MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I.
VIỆT NAM VÀ CÔNG ƯỚC BERNE:
1. Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả
1.1.Các nguyên tắc cơ bản của công ước Bern
1.2.Đối tượng , thời hạn bảo hộ:
1.3. Điều kiện được bảo hộ:
2. Những lợi ích khi Việt Nam gia nhập công ước berne:
II.
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ CÓ YẾU TỐ
NƯỚC NGOÀI KỂ TỪ KHI VIỆT NAM THAM GIA CONG
ƯỚC BERNE NĂM 1886 VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ:
1. Thực trạng:
2.1. Thành tựu:
2.2. Hạn chế:
2. Kiến nghị hoàn thiện:
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
Việc tham gia Công ước Berne là một yêu cầu tất yếu đối với Việt
Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng hợp tác quốc tế
trên nhiều lĩnh vực bảo hộ Sở hữu tuệ nói chung và quyền tác giả nói
riêng. Việc tham gia Công ước Berne là một bước tiến trong quá trình hội
nhập của Việt Nam. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, sự phát
triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, việc bảo vệ quyền tác giả
Qua toàn bộ nội dung của Công ước và nhất là các quy định
được ghi nhận tại Điều 5, có thể rút ra các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc đối xử quốc gia: tác phẩm có nguồn gốc
từ các nước thành viên đều được bảo hộ như nhau. Theo đó, tất cả các
quốc gia tham gia công ước Berne sẽ công nhận và bảo vệ quyền các tác
phẩm của các tác giả thuộc các nước thành viên tham gia ký kết trên lãnh
thổ nước mình, không phân biệt bất kỳ quốc gia hay vùng lãnh thổ, khối
liên kết nào khác.
Ngoài ra, các biện pháp bảo hộ quyền tác giả đối với mọi loại hình tác
phẩm, mọi tác giả… trên lãnh thổ các nước thành viên được các quốc gia
áp dụng như nhau và không phân biệt đối xử. Nguyên tắc đối xử quốc
gia đã đặt ra sự bình đẳng trong đối xử với công dân và pháp nhân của
các quốc gia thành viên.
“Đối với những tác phẩm được Công ước này bảo hộ, các tác giả
được hưởng quyền tác giả ở các nước Liên hiệp không phải là quốc gia
gốc của tác phẩm, những quyền do luật của nước đó dành cho công dân
của mình trong hiện tại và trong tương lai cũng như những quyền mà
Công ước này đặc biệt quy định” (Khoản 1, Điều 5, Công ước Berne).
Thứ hai, nguyên tắc bảo hộ tự động. Có nghĩa là, tại các quốc
gia đã tham gia Công ước thì việc hưởng và thực hiện các quyền tác giả
đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật không phải làm bất kỳ thủ tục nào.
Việc bảo hộ được thực hiện kể cả trong trường hợp tác phẩm không được
bảo hộ ở quốc gia gốc.
“Sự bảo hộ trong quốc gia gốc do luật pháp của quốc gia đó quy định.
Tuy nhiên, khi tác giả không phải là công dân của quốc gia gốc của tác
phẩm được Công ước này bảo hộ, thì tác giả đó được hưởng trong quốc
3
gia này quyền như các tác giả công dân nước đó” (Khoản 3, Điều 5, Công
công ước hoặc công bố đồng thời ở một số quốc gia trong đó có 1 nước
đã tham gia công ước. Tác giả không mang quốc tịch của quốc gia đã
4
tham gia công ước nhưng thường xuyên cư trú tại nước đó thì cũng được
xem như công dân của quốc gia đó và tác phẩm của họ cũng được bảo hộ
theo Công ước Berne. Riêng đối với tác phẩm điện ảnh, tác phẩm kiến
trúc sẽ được bảo hộ theo Công ước Berne nếu trụ sở của nhà sản xuất
phim đóng ở nước thành viên công ước, tác phẩm kiến trúc được xây
dựng tại nước đã tham gia công ước cho dù tác giả của chúng không phải
là công dân của nước đã tham gia công ước.
- Thời hạn bảo hộ, được quy định tại Điều 7 và Điều 7 bis của Công
ước Berne là suốt cuộc đời của tác giả và 50 năm tiếp theo, sau khi tác giả
mất. Riêng đối với tác phẩm điện ảnh thì thời hạn bảo hộ là 50 năm sau
khi tác phẩm được phổ biến tới công chúng với sự đồng ý của tác giả
hoặc có thế được tính kể từ khi tác phẩm được thực hiện. Những tác
phẩm khuyết danh hoặc sử dụng bút danh (mà chưa rõ đích danh tác giả)
thì thời hạn bảo hộ cũng là 50 năm kể từ khi tác phẩm được phổ biến tới
công chúng. Riêng đối với tác phẩm sử dụng bút danh sau khi đã rõ tên
thật của tác giả thì sẽ được bảo hộ suốt cả cuộc đời của tác giả và 50 năm
sau khi tác giả mất. Thời hạn bảo hộ đối với tác phẩm nhiếp ảnh và tác
phẩm mỹ thuật ứng dụng, mỹ thuật tạo hình là 25 năm.
