MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………....1
NỘI DUNG………………………………………………………...…………….……....1
I. Khái niệm giám sát……………………………………………………….…….......….1
II. Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế
trong quản lý hành chính nhà nước………………………...…………………..…..…….2
1. Hoạt động giám sát của Quốc hội………………………………...…………....……...2
2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân………………….……………........….…4
III. Thực trạng của hoạt động giám sát…………………………………..………….…...6
1. Ưu điểm…………………………………………………….……….………..….…….6
2. Hạn chế……………………………………………………….………………………..7
IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước đối
với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước……………….……......7
1. Đối với Quốc hội………………………………………………………………..….....8
2. Đối với Hội đồng nhân dân………………………………………………………...…9
KẾT LUẬN………………………………………………………………………......…10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….....11
CHÚ THÍCH MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
-
Hội đồng nhân dân (HĐND).
-
Ủy ban nhân dân (UBND).
-
Thủ tướng chính phủ (TTCP).
hoạt động của bộ máy Nhà nước mà trước hết là bộ máy hành chính Nhà nước. Các cơ
quan quyền lực nhà nước là những cơ quan có vị trí đặc biệt quan trọng trong bộ máy
nhà nước, đó là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao
động; hoạt động của những cơ quan này tác động tích cực và chi phối rất lớn hoạt động
của các cơ quan nhà nước. Trong đó, giám sát là một hoạt động rất quan trọng của các
cơ quan quyền lực Nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính
Nhà nước. Để hiểu hiểu rõ hơn về vấn đề này em đã lựa chọn đề tài:“Phân tích vai trò
hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước đối với việc đảm bảo pháp chế
trong quản lý hành chính nhà nước”.
NỘI DUNG
I.
Khái niệm giám sát.
Giám sát (theo từ điển luật học) “là sự theo dõi, giám sát mang tính chủ động
thường xuyên của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đối với hoạt động của các đối
tượng chịu sự giám sát hoặc sự tác động bằng các biện pháp tích cực để hướng các hoạt
động đó đi vào quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ
trước, đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh”. Với quan
niệm trên ta có thể thấy hoạt động giám sát đề cập tới nội dung cơ bản sau:
Là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định một chủ thể nào đó về một việc
làm đã được thực hiện đúng hay sai những điều luật đã quy định để từ đó có biện pháp
điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai nhằm đạt được mục đích hiệu quả xác định từ
trước, đảm bảo cho các quyết định được thực hiện đúng và đầy đủ. Từ đây ta có thể đưa
ra những đặc trưng cơ bản của hoạt động giám sát như sau:
Giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và đánh giá về một
việc đã thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định.
2
toàn dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và quyền giám sát là quyền mà Quốc hội được theo dõi, kiểm tra việc tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật của các đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội.Hoạt động
giám sát của Quốc hội được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, có thể định kỳ tại
các kỳ họp của Quốc hội nhưng cũng có thể thông qua UBTVQH, các UBQH, các hội
đồng Quốc hội cũng như các ĐBQH.
3
Theo đó, đối tượng giám sát tối cao chỉ có thể là các cơ quan và cá nhân do Quốc
hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn như Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, TANDTC,VKSNDTC, những người đứng đầu của cơ quan này và các thành
viên của Chính phủ. Hoạt động giám sát của Quốc hội vừa là chức năng, vừa là nhiệm
vụ và quyền hạn của Quốc Hội, quyền đó được khẳng định cụ thể tại khoản 2 Điều 84
hiến pháp năm 1992: ”Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến
pháp, luật và các Nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước,
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện
kiểm sát nhân dân tối cao”, quy định này khẳng định chủ thể thực hiện quyền giám sát
tối cao là Quốc hội. Tính tối cao của hoạt động giám sát của Quốc hội thể hiện ở một số
dấu hiệu sau: Quyền giám sát là quyền chủ thể của Quốc hội, quyền giám sát của các cơ
quan khác có tính phái sinh từ quyền của Quốc hội.
Hoạt động giám sát của Quốc hội bao trùm toàn bộ hoạt động của Nhà nước từ
hành pháp, kiểm sát đến xét xử. Một số lĩnh vực chỉ chịu sự giám sát duy nhất của Quốc
hội (thí dụ chỉ có Quốc hội mới có quyền xem xét kết luận một luật cụ thể nào đó có trái
Hiến pháp hay không) còn hoạt động giám sát của các chủ thể khác chỉ giới hạn trong
những phạm vi nhất định.
