mức lương tối thiểu,
chỉ đủ để ăn no mặc ấm chứ không hề dành dụm được chút nào. Chính vì vậy quy
định bắt họ phải bồi thường 30% 3 tháng lương liên tiếp là chưa phù hợp. Đòi quyền
lợi chính đáng mà không được lại bị thiệt hại đáng kể. Pháp luật quy định như vậy là
chưa đứng trên quyền lợi của người lao động, xử phạt họ quá nặng tay. Suy cho cùng
nguyên nhân dẫn đến đình công là do NSDLĐ không chấp hành đúng, đủ theo quy
định của pháp luật đối với người lao động.
Theo quy định của luật và Nghị định hướng dẫn thì vấn đề bồi thường thiệt hại
trong đình công bất hợp pháp chỉ được xác định khi có quyết định của tòa án là đình
công bất hợp pháp. Tuy nhiên, tâm lí của NLĐ là muốn tạm ngừng làm việc để gây
sức ép với NSDLĐ chứ không muốn nghỉ việc. Còn NSDLĐ muốn NLĐ trở lại làm
việc nhanh chóng, tránh ảnh hưởng đến sản xuất và uy tín nên họ thường tổ chức
thương lượng, nhượng bộ các ưu sách của NLĐ kể cả trong trường hợp NLĐ vi phạm
pháp luật về đình công mà không đưa ra tòa yêu cầu giải quyết, vì vậy những quy định
“
Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung
là Tòa án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những
tranh chấp sau đây:
c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 điều 31 của Bộ luật này.”
Theo quy định tại khoản 1 điều 35 BLTTDS quy định thẩm quyền của Tòa án
theo lãnh thổ “ Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị
đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
sơ thẩm những tranh chấp về…lao động quy định tại các điều 25,27,29 và 31 của Bộ
luật này”. Trong tình huống có nêu rõ trụ sở của công ty C là quận T. Vì vậy trong
trường hợp này, Tòa án nhân dân quận T nơi công ty C có trụ sở đóng tại đó sẽ có
thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V.
Mặt khác trong tình huống, anh V yêu cầu công ty về việc thanh toán tiền
lương cho anh trong những ngày không được làm việc. Như vậy, ở đây có sự tranh
chấp về bồi thường thiệt hại đối với anh V cụ thể là bồi thường về tiền lương trong
những ngày anh không được đi làm. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 36
BLTTDS quy định về quyền lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp về lao động
10
Bài tập học kì – Luật Lao động
của nguyên đơn như sau: “ Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm
dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm,
tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì
nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải
quyết”. Như vậy anh V có thể gửi đơn yêu cầu giải quyết đến cơ quan Tòa án nơi
anh V cư trú, cụ thể trong bài anh V thường trú tại quận 1 nên Cơ quan Tòa án
nhân dân quận 1 sẽ có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh V.
b) Trong vụ việc trên, anh V và công ty C tranh chấp về vấn đề gì?
bảo vệ gồm 20 người. Như vậy có thể nói vì lý do kinh tế mà công ty mới phải giải
thể đội bảo vệ nhằm mục đích giảm đi chi phí sản xuất, đây là yếu tố khách quan
buộc NSDLĐ phải chủ động chấm dứt việc làm trong khi quan hệ lao động vẫn rất
tốt đẹp. Nhưng vì hiệu quả kinh doanh của công ty mà NSDLĐ bắt buộc phải cắt
giảm nhân công trong đơn vị. Tại điều 17 BLLĐ quy định về vấn đề này như sau:
“Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã làm
việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm…”.
Thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ có nghĩa là thay đổi một phần hoặc toàn bộ
máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn hoặc
do thay đổi cơ cấu tổ chức: Sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị (điều 11
nghị định 39/2003/NĐ-CP. Như vậy, trường hợp của côn ty C là cắt giảm lao động
dẫn đến giải thể một bộ phận bộ phận của công ty là đội bảo vệ thuộc khoản 3 điều
11 nghị định 39 “thay đổi cơ cấu tổ chức: Sáp nhập, giải thể một số bộ phận của
đơn vị”. Như vậy Công ty hoàn toàn có thể căn cứ vào cơ sở pháp lý điều 17 và
khoản 3 điều 11 nghị định 39/2003/NĐ-CP để chấm dứt hợp đồng lao động với V.
Để việc chấm dứt hợp đồng đối với anh V là hợp pháp thì việc chấm dứt
này không chỉ hợp pháp về nội dung mà còn phải hợp pháp về hình thức tức là hợp
pháp về mặt thủ tục. Cơ sở pháp lý giải quyết vấn đề này là khoản 1, 2 điều 17 và
khoản 2, 3 điều 38 BLLĐ, theo đó công ty phải tiến hành những thủ tục sau:
Tại khoản 1 điều 17 ta thấy do thay đổi cơ cấu tổ chức cụ thể là giải thể đội
bảo vệ thì NSDLĐ phải sẽ phải đào tạo lại những người lao động làm việc thường
12
Bài tập học kì – Luật Lao động
xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên để sử dụng họ vào chỗ làm mới.
Theo tình huống bài, anh V kí hợp đồng không xác định thời hạn với công ty C từ
năm 2000 đến lúc bị chấm dứt hợp đồng là năm 2008 vì vậy anh V được xác định là
người thường xuyên làm việc trong công ty, do đó anh V phải được công ty C cho đi
đào tạo lại lại để được sử dụng vào công việc mới. Nếu sau khi đào tạo xong mà
công ty từ năm 2000 đến ngày bị thôi việc là ngày 8/2/2008. Như vậy anh V hoàn
toàn đủ điều kiện làm đối tượng để hưởng trợ cấp mất việc làm.
Mức trợ cấp mất việc được tính trên cơ sở mức lương quy định “Tiền lương
làm căn cứ tính các chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, bồi thường do
đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, bồi thường tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp là tiền lương theo hợp đồng lao động, được tính bình quân
của 6 tháng liền kề trước khi sự việc xảy ra, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ
cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có)”. Theo đó thông tư 39/2003/NĐ-CP có
hướng dẫn cách tính tiền trợ cấp mất việc làm như sau:
Tiền trợ cấp
mất
việc làm
Số năm được tính
=
hưởng trợ cấp mất
việc làm
tiền lương làm
x
căn cứ tính trợ cấp
x 01
việc làm
Trong đó:
- Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm (được tính theo năm) được
thời gian từ ngày 12/12/2007 đến ngày 8/2/2008 là thời gian trước khi anh V bị nghỉ
việc, khoảng thời gian này là 1 tháng 27 ngày, theo cách làm tròn thì sẽ tính là 2
tháng, trong 2 tháng này, mức lương của anh V trước khi nghỉ việc là 2,5 triệu/
tháng. Vậy tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp là:
( 2 triệu x 4 tháng + 2,5 triệu x 2 tháng) : 6 = 2,16666667 triệu đồng.
Tiền trợ cấp mất việc anh V được hưởng là
7,5 năm x 2,16666667 triệu đồng x 01 = 16,25 triệu đồng.
( Trong đó 01 là một tháng lương cho mỗi năm làm việc)
Vậy khi công ty C chấm dứt hợp đồng lao động với anh V một cách hợp pháp thì
anh V có quyền được nhận 16,25 triệu đồng tiền trợ cấp mất việc làm từ công ty C.
15
Bài tập học kì – Luật Lao động
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật lao động Việt Nam, Nhà
xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 2009.
2. Đỗ Ngân Bình, “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
lao động trước, trong và sau khi đình công”, Tạp chí khoa học pháp lí,
số 6 năm 2007.
3. Bộ Luật lao động Việt Nam năm 1994, sửa đổi bổ sung 2006,2007.
4. Nghị định cuả Chính phủ số 39/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2003
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động
về việc làm.
5. Nghị định của Chính phủ số 11/2008/NĐ-CP quy định về việc bồi
thường thiệt hại trong trường hợp đình công bất hợp pháp gây thiệt hại
cho người sử dụng lao động.
6. Một số trang web và tài liệu khác có liên quan.
được giải quyết như thế nào
17
Bài tập học kì – Luật Lao động
MỤC LỤC
I. Các quy định về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp
pháp………………………………………………………………........1
1. Điều kiện để được bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp……..1
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại…………………………………………..2
3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại…………………………………………3
4. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại………………………………………4
5. Xác định thiệt hại để bồi thường………………………………………….5
6. Quy trình đòi bồi thường thiệt hại……………………………………….6
II. Nhận xét các quy định hiện hành về bồi thường thiệt hại do
đình công bất hợp pháp gây ra……………………………………..7
III. Bài tập tình huống…………………………………………9
18