Đối với những tác phẩm có đồng tác giả thì việc bảo hộ sẽ được thực
hiện tương tự như tác phẩm có 1 tác giả. Thời hạn bảo hộ tiếp theo sẽ
được tính kể từ khi đồng tác giả cuối cùng chết.
1.3. Điều kiện được bảo hộ
Quyền tác giả được bảo hộ nếu thuộc một trong các trường hợp quy định
tại Điều 3 Công ước Berne:
- Tác giả là công dân hoặc cư trú thường xuyên ở một trong những
- Khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng ngành công nghiệp bản
quyền
Việc gia nhập Công ước Berne có thể làm cho vị thế cạnh tranh của
các tác giả tại thị trường nội địa tăng lên, bởi vì các tác phẩm của tác giả
nước ngoài chỉ có thể được đưa vào thị trường các quốc gia thành viên
khi được họ cho phép; mặt khác cũng không thể duy trì được lâu trên thị
trường các tác phẩm nước ngoài với giá thấp hơn giá nội địa bởi những
đòi hỏi của việc uỷ quyền phân phối tác phẩm không cho phép như vậy.
Đây có thể được xem như là một yếu tố quan trọng đối với việc khuyến
khích sáng tạo và phát triển cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp quyền
tác giả trong nền kinh tế thị trường của các quốc gia thành viên.
- Nâng cao chất lượng thị trường sách dịch
Tham gia Công ước Berne, người Việt Nam sẽ được thưởng thức
nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật hay hơn không chỉ vì nguồn lực sáng
6
tạo trong nước được thúc đẩy, mà còn vì chất lượng nguồn tác phẩm nước
ngoài vào Việt Nam sẽ được chọn lọc kỹ càng hơn.
Lợi ích về mặt kinh tế
- Lợi ích kinh tế vĩ mô
Một khi đã gia nhập công ước Berne thì quốc gia đó trở thành một
bộ phận của hệ thống bảo hộ quốc tế về quyền tác giả đối với các sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ trong hệ thống thương mại quốc tế. Đây là một
điều hết sức quan trọng đối với quá trình giao lưu văn hoá, trao đổi thông
tin, công nghệ và các sản phẩm công nghiệp giải trí.
II.
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ CÓ
vào xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm bản quyền đã thu được
nhiều thành tựu khả quan, tích cực. Chứng tỏ phần nào về việc đề cao
trách nhiệm của các nhà xuất bản khi phải thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận
trước khi xuất bản. Việt Nam đã thoát khỏi TOP 10 thế giới về vi phạm
bản quyền.
- Các hoạt đông kiểm tra, xử lý của các cơ quan thực thi được tăng
cường.
2. Hạn chế:
• Những điểm không tương đồng giữa pháp luật về quyền tác giả theo
pháp luật Việt Nam và các quy định của Công Ước Berne
- Về nội dung quyền tác giả: Sự khác biệt thể hiện ở cách sử dụng các
thuật ngữ: quyền tinh thần, quyền kinh tế trong công ước Berne và quyền
nhân thân, quyền tài sản theo pháp luật Việt Nam. Công ước Berne không
quy định việc công bố hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là nội
dung quyền tinh thần như pháp luật Việt Nam quy định. Cụ thể Bộ luật
DS 2005 và Luật SHTT 2005 quy định quyền công bố tác phẩm và 1cho
phép người khác công bố tác phẩm là quyền nhân thân. Cũng theo đó
pháp luật Việt Nam quy định quyền nhân thân của quyền tác giả bao gồm
quyền nhân thân có thể chuyển giao (quyền công bố tác phẩm hoặc cho
phép người khác công bố tác phẩm) và quyền nhân thân không thể
chuyển giao (bao gồm quyền đặt tên, quyền đứng tên thật hoặc bút danh;
quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác cắt xén,
xuyên tạc tác phẩm dưới bất cứ hình thức nào gây phương hại tới danh dự
và uy tín của tác giả), trong khi Công ước Berne thì cho rằng quyền này
thuộc vào quyền kinh tế
- Về thời hạn bảo hộ quyền tác giả: Công ước Berne quy định thời
hạn bảo hộ tối thiểu còn pháp luật Việt Nam quy định thời hạn cụ thể.
110.
Theo Tổng kết công tác bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan năm 2010 và giai đoạn 2001-2010
Nam nói chung còn hạn chế. Đây là một cản trở rất lớn trong việc thực thi
Công ước Berne ở Việt Nam. Bởi lẽ, dù hệ thống pháp luật có hoàn thiện,
năng lực của cơ quan thực thi được nâng cao, nhưng nếu sự hiểu biết của
toàn xã hội đối với vấn đề bảo hộ quyền tác giả, ý thức tôn trọng pháp
luật không cao thì rất khó để đảm bảo được hiệu quả thực thi. Việc thực
thi chỉ có thể đạt được hiệu quả cao nếu cả 3 yếu tố đảm bảo việc thực thi
nghiêm chỉnh quyền tác giả ở Việt Nam đều đầy đủ gồm: ý thức chủ thể,
hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi. Do vậy, nhận thức của cộng đồng
9
về bảo hộ quyền tác giả nếu chưa được nâng cao sẽ là một trở ngại lớn
trong quá trình Việt Nam thực thi Công ước Berne bởi suy cho cùng
quyền tác giả, quyền liên quan vẫn còn mới mẻ và khá phức tạp tại Việt
Nam.
3. Kiến nghị hoàn thiện:
- Vấn đề pháp lý: cần phải hoàn thiện, chỉnh lý toàn bộ các ngành
luật sao cho hợp lý và đồng bộ. Đối với biện pháp dân sự, để đảm bảo
giải quyết tốt hơn tranh chấp về quyền tác giả, cần phải quy định cụ thể
hơn về các vấn đề: Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn thực thi quyền sở
hữu trí tuệ một cách kịp thời và có hiệu quả. Xác định rõ thẩm quyền của
Tòa án trong việc xét xử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, các chứng cứ
đương sự được sử dụng trong quá trình chứng minh; cơ quan có thẩm
quyền giám định và trình tự, thủ tục giám định; nguyên tắc bồi thường và
xác định mức độ bồi thường khi quyền tác giả bị xâm phạm; Bổ sung
những quy định chi tiết về chế tài đủ mạnh để chống lại các hành vi xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ, tham khảo các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã
áp dụng giải quyết tranh chấp của một số nước trên thế giới.
Đối với biện pháp hình sự, cần tăng mức chế tài xử lý đối với những
tội xâm phạm quyền tác giả cho phù hợp với sự phát triển của các vụ vi
Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước Berne về bảo hộ các tác
phẩm văn học nghệ thuật vào ngày 26/10/2004 và là thành viên thứ 156
của Công ước.
Trong 8 năm gia nhập từ đó đến nay, Việt Nam đã triển khai nhiều
hoạt động nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi bảo hộ quyền tác giả. Việt
Nam đã điều chỉnh hệ thống luật pháp về bảo hộ quyền tác giả cơ bản
tương đối phù hợp với Công ước Berne. Trên cơ sở đó, cùng với việc thi
hành pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, Việt Nam cũng triển khai nhiều
hoạt động quản lý, kiểm tra, tuyên truyền tới cộng đồng, xác lập và thực
thi bảo hộ quyền tác giả nhằm đẩy mạnh hiệu quả thực thi Công ước
Berne.
Tuy nhiên, các quy định pháp luật tốt mới chỉ là tiền đề, là bước đầu.
Điều quan trọng là làm sao phải xây dựng được một cơ chế thực thi hữu
hiệu và đủ mạnh để đưa các quy định pháp luât vào cuộc sống. Và một
thực tế là hiệu quả thực thi Công ước Berne ở Việt Nam chưa cao. Gần 8
năm sau khi Công ước có hiệu lực, tình trạng vi phạm bản quyền vẫn diễn
ra ở mọi lĩnh vực. Điều này xuất phát từ nhiều khó khăn Việt Nam gặp
phải trong quá trình thực thi như hệ thống pháp luật còn đang ở giai đoạn
hoàn thiện nên còn bộc lộ những hạn chế, các cơ quan có thẩm quyền
hoạt động chưa đạt hiệu quả cao, còn gặp nhiều vướng mắc, nhận thức về
quyền tác giả của xã hội còn chưa cao, các chế tài xử phạt vi phạm quyền
tác giả còn chưa đủ mạnh, mạng lưới thông tin bảo hộ quyền tác giả mới
đi vào hoạt động, do tính chất cạnh tranh trong cơ chế thị trường...
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Công ước Berne về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật