Phương thức xử lý bội chi ngân sách nhà nước theo pháp luật hiện hành - Pdf 34

Mục Lục.
Trang.

A. Lời nói đầu……………………………………………………………..2
B. Nội dung………………………………………………………………..2
I. Những vấn đề lý luận chung……………………………………………………...2
1. Khái niệm ngân sách nhà nước…………………………………………………….2
2. Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước…………………………………………….2
II. Những trường hợp bội chi ngân sách theo pháp luật hiện hành………….......3
1. Thâm hụt theo cơ cấu thu, chi……………………………………………………...3
2. Thâm hụt theo chu kỳ kinh doanh………………………………………………….4
III. Phương thức xử lý bội chi ngân sách nhà nước theo pháp luật hiện hành…..5
1. Phát hành thêm tiền…………………………………………………………………5
2. Vay nợ cả trong và ngoài nước……………………………………………………..6
3. Tăng các khoản thu đặc biệt là thuế………………………………………………...8
4. Triệt để tiết kiệm các khoản chi…………………………………………………….8
5. Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước…………………………………………..9
IV. Ý kiến pháp lý của nhóm……………………………………………………….10
1. Thực trạng bội chi ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay……………………..10
2. Ý kiến pháp lý của nhóm………………………………………………………......12

C. Kết luận………………………………………………………………..13

1


A. Lời Nói Đầu.
Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên là
phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực
có hạn. Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực
tế và sự phát triển trong tương lai. Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi "hợp lý",

1. Thâm hụt theo cơ cấu thu chi.
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình
trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu "không mang
tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước.
Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà
nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm
tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của
Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách
cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.
Một số nguyên nhân trong nhóm nguyên nhân bội chi cơ cấu:
- Đầu tư công kém hiệu quả
Trong 2 năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên
ngoài. Nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm
quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu
tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi
công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí
nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên
nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
- Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ,
miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước. Sử dụng gói giải pháp kích cầu một
mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, sẽ làm mức thâm hụt
ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
3


- Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn.
Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong
ngắn hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài
chính do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm

Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi tiêu ,chính phủ cũng
cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều
vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải
cách thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân và thuế bất động sản. Áp dụng thuế bất
động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngan sách nhà nước, đồng
thời giúp Nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng vì quốc kế
dân sinh.

III. Phương thức xử lý bội chi ngân sách nhà nước theo pháp luật
hiện hành.
1. Nhà nước phát hành thêm tiền.
Phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách có nhược điểm lớn là
chứa đựng nguy cơ lạm phát, tác động tiêu cực đến mọi mặt của đời
sống chính trị, kinh tế , xã hội. Thực tế đã cho chúng ta những bài
quý giá về việc phát hành tiền quá dễ dãi để bù đắp bội chi ngân
sách gây ra lạm phát cao trong thập niên 80. Từ 1-4-1990 chúng ta
đã thành lập hệ thống kho bac Nhà nước trực thuộc bộ tài chính
(người chịu trách nhiệm về bội chi ngân sách Nhà nước) độc lập với
ngân hàng Nhà nước (người chịu trách nhiệm về việc phát hành tiền
vào trong lưu thông) được xem là một cuộc cách mạng cơ cấu nhằm
tách chức năng quản lí quỹ ngân sách Nhà nước ra khỏi chức năng
phát hành tiền, tranh được tình trạng” mang tiền túi nọ bỏ vào tui
kia”.Cơ chế đó đã góp phần tích cực trong việc kiềm chế bội chi và
lạm phát trong những năm qua. Thực tế thì trong những năm qua thì
Nhà nước ta đã không phát hành tiền để trang trai thâm hụt ngân
sách nữa mà thay vào đó là việc phát hành tín phiếu, trái phiếu kho
5


bạc Nhà nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi, những việc

Với các khoản vay trong nước được Chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành
công trái, trái phiếu. Công trái, trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà
nước, là một loại chững khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay nợ trong
dân, các tổ chức kinh tế xã hội và ngân hàng. Ở Việt Nam, Chính phủ thường ủy nhiệm
cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc, trái
phiếu kho bạc hoặc trái phiếu công trình. Hàng năm ngân hàng phải huy động một
khoản tiền nhàn rỗi trong dân tương đối lớn để bù đắp bội chi ngân sách. Để việc huy
động vốn không ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ, đến lãi suất, Bộ Tài chính thực hiện
chính sách trước hết thực hiện vay vốn nhàn rỗi từ các quỹ tài chính nhà nước như:
quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ tích lũy trả nợ… phần còn thiếu sẽ thực hiện phát hành trái
phiếu và tín phiếu chính phủ…
Biện pháp này giúp giảm bội chi ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ
hoặc giảm dự trữ quốc tế. Tuy nhiên, biện pháp vay nợ này tuy không gây ra lạm phát
trước mắt nhưng nó có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ
trong GDP liên tục tăn. Ngoài ra, việc vay trực tiếp từ dân sẽ làm giảm khả năng khu
vực tư nhân tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước.
Đối với các khoản vay nợ nước ngoài, Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách
bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước
ngoài từ các Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài chính thế giới như: ngân hàng thế
giới (WB), quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), ngân hàng phát triển châu Á (ADB), …Viện trợ
nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các Chính phủ, các tổ chức nhằm thực hiện các
chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội, và hiện nay là nguồn vốn phát triển
chính thức ODA.
Biện pháp này mang lại hiệu quả đáng kể, đó là có thể bù đắp các khoản bội chi
ngân sách mà không gây sức ép lạm phát nền kinh tế. Đây cũng là một nguồn vốn quan
trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội
phát triển. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, vay nợ thì sẽ phải trả nợ, việc vay nợ từ
nước ngoài sẽ làm tăng nghĩa vụ trả nợ, giảm khả năng chi tiêu cho Chính phủ. Đối với
7




Như chúng ta đã biết các khoản chi được chia chủ yếu thành hai loại đó là chi cho
đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Việc tiết kiệm các khoản chi trong ngân sách
nhà nước là một yêu cầu thiết yếu không chỉ của nước ta mà còn của mọi mỗi quốc gia
trên thế giới. Khi xảy ra bội chi ngân sách nhà nước thì việc triệt để tiết kiệm các
khoản chi trong ngân sách nhà nước càng trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết.
Việc tiết kiệm các khoản chi bao gồm tiết kiệm các khoản chi đầu tư công và và các
khoản chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước. Đây là một giải pháp tuy mang tính
tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất
hiện lạm phát.
Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là kiềm chế việc chi cho các
khoản chi đầu tư không mang tính chủ đạo, không có khả năng tạo ra những hiệu quả
cần thiết trong quá trình ổn định và phát triển đất nước, đặc biệt những dự án chưa
hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư, ngược lại chỉ nên đầu tư
vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát
triển kinh tế - xã hội, ổn định đất nước, làm tiền đề để phát triển kinh tế.
Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi
thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này
không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết. Vì các khoản chi thường xuyên là những
khoản chi lớn trong ngân sách nhà nước nên việc cắt giảm các khoản chi thường xuyên
không cần thiết chính là một trong những giải pháp thiết thực cho việc kiềm chế bội
chi trong ngân sách nhà nước. Giải pháp này đã được Bộ tài chính áp dụng bằng việc
ra Công văn số 2665/BTC-NSNN ngày 28/02/2011 về việc tiết kiệm 10% chi thường
xuyên nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để thực hiện Nghị quyết số
11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ. Nội dung của công văn đã nêu rõ các
phương pháp phải làm để giảm các khoản chi thường xuyên như: đưa ra công thức
thực hiện tính toán, xác định số kinh phí dự kiến tiết kiệm 9 tháng năm 2011, quản lý
số tiết kiệm, rà soát, sắp xếp, bố trí lại các nhiệm vụ chi thường xuyên trong phạm vi
dự toán còn lại (sau khi đã tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên).

2008

2009

Bội chi NSNN

56500

66900

87309 11970

120600

5%

0
4,82% 6,2%

5,3%

Tỷ lệ bội chi NSNN so với 5%
GDP

10

2010

2011


2011 giảm đáng kể so với 2010. Thực trạng này là do những giải pháp mà chính phủ
đề ra làm tổng sản phẩm trong nước năm 2011 tăng 7 đến 7,5% so với 2010. Đồng thời
kiểm soát được bội chi ở mức 5,3%. Trong năm 2011, ta đã thực hiện tăng cường phối
hợp đồng bộ, chặt chẽ chính sách tài khóa với tiền tệ và những chính sách khác, kiểm
soát đối với một số hàng hóa dịch vụ độc quyền, ngăn chặn và kiên quyết xử lý hành vi
tăng giá bất hợp lý, cắt giảm chi tiêu công. Những chính sách này của nhà nước đã góp
phần kiểm soát được bội chi năm 2011 trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế
giới tương đối “ảm đạm”.
Sang năm 2012, Theo dự toán ngân sách nhà nước 2012 được quốc hội khóa XIII
thông qua vào ngày 10/11/2011 thì mức bội chi ngân sách nhà nước là 140200 tỷ đồng
tức là chiếm khoảng 4,8% GDP. Để thực hiện nghị quyết này, ta giành 30% tăng thu
11


để giảm bội chi, cùng với việc tăng nguồn thu ngân sách trung ương để giảm bội chi, ta
còn giành ra các khản để chi trả nợ, điều đó cũng gián tiếp làm giảm bội chi. Chủ
trương của nhà nước là phải tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt, cơ cấu lại
chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho con người, đảm bảo an sinh xã hội,
điều chỉnh cơ cấu chi cho đầu tư phát triển nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thực
hiện được những chính sách, chủ trương nhà nước đã đề ra thì trong năm 2012 bội chi
sẽ được kiểm soát một cách triệt để.
2. Ý kiến pháp lý của nhóm.
- Cơ cấu lại phương thức thu ngân sách nhà nước