Bài tập học kì môn Luật Hành Chính Việt Nam
MỤC LỤC
NỘI DUNG
A. Đặt vấn đề…………………………………………………..
B. Giải quyết vấn đề…………………………………………
I) Các khái niệm liên quan………………………………………
II) Thẩm quyên xử phạt vi phạm hành chính và tính hợp lí của thẩm
TRANG
1
1
1
2
quyền xử phạt vi phạm hành
chính…………………………………………………………….
1) Thẩm quyền xử lí vi phạt vi phạm hành chính…………..
2
2) Đánh giá tính hợp lý của thẩm quyền xử phạt vi phạm hành 3
chính…………………………………………………………………..
III) Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và tính hợp lí của thủ tục 5
xử phạt vi phạm hành chính…………………………………
1) Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính……………………..
1.1) Thủ tục đơn giản………………………………………..
1.2) Thủ tục lập biên bản……………………………………..
2) Đánh giá tính hợp lí của thủ tục xử phạt vi phạm hành
5
6
6
cứu trách nhiệm hành chính về hành vi vi phạm của mình và phải bị xử phạt vi phạm
hành chính. Vậy xử phạt vi phạm hành chính là gì?
Xử phạt vi phạm hành chính: là hoạt động của các chủ thể thẩm quyền, căn cứ
vào các quy định của pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt vi
phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác ( trong trường hợp cần
thiết, theo quy định của pháp luật) đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính.
Như vậy, việc xử phạt vi phạm hành chính phải được tiến hành bởi các chủ thể có
thẩm quyền và tuân theo thủ tục nhất định. Tuy nhiên hiện nay trong văn bản quy phạm
pháp luật hành chính chưa có một văn bản định nghĩa thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính là gì? Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là gì? Mà chỉ liệt kê những chủ
thể nào có thẩm quyền xử phạt và có những thủ tục xử phạt nào.
Để đánh giá tính hợp lí của thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính chúng
ta cần đề cập đến xem vấn đề đó có phù hợp với tình hình phát triển kinh tế- xã hội
không? Phù hợp với tình hình quản lí hành chính nhà nước hiện nay không? Và đặc biệt
là có khả năng áp dụng vào thực tế hay không là vấn đề rất quan trọng.
II) Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và tính hợp lí của thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính.
1) Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Nguyễn Ngọc Lam – 352506
Page 2
Bài tập học kì môn Luật Hành Chính Việt Nam
Theo Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính 2002( Đã được sử đổi, bổ sung năm
2007,2008) thì thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính được quy định tại các Điều từ 28
đến 40 trong Pháp lệnh bao gồm các chức danh có thẩm quyền xử phạt.
Thứ nhất: các chức danh có thẩm quyền chung, theo quy định của Pháp lệnh xử
lí vi phạm hành chính thì các hành vi vi phạm hành chính xảy ra trong các lĩnh vực
quản lí Nhà nước ở địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân nhân( UBND) có thẩm quyền
Bài tập học kì môn Luật Hành Chính Việt Nam
chức năng đó trong quản lí nhà nước .đánh giá thêm, rút ra nhận xét về tác dụng của
việc quy định cụ thể, chi tiết
Thứ ba: Các chức danh khác được trao quyền xử phạt hành chính, theo quy định
của Pháp lệnh thì bao gồm các chức danh như: Bộ đội biên phòng, Giám đốc cảng vụ
hàng không, Giám đốc cảng vụ thuỷ nội địa, Giám đốc cảng hàng hải, Thẩm phán chủ
toạ phiên toà, chấp hành viên thi hành án, Đội trưởng đội thi hành án dân sự.
Có thể nói các chức danh có thẩm quyền xử phạt đã bao quát tương đối đầy đủ
trong các lĩnh vực quản lí từ cấp xã, phường, thị trấn; huyện, thị xã, thành phố trực
thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để đảm bảo nguyên tắc không một
hành vi vi phạm nào xảy ra mà không bị xử phạt, từ đó nâng cao trong công tác quản lí.
( sửa phần nhận xét này cho sâu hơn tí nữa)
2) Đánh giá tính hợp lí về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Như vậy việc quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính rất rộng, việc
quy định này mang lại một sự hợp lý nhất định được thể hiện như sau:
Thứ nhất: Dựa trên sự phát triển kinh tế- xã hội ngày càng nhanh chóng, Pháp
lệnh xử lí vi phạm hành chính 2002( đã được sửa đổi, bổ sung 2007, 2008) được ban
hành là hết sức kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế với mong muốn, nguyện vọng
của nhân dân. Pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật ban hành trong lĩnh vực
này đã từng bước tạo ra một khung pháp lí tương đối hoàn chỉnh về xử phạt vi phạm
hành chính, góp phần tích cực vào việc lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lí hành chính
nhà nước nói chung và trên các lĩnh vực cụ thể nói riêng.
Trong đó việc quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã có sự mở
rộng thêm cho nhiều cơ quan, thủ trưởng các cơ quan và tăng mức phạt nên tạo nên tính
hợp lí trong thẩm quyền xử phạt.
Thứ hai: quy định thẩm quyền phù hợp với yêu cầu của quản lí hành chính:
-Việc quy định như trên đã tránh việc chuyển hồ sơ lên các cấp trên, giảm được
sự phức tạp của thủ tục và thời gian xem xét, tránh được sự lãng phí thời gian của cá
nhân và xã hội. Phù hợp với điều kiện xã hội phát triển mạnh mẽ ngày nay, đặc biệt là
thẩm quyền như trên xuất phát từ yêu cầu " phân cấp" trong quản lí hành chính nhà
nước, chính sự chuyển giao quyền lực từ cơ quan quản lí cấp trên xuống cấp dưới, từ
trung ương xuống địa phương. Đây là sự phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của mỗi cơ quan hành chính nhà nước, tránh sự chồng chéo, lẫn lộn trong xử phạt
hành chính.
Thứ ba phù hợp với tình hình phát triển khách quan của xã hội: mức phạt tiền
của một số chủ thể cũng đã tăng lên đáng kể. Ví dụ: Chủ tịch UBND huyện, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh là 30.000.000 đồng, của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương là 500.000.000 đồng, đã thể hiện mức độ răn đe và sự nghiêm minh
của pháp luật hiện hành,phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay,nhằm hạn chê vi
phạm hành chính xảy ra.
Nguyễn Ngọc Lam – 352506
Page 5
Bài tập học kì môn Luật Hành Chính Việt Nam
Chính vì vậy việc pháp luật quy định thẩm quyền như trên là hoàn toàn có thể
áp dụng được vào thực tế của quản lí hành chính nhà nước, đây là một điều rất khả
quan đáp ứng trong tình hình đất nước phát triển và cải cách bộ máy hành chính hiện
nay.
Tuy nhiên hiện nay trong việc quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
như vậy vẫn có những điểm chưa hợp lí như sau:
Thứ nhất: Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 đã được sửa đổi bổ
sung 2007, 2008 đã liệt kê cụ thể các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính nhưng đây là một điểm không hợp lí vì khi các cơ quan chuyên ngành mới được
thành lập, xuất hiện nhu cầu bổ sung chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính. Tuy nhiên Pháp lệnh thì không thường xuyên sửa đổi bổ sung được.
Thứ hai: các quy định hiện hành về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính chưa
1.1) Thủ tục đơn giản.
Gọi là thủ tục đơn giản vì theo thủ tục này,khi phát hiện hành vi vi phạm hành
chính,người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt ngay. Điều kiện để áp dụng
thủ tục này là:
- Hành vi vi phạm hành chính bi xử phạt cảnh cáo
- Phạt tiền từ 10.000- 200.000 đồng.
- Nhiều hành vi vi phạm hành chính do một người thực hiện mà hình thức xử
phạt đối với hành vi này đều phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000- 200.000 đồng đối
với cá nhân, tổ chức bi xử phạt có thể nộp tiền phạt tại chỗ cho người có thẩm quyền.
1.2) Thủ tục lập biên bản.
Trường hợp xử phạt theo thủ tục có lập biên bản khi phát hiện vi phạm hành
chính thuộc lĩnh vực của mình quản lí thì người có thẩm quyền xử phạt đang thi hành
công vụ kịp thời lập biên bản theo quy định tại Điều 55- Pháp lệnh xử lí vi phạm hành
chính 2002 sửa đổ bổ sung 2008. Biên bản lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ
chức vi phạm một biên bản. Nếu mức phạt vượt quá thẩm quyền xử phạt thì người lập
biên bản phải gửi lên người có thẩm quyền xử phạt.
Thủ tục này khác thủ tục đơn giản ở chỗ, khi phát hiện hành vi vi phạm người có
thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt ngay mà lập một biên bản vi phạm
hành chính, sở dĩ phải lập biên bản vì;
- Hành vi vi phạm phức tạp nên trong thời gian ngắn( ngay khi phát hiện vi
phạm) và với những biểu hiện bên ngoài của hành vi được nhận biết một cách trực tiếp
thường không đủ để đánh giá chính xác các loại vi phạm, tính chất, mức độ của vi phạm
không thể ra quyết định xử phạt ngay. Trong khi đó xử phạt vi phạm hành chính phải
đúng người, đúng vi phạm nên việc ghi lại các sự kiện,hiện tượng, tình tiết, số liệu liên
quan đến vi phạm làm căn cứ để sau đó xử phạt là cần thiết.
Hành vi vi phạm hành chính được phát hiện nhưng người phát hiện không đủ
thẩm quyền xử phạt lại không có mặt tại hiện trường chứng kiến hành vi vi phạm xảy ra
Nguyễn Ngọc Lam – 352506
xã hội và nhu cầu quản lí xã hội của Nhà nước ta.
Tuy nhiên một vấn đề thì không thể tránh khỏi những hạn chế nhất định, vấn đề
thủ tục xử phạt vi phạm hành chính cũng không nằm ngoài quy luật. Những vấn đề
chưa hợp lí cụ thể là:
Thứ nhất: Về việc áp dụng thủ tục đơn giản, chúng ta đều biết điều kiện để áp
dụng thủ tục đơn giản là vi phạm phải đơn giản, rõ ràng ngay khi phát hiện vi phạm,
Nguyễn Ngọc Lam – 352506
Page 8
Bài tập học kì môn Luật Hành Chính Việt Nam
người có thẩm quyền có thể ra quyết định xxử phạt ngayvà hình thức,mức phạtphải
thuộc thẩm quyền của người phát hiện vi phạm thì mới được ra quyết định tại chỗ,
không cần phải biên bản, lưu giữ thông tin chi tiết về vụ vi phạm.
Điều kiện mức phạt thuộc thẩm quyền của người phát hiện vi phạm hành chính,
mức phạt được xác định để áp dụng thủ tục đơn giản là mức phạt cụ thể áp dụng với
từng hành vi, trong khi đó mức phạt để xác định thẩm quyền xử phạt là mức cao nhất
của khung tiền phạt. Như vậy, sẽ có trường hợp mức phạt nằm trong giới hạn phạt theo
thủ tục đơn giản nhưng người phát hiện hành vi vi phạm lại không có thẩm quyền xử
phạt.
Ví dụ: Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành nhiệm vụ phát hiện hành vi nào đó bị
phạt hành chính( khung phạt từ 150.000- 250.000 đồng) nếu không có tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ thì bị phạt 200.000 đồng, phạt theo thủ tục đơn giản nhưng mức cao
nhất của khung tiền phạt là 250.000 đồng nên không thuộc thẩm quyền của chiến sĩ
công an nhân dân.
Các hành vi vi phạm hành chính phải thuộc lĩnh vực quản lý của người xử phạt
mới được áp dụng thủ tục đơn giản, nên sẽ có trường hợp phát hiện ra mà không có
thẩm quyền xử phạt theo thủ tục đơn giản, mà chỉ có quyền đình chỉ theo Điều 53- Pháp
lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi bổ sung 2007,2008 như vậy sẽ
Ví dụ: hành vi vi phạm hành chính có mức phạt trên 100.000 đồngnhưng xảy ra
quá lâu trong thực tế,không phải mọi hành vi hành chính đều được phát hiện kịp thời,
có những trường hợp đã vi phạm quá lâu mới phát hiện ra được, nếu chưa hết thời
hiễuử phạt thì vẫn phải phạt theo thủ tục có lập biên bản. Tuy nhiên biên bản là loại văn
bản dùng để ghi chép ngay tại chỗ sự việc đang diễn ra hoặc vừa mới xảy ra nhằm cung
cấp thông tin về sự việc được ghi chép là cơ sở tiến hành hay kiểm tra hoạt động của
cơ quan nhà nước. Trong trường hợp này, việc lập biên bản hầu như không còn ý nghĩa
vì sự việc xảy ra quá lâu
IV) Hướng hoàn thiện.
Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
Cần phân cấp mạnh mẽ hơn nữa cho các chức danh có thẩm quyền xử phạt cấp
cơ sở bởi đó là lực lượng chủ yếu kiêm tra, phát hiện vi phạm. Việc tăng cường về mức
phạt cho các chức danh này nhằm hai mục đích là nâng cao ý thức trách nhiệm, hiệu
quả hoạt động của họ và giảm tải cho các chức danh có thẩm quyền cao hơn.
Thẩm quyền xử phạt cần gắn liền với thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc
phục hậu quả. Xác định rõ biện pháp khắc phục gắn với hành vi vi phạm trong các Nghị
định của Chính phủ.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định thẩm quyền xử phạt cần giảm bớt
số lượng các chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với một hành vi nhất định.
Quy định về các chức danh có thâm quyền xử phạt thể hiện rõ ràng, cụ thể bên
cạnh đó trong những trường hợp có thể cần áp dụng các quy định theo hướng mở trong
Nguyễn Ngọc Lam – 352506
Page 10
Bài tập học kì môn Luật Hành Chính Việt Nam
các vị trí tương đương, tránh việc sửa đổi bổ sung khi có cơ quan chuyên ngành mới
được thành lập.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam, NXB.CAND, Hà
Nội 2007, 2008
2.Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002( sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008).
3.Viện khoa học pháp lí , Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học về Pháp lệnh xử lí vi phạm
hành chính năm 2002, NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2005.
4. Đặc san về xử lí vi phạm hành chính, Tạp chí luật học, tháng 9/2003. Thủ tục xử
phạt vi phạm hành chính. TS. Bùi Thị Đào.
5. Nguyễn Thị Thủy, Thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội
2001.
6. Nguyễn Thị Dung, Khóa luận tốt nghiệp “ Ban hành văn bản pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính. Thực trạng- Giải pháp, Hà nội 2009.
7. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính- Thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng và
hướng hoàn thiện, Tạp chí luật học, TS. Trần Minh Hương số 8/2008.
8.Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 15/2008
/>
Nguyễn Ngọc Lam – 352506
Page 12