Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong TTHS - Pdf 34

Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

A. LỜI MỞ ĐẦU
Trong Tố tụng hình sự (TTHS), bị can, bị cáo là đối tượng bị buộc tội bởi cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Họ là những người có quyền lợi và
nghĩa vụ bị ảnh hưởng sâu sắc nhất bởi quyết định của Tòa án khi giải quyết vụ án
hình sự. Trên thực tế có rất nhiều vụ án hình sự bị can, bị cáo bị oan sai do người
tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, làm ảnh hưởng không nhỏ đến
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của họ. Để giải quyết được
tình trạng bị can, bị cáo bị xâm phạm các quyền mà pháp luật quy định cho họ thì
việc người tiến hành tố tụng cũng như bị can, bị cáo cần nắm rõ quyền và nghĩa vụ
của bị can, bị cáo là hết sức cần thiết. Do đó, chúng ta cùng đi tìm hiểu những quy
định về “Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong TTHS.”

B. NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TTHS
Trong khoa học pháp lý, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong
mối liên hệ với những chủ thể khác trên cơ sở quy định của pháp luật, thể hiện thành
một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể. Qua đó xác lập cũng như
giới hạn khả năng của chủ thể đối với hoạt động của mình trong phạm vi các quyền
và nghĩa vụ đó.
Trong quan hệ pháp luật TTHS, một bên là cơ quan nhà nước đại diện cho
quyền lực nhà nước để tiến hành tố tụng (THTT) tìm ra sự thật cho vụ án và giải
quyết vụ án, một bên là người tham gia tố tụng (NTGTT) không nắm trong tay một
quyền lực nào, các chủ thể có địa vị rất khác nhau, trong các giai đoạn tố tụng khác
nhau thì địa vị của các chủ thể này cũng khác nhau. Do đó là rõ được địa vị pháp lý
của một chủ thể trong quan hệ tố tụng hình sự (TTHS) là điều rất quan trọng, ảnh
hưởng đến cả quá trình và kết quả giải quyết một vụ án hình sự.
1. Khái niệm địa vị pháp lý của bị can

nhiều điểm khác nhau là do tư cách tham gia tố tụng của bị can, bị cáo được hình
thành trong các giai đoạn tố tụng khác nhau
1. Các quy định của luật Tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị can
1.1. Những quy định về quyền của bị can
Quyền của bị can được quy định tại khoản 2 Điều 49 Bộ luật TTHS năm
2003, theo đó bị can có các quyền:
- Được biết mình khởi tố về tội gì: Không phải vô cớ mà các nhà làm luật đặt quyền
này lên đầu tiên khi xây dựng các quy định pháp luật về quyền của bị can, bởi đây là
quyền rất quan trọng, quyền đầu tiên và quyền ảnh hưởng rất lớn đến các quyền
khác của bị can. Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự, mốc xác định tư cách bị
can là lúc có quyết định khởi tố bị can đã có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát (VKS).
Do đó bị can cần phải được biết mình bị khởi tố về tội gì, theo điều nào của Bộ luật
hình sự để từ đó có thể tiến hành tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa cho mình.
Bị can được biết mình bị khởi tố về tội gì thông qua quyết định khởi tố bị can.
Quyết định khởi tố bị can của cơ quan có thẩm quyền phải có đầy đủ nội dung theo
================================== 2 ================================
Tố tụng hình sự


Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 126 Bộ luật TTHS và phải được tống đạt
đến bị can. Cơ quan điều tra (CQĐT) có trách nhiệm phải giao ngay quyết định khởi
tố bị can và giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can.Quyền được biết mình bị
khởi tố về tội gì của bị can thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của pháp luật
XHCN. Bị can phải được biết mình bị khởi tố về tội gì một cách công khai, minh
bạch để có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người bào chữa, người đại diện hợp
pháp để bảo đảm quyền lợi của mình.

MSSV: 352005
===================================================================

tăng cường cho bị can những quyền cần thiết để bảo vệ cho mình trước sự buộc tội
của cơ quan THTT.
- Trình bày lời khai: Lời khai của bị can là một trong số các nguồn chứng cứ quan
trọng để giải quyết vụ án. Là đối tượng bị buộc tội, bị can có quyền bào chữa, gỡ tội.
Một trong các cách thức bào chữa cho mình là việc bị can trình bày lời khai của
mình. Việc khai báo, trình bày lời khai là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ của
bị can. Do đó bị can có thể khai báo hoặc không trước CQTHTT, NTHTT. Pháp luật
không đặt ra trách nhiệm cho bị can trong trường hợp bị can không khai báo hay
khai báo không đúng sự thật. Nhưng bị can được pháp luật khuyến khích khai báo sự
thật một cách thành khẩn để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình. Lời khai của bị
can để trở thành chứng cứ và được sử dụng trong việc giải quyết vụ án phải được
Điều tra viên (ĐTV) tiến hành thu thập theo những thủ tục pháp luật quy định.
Trong trường hợp bị can nhận tội, khai báo các tình tiết phạm tội của mình thì
lời nhận tội này chỉ được coi là chứng cứ buộc tội nếu phù hợp với các chứng cứ
khác của vụ án.Theo luật định thì trình bày lời khai là quyền của bị can, nhưng trên
thực tế có nhiều trường hợp ĐTV vi phạm quy định này, dùng hình thức hỏi cung
trái pháp luật như: bức cung, ép cung, nhục hình…
Quyền trình bày lời khai của bị can là một quyền mới được quy định trong
BLTTHS 2003. Việc ghi nhận quyền này làm tăng thêm cách thức thực hiện quyền
bào chữa của bị can để bảo vệ hữu hiệu hơn quyền lợi của mình.
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Bị can có quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật có
liênn quan đến vụ án để chứng minh cho sự vô tội của mình. Những đồ vật này có
thể là vật dụng của bị can, người bị hại, vũ khí hay các vật dụng khác hoặc những tài
liệu có liên quan.
Bị can cũng có quyền đưa ra các yêu cầu như: có luật sư bào chữa, thay đổi
người THTT hay đươn thuần là yêu cầu được giải thích về quyền và nghĩa vụ, xem
lại bản ghi chép lời khai của mình…Tuy nhiên để đảm bảo hiệu quả trong công tác

được CQTHTT trưng cầu theo quy định của pháp luật. Cơ quan trưng cầu giám định
sẽ quyết định việc thay đổi hay không thay đổi giám định viên theo yêu cầu của bị
can căn cứ theo quy định của pháp luật
Đối với trường hợp có người TGTT không sử dụng được Tiếng Việt thì cần
phải có người phiên dịch do CQĐT, VKS hoặc TA yêu cầu. Trong trường hợp này
nếu người phiên dịch không trung thực hoặc khả năng phiên dịch không chính xác…
làm ảnh hưởng đến bị can thì bị can có quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch.
Được quy định tại khoản 3 Điều 62 BLTTHS 2003.
- Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: Bảo đảm quyền bào chữa cho bị can
là một nguyên tắc hiến định được ghi nhận tại Điều 132 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ
sung 2001 và Điều 12 BLTTHS 2003. Quyền bào chữa của bị can được thể hiện
dưới hai hình thức: tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa.
Đối với quyền tự bào chữa, pháp luật đã quy định cho bị can những quyền
được biết mình bị khởi tố về tội gì, được giao nhận các quyết định tố tụng, được
trình bày lời khai….Bị can có thể dùng lời khai, đưa ra những đồ vật, tài liệu để
================================== 5 ================================
Tố tụng hình sự


Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

chứng minh cho sự vô tội của mình. Quyền tự bào chữa của bị can được thực hiện
trong tất cả các giai đoạn mà bị can tham gia. Vì khi số lượng luật sư còn ít, bào
chữa viên nhân dân trình độ còn yếu kém…nên việc tự bào chữa của bị can có vai
trò rất quan trọng và quyết định đến việc xác định sự thật của vụ án.
Bên cạnh việc tự bào chữa, pháp luật quy định cho bị can quyền nhờ người
khác bào chữa cho mình. Người bào chữa có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân
hoặc người đại diện hợp pháp của bị can theo quy định của pháp luật. Người bào

MSSV: 352005
===================================================================

Quyền khiếu nại của bị can là sự bảo đảm của pháp luật để bị can có thể bảo
vệ quyền lợi của mình và cũng là căn cứ để đánh giá sự tuân thủ đúng pháp luật của
các CQTHTT, NTHTT.
1.2. Nghĩa vụ của bị can
Bị can là đối tượng bị buộc tội, còn các CQTHTT là chủ thể có nghĩa vụ phải
chứng minh hành vi phạm tội và đưa ra kết luận cuối cùng để giải quyết vụ án, do đó
pháp luật không quy định nhiều về nghĩa vụ của bị can, trong khi trách nhiệm và
nghĩa vụ của NTHTT lại rất lớn. Bị can chỉ có nghĩa vụ “phải có mặt theo giấy triều
tập của CQĐT, VKS. Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có
thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã” (khoản 3 Điều 49 BLTTHS 2003).
Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS. Trong trường hợp bị
can được tại ngoại, khi cần triệu tập bị can đề tiến hành các hoạt động điều tra hoặc
các hoạt động tố tụng khác, các CQTHTT phải triệu tập bị can bằng giấy triệu tập
theo đúng thủ tục luật định, trong đó phải ghi rõ thời gian, địa điểm bị can phải có
mặt. Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của CQTHTT, nếu vắng mặt
không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Bị can
đang tam giam được triệu tập thông quan Ban giám thị trại giam.
2. Các quy định của luật Tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị cáo.
2.1. Quyền của bị cáo
Với tư cách tố tụng khác bị can, bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa
ra xét xử, bị cáo phải tham gia vào giai đoạn tố tụng mới là xét xử, do vậy quyền và
nghĩa vụ của họ có nhiều thay đổi. Theo quy định tại khoản 2 Điều 50 BLTTHS
2003 thì bị cáo có quyền:
- Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng: Bị cáo có quyền được nhận các quyết
định tố tụng do CQTHTT, NTHTT ban hành. Và quan trọng nhất là quyết định đưa
vụ án ra xét xử. Từ đó tư cách bị can chuyển thành bị cáo trong quá trình tố tụng. Kể
từ khi có quyết định này, quyền và nghĩa vụ của bị cáo được xác định và cũng là căn

tòa xét xử thì việc được giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên tòa sẽ
làm ổn định trạng thái tâm lý cho bị cáo, từ đó có thể hợp tác với NTHTT trong
phiên tòa một cách chân thực và cởi mở hơn.
- Đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người phiên dịch theo quy định của
pháp luật: Bị cáo là đối tượng bị đưa ra xét xử, là đối tượng buộc tội trong vụ án
hình sự, việc xét xử như thế nào ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của bị
cáo, vì vậy bị cáo có quyền được đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người
phiên dịch khi có căn cứ rõ ràng để cho rằng những người này có thể không vô tư
trong khi làm nhiệm vụ. Bị cáo có thể thực hiện quyền này trước hoặc tại phiên tòa
xét xử trước khi Hội đồng xét xử (HĐXX) xét hỏi. Chánh án TA HĐXX phải xem
xét và giải quyết yêu cầu của bị cáo, khi cần thiết phải hoãn phiên toàn.
- Đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu: Quyền này của bị cáo hoàn toàn giống với quyền
của bị can. Bị cáo cũng có quyền đưa ra các đồ vật, tài liệu để chứng minh cho mình
vô tội và đưa ra các yêu cầu tại phiên tòa. Nếu trong các giai đoạn tố tụng trước bị
================================== 8 ================================
Tố tụng hình sự


Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

can không đưa ra các đồ vật, tài liệu cần thiết để chứng minh cho mình vô tội thì đến
khi tham gia phiên tòa với tư cách bị cáo thì bị cáo hoàn toàn có quyền đưa ra các đồ
vật, tài liệu này để HĐXX xem xét đánh giá.
Bị cáo cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như: triệu tập thêm người làm
chứng, đưa thêm vật chứng, yêu cầu hoãn phiên tòa…Các yêu cầu này phải được
Tòa án xem xét giải quyết.
- Tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa: Quyền bào chữa là quyền cơ bản của đối
tượng bị buộc tội xuyên suốt quá trình tố tụng, nên bất kể đối tượng bị buộc tội

===================================================================

án. Nhiều trường hợp khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ra những tình tiết có ý
nghĩa quan trọng đối với vụ án, khi đó HĐXX phải quyết định trở lại phần xét hỏi.
Quy định cho bị cáo có quyền nói lời sau cùng có thể thấy được tính nhân đạo
trong pháp luật VN. Pháp luật được đặt ra ngoài mục đích trừng phạt còn mang tính
răn đe giáo dục con người.
- Kháng cáo bản án, quyết định của tòa án: Kháng cáo là quyền chống lại bản án và
quyết định của Tòa án, yêu cầu được xét xử lại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án
và quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của TA. Khi
kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, TA cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết quyền
kháng cáo của bị cáo. Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện quyền kháng cáo, luật
TTHS quy định, nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng
nghị theo hướng tăng nặng nào khác thì TA cấp phúc thẩm không có quyền sửa theo
hướng bất lợi hơn cho bị cáo. Bị cáo cũng có quyền thay đổi, bổ sung, rút toàn bộ
hay một phần kháng cáo của mình trước hoặc trong phiên tòa phúc thẩm…
- Khiếu nại hành vi quyết định của CQTHTT, NTHTT: Bị cáo có quyền khiếu nại
quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng. Những quyết định này không
thuộc đối tượng kháng cáo như quyết định áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn… Bị cáo cũng có quyền khiếu nại hành vi tố tụng của cơ quan, NTHTT nếu
các hành vi đó là trái pháp luật.
2.2. Nghĩa vụ của bị cáo
Bị cáo chỉ có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của TA và trong trường hợp
bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, nếu bị cáo bỏ trốn
thì bị truy nã. Trong giai đoạn xét xử, TA triệu tập bị cáo bằng giấy triệu tập khi cần
có mặt của bị cáo. Giấy triệu tập bị cáo chỉ rõ đích danh bị cáo và thời gian bị cáo
phải có mặt…
Như vậy, ngoài những quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 49 và 50
của BLTTHS, bị can và bị cáo còn có các quyền khác của công dân khi tham gia các
hoạt động TTHS. Đó là các quyền được bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả

quyền và nghĩa vụ của họ. Do vậy, một số bị can không biết là mình có quyền nhờ
luật sư ngay từ khi bị khởi tố mà họ tưởng khi ra Tòa thì mới được mời luật sư. Hơn
nữa nếu có giải thích thì cũng không có điều kiện khẳng định cách giải thích của
những NTHTT về quyền bào chữa của bị can, bị cáo đến đâu để họ hiểu được việc
mời Luật sư là quyền của họ và các CQTHTT phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện
để họ thực hiện quyền đó hay không? Trong THTT không giải thích và bảo đảm
thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo. Chính điều này phần nào đã làm
giảm vai trò, địa vị của bị can, bị cáo.
Do vậy, khi cơ quan, NTHTT không thực hiện nghĩa vụ này phải được coi là
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và đây chính là căn cứ pháp lý để trả lại hồ sơ
điều tra bổ sung; là căn cứ hủy để điều tra, xét xử lại tùy thuộc việc vi phạm ở giai
đoạn tố tụng nào. Nên cần phải bổ sung quy định này vào BLTTHS, để có khả thi
cao hơn ở Điều 49, Điều 50 như sau: “ Được giải thích về quyền và nghĩa vụ. Vi
phạm về quyền này là vi phạm pháp luật nghiêm trọng”.
================================== 11================================
Tố tụng hình sự


Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

- Điều 49, Điều 50 BLTTHS quy định bị can, bị cáo “ Có quyền đưa ra tài liệu, đồ
vật, yêu cầu”. Theo đó thì bị can, bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Theo quy định của pháp luật TTHS thì
CQTHTT phải áp dụng các biện pháp theo luật định để thu thập chứng cớ chứng
minh tội phạm và người phạm tội. Bị can, bị cáo là chủ thể có quyền bào chữa, có
thể là chủ thể của hoạt động chứng minh. Đây là quyền chứ không phải là trách
nhiệm của họ. Nghĩa là bị can, bị cáo có quyền đưa ra chứng cớ chứ không phải là
chỉ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Việc quy định bị can, bị cáo có những

===================================================================

có những hạn chế nhất định. Đối với trường hợp nhờ người khác bào chữa thì NBC
còn gặp khó khăn khi thực hiện quyền này cho bị can, bị cáo. Cụ thể, việc nghiên
cứu hồ sơ vụ án cũng còn nhiều bất cấp, trở ngại đối với NBC vì CQTHTT chưa tạo
điều kiện thuận lợi cho người bào chữa như việc tiếp gặp bị can, bị cáo; có mặt tham
gia lấy lời khai, nghiên cứu, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án….mà những điều
này suy cho cùng là quyền được bảo vệ của bị can, bị cáo. Đối với những trường
hợp pháp luật quy định buộc phải có luật sư TGTT mà CQTHTT không đảm bảo
cho bị can, bị cáo thì được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Bộ luật TTHS quy định NBC là NTGTT bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo,
trong khi đó lại quy định NBC có quyền rộng hơn người bị buộc tội. Đây thực sự là
một sự bất hợp lý. Theo quy định của pháp luật thì bị can, bị cáo là chủ thể có quyền
bào chữa. Quyền bào chữa gồm hai bộ phận không tách rời nhau: quyền tự bào chữa
và quyền nhờ người khác bào chữa. Thực hiện quyền bào chữa không làm mất đi
quyền nhờ người khác bào chữa và ngược lại. Trong việc thực hiện quyền bào chữa
thì ý chí của người bị buộc tội luôn là yếu tố quyết định có hay không sự tham gia
của NBC. Hay nói cách khác, NBC có được TGTT hay không là phụ thuộc vào ý chí
của người có quyền bào chữa. Hơn nữa, quyền năng của Luật sư chỉ là thứ quyền
năng phát sinh từ bị can, bị cáo.Thực tế Điều 58 BLTTHS quy định NBC có quyền
đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa
sau khi kết thúc điều tra…Trong khi đó bị can, bị cáo chính là những đối tượng bị
buộc tội lại không có những quyền này.
Vì vậy, với quan niệm mở rộng hơn nữa quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo
trong TTHS. Theo đó bị can, bị cáo có quyền được xem hồ sơ, được sao chép hồ sơ,
được ghi chép tài liệu trong hồ sơ liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều
tra, đồng thời có quyền sử dụng những gì ghi chép được trình ra trước Tòa. Vì vậy,
vấn đề bị can, bị cáo được xem hồ sơ, được sao chép hồ sơ, tài liệu có trong hồ sơ
sau khi kết thúc điều tra cũng là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình sửa đổi,
bổ sung BLTTHS. Tuy nhiên, cũng cần phải có cơ chế quy định: Bị can, bị cáo có

quy định của Bộ luật này”. Và bổ sung vào Điề 50 một khoản mới như: “4. Bị cáo là
người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có người
đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật. Người đại diện hợp pháp của bị cáo
có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này”. Chứ không nên hiểu gián tiếp
qua các điều luật khác như hiện nay.
- Ngoài ra, cần kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của BLTTHS liên quan
đến địa vị pháp lý của bị can, bị cáo: Do pháp luật quy định chỉ mới khái quát rằng
“bị can là người đã bị khởi tố về hình sự” gây khó khăn cho việc xác định thời điểm
chuyển hóa tư cách bị can thành bị cáo, nên cần có hướng dẫn chi tiết cho quy định
này trong các bản văn bản dưới luật hoặc sửa đổi lại khoản 1 Điều 49 theo hướng
quy định rõ thời điểm xác định tư cách bị can.
Nên sửa đổi quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 179 thành: “khi có căn cứ cho
rằng bị can, bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác” để tránh tình trạng
không xác định được thời điểm chuyển tư cách từ bị can sang bị cáo.
================================== 14================================
Tố tụng hình sự


Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

Theo điểm b khoản 2, Điều 58 BLTTHS thì NBC phải đề nghị CQĐT báo
trước về thời gian, địa điểm “hỏi cung” bị can, vì vậy CQĐT không có trách nhiệm
thông báo cho NBC nếu như không có yêu cầu và nếu chỉ là thông báo mà không
phải là thông báo “hợp lệ” qua email, nhắn tin, fax hoặc chuyển văn bản quan đường
bưu điện thì NBC nhiều không nhận được thông báo. Mặt khác quy định này chỉ yêu
cầu thông báo về lịch “hỏi cung” còn hoạt động tố tụng khác thì CQĐT không phải
thông báo. Cần phải sửa đổi, bổ sung những quy định này nhằm nâng cao hơn nữa
các quyền cho NBC.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam. Trường ĐH Luật HN. NXB Tư
pháp, HN- 2006.
2. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Võ Khánh Vinh ( chủ
biên). NXB CAND, Hà Nội- 2006.
3. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Viện khoa học pháp
lý. NXB Tư pháp, HN- 2005.
4. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. NXB Chính trị quốc gia.
5. Địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
hiện hành và thực tiễn thực hiện trong hoạt động tố tụng hình sự tại tỉnh Lai
Châu : Khoá luận tốt nghiệp / Vũ Thị Quyên; Hà Nội, 2010.h
6. Tạp chí kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số Xuân (01)/2009.
7. Kiểm sát. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Số 21 tháng11/2009.

================================== 16================================
Tố tụng hình sự


Nguyễn Thị Huyền Trang
MSSV: 352005
===================================================================

MỤC LỤC
A.

================================== 17================================
Tố tụng hình sự



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status