Quốc hội có quyền áp dụng những biện pháp chế tài cao nhất như hủy bỏ các văn
bản của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, TTCP, VKSNDTC,TANDTC nếu trái
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
thành viên của Chính phủ, CATANDTC, Viện trưởng VKSNDTC. Sau khi nghe trả lời
chất vấn, nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị
Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận phiên họp khác của Quốc
hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn. Thành lập
Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xét báo cáo kết quả điều tra của
Ủy ban.
Như vậy, ở nước ta giám sát tối cao là năng lực đặc biệt riêng có của Quốc hội,
quyền giám sát tối cao là quyền mang tính quyền lực cao nhất do Quốc hội thực hiện, đó
cũng là một chức năng cơ bản, đặc biệt của Quốc hội, Quốc hội có thể tiến hành giám
sát ở mức cao nhất của hoạt động bộ máy nhà nước ở bất cứ phương diện nào, lĩnh vực
nào trong hoạt động quản lý nhà nước.
2.
Hoạt động giám sát của HĐND
5
Theo quy định tại điều 1 Luật tổ chức HĐND và UBND :’Hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân
dân địa phương. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của
Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị
quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương”. Như vậy, HĐND là cơ quan quyền
lực nhà nước ở địa phương. HĐND đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ
của nhân dân địa phương; cơ cấu HĐND được hợp thành từ những đại biểu ưu tú đại
diện cho giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức, các dân tộc, thành phần trong
phạm vi của địa phương.
Hoạt động giám sát của HĐND địa phương là chức năng chủ yếu của cơ quan
chỉ tạo cơ sở pháp lý để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo mà còn quy định cơ
quan nhà nước và cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải tự kiểm tra, xem xét lại các
quyết định hành chính và hành vi hành chính, nếu xét thấy trái pháp luật phải kịp thời
sửa chữa, khắc phục để tránh phát sinh khiếu kiện.
Hoạt động giám sát góp phần tích cực vào việc phát hiện sai trái của cơ quan, tổ
chức cơ sở trong việc chấp hành pháp luật, trên cơ sở đó kiến nghị với cấp có thẩm
quyền giải quyết, xử lý kịp thời những sai phạm đó, đôn đốc các cơ quan, tổ chức hữu
quan thực hiện nghị quyết của HĐND và của các cấp trên cũng như giải quyết các vấn
đề bức xúc ở địa phương, đảm bảo thi hành có hiệu quả các quy định của pháp luật và
các nghị quyết của HĐND địa phương; góp phần ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện và
xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi vi phạm pháp luật đảm bảo pháp chế
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có hiệu lực, hiệu quả.
III.
Thực trạng của hoạt động giám sát.
1. Ưu điểm: Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp
thực hiện quyền lực nhà nước một cách thường xuyên và trực tiếp chỉ đạo cũng như
kiểm tra mọi mặt công tác của cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp.
Thông qua hoạt động giám sát, các cơ quan quyền lực nhà nước có thể phát hiện
những yếu kém, những khuyết điểm trong công tác tổ chức và hoạt động cũng như khó
khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật và thực hiện nhiệm vụ mà pháp
luật đã quy định đối với các cơ quan hành chính nhà nước; trên cơ sở đó cơ quan quyền
7
lực nhà nước kịp thời đề ra những thời gian cụ thể và biện pháp thích hợp khắc phục
những khó khăn và tồn tại ấy.
Thông qua hoạt động giám sát, Quốc hội và HĐND các cấp có dịp kiểm tra tính
dành ch hoạt động thực hiện nhiệm vụ của các đại biểu.
IV. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà
nước đối với việc đảm bảo pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước.
1. Đối với Quốc hội: Cùng với sự đổi mới của đất nước, hoạt động của các cơ quan nhà
nước ta nói chung và của Quốc hội nói riêng đã và đang đạt hiệu quả trong thực tế. Tuy
nhiên, trước đòi hỏi của đất nước, yêu cầu của xã hội và để phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội là yêu cầu bức xúc, đòi hỏi
các biện pháp khả thi sau đây:
Một là: Phải nâng cao chất lượng các văn bản luật để pháp luật thực sự là phương tiện
quản lý đất nước, để người dân lao động làm chủ vận mệnh đất nước, phát huy trí tuệ để
xây dựng đất nước. Những quy định xa rời thực tế, chậm phát huy dân chủ, không theo
kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới và cải cách hành chính cũng như cải cách tư pháp
phải huỷ bỏ và nhanh chóng được thay thế. Đặc biệt, phải tổ chức nghiên cứu lại những
quy định của Hiến pháp về các quy chế quyền hạn (trong đó có quyền giám sát) của
Quốc hội, từ đó bổ sung các quy định về phương thức thực hiện quyền giám sát của
Quốc hội. Trên cơ sở đó, chúng ta mới có cơ sở pháp lý đầy đủ để đổi mới tổ chức hoạt
động giám sát của Quốc hội.
Hai là: Phải hoàn thiện bộ máy hoạt động của Quốc hội, nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động đáp ứng yêu cầu của hoạt động giám sát, ở đây đòi hỏi tinh gọn bộ máy
nhưng đủ để hoàn thành nhiệm vụ với hiệu suất cao nhất. Muốn vậy, việc chuyển từ chế
độ làm việc kiêm nhiệm sang chế độ làm việc chuyên trách phải được tính toán kỹ
lưỡng, nhưng khẩn trương và mạnh dạn. Đồng thời, tăng thêm thẩm quyền cho các cơ
quan của Quốc hội trong việc thực thi quyền giám sát. Hơn nữa, tinh gọn bộ máy phải
kết hợp với việc xác định rõ ràng, chuẩn xác chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
từng Uỷ ban của Quốc hội và giới hạn cụ thể cũng như tiêu chuẩn hoá trình độ và năng
lực của đại biểu của các Uỷ ban trong Quốc hội.
Ba là: Mục tiêu giám sát và thời gian giám sát ở từng nơi, từng thời kỳ, từng địa phương
và cơ sở phải được xác định rõ ràng. Có thể tăng cường số lần họp trong một năm của
9
chất vấn và việc trả lời chất vấn đã trở thành một hoạt động bình thường tại kỳ họp
HĐND. Các ý kiến đặt ra phải trên cơ sở khảo sát thực tế, nguyện vọng chính đáng của
nhân dân hoặc dựa trên cơ sở khảo sát việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân
10
dân. Để bảo đảm việc thực hiện chất vấn có hiệu quả, phải hạn chế những chất vấn mang
tính kiến nghị, thông tin và sự việc không rõ; những người bị chất vấn phải trả lời rõ
ràng, cụ thể, có tính thuyết phục, không vòng vo, né tránh các nội dung chất vấn, không
để vụ việc kéo dài mà phải có biện pháp khắc phục cụ thể.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân
dân.. để nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát của HĐND, cần phải coi công tác
kiểm tra, giám sát của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND là một việc làm
thường xuyên.
Thứ tư: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các Ban của HĐND.
Thứ năm: Đại biểu HĐND phải gắn bó với cử tri, vừa lắng nghe và phản ánh
trung thực ý kiến, nguyện vọng của cử tri, vừa giám sát, vừa tác động và đôn đốc các cơ
quan có thẩm quyền giải quyết thoả đáng các ý kiến, nguyện vọng của cử tri. Hội đồng
nhân dân phải có trách nhiệm nâng cao năng lực và trách nhiệm cho đại biểu Hội đồng
nhân dân như tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho đại biểu tham gia
hoạt động giám sát của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND.
Thứ sáu: Tăng cuờng hơn nữa sự phối hợp hoạt động giữa Đoàn đại biểu Quốc
hội và các cơ quan, đoàn thể ở địa phương: Việc phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội ở
địa phuơng trong việc tham gia hoạt động giám sát, trong việc tiếp xúc với cử tri sẽ tạo
điều kiện cho các đại biểu HĐND để trao đổi thông tin về kiến thức pháp luật, về tình
hình chấp hành pháp luật nói chung, cũng nhu trao đổi về kinh nghiệm trong hoạt động
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân.
Thứ bảy: Bảo đảm kinh phí và điều kiện vật chất khác cho hoạt động giám sát của
HĐND, của Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và các đại biểu HĐND.
5.
Luật khiếu nại tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005, 2006)
1.
Website
-
http://www.luatvietnam.com.vn
-
http://www.chinhphu.vn
-
http://caicachhanhchinh.gov.vn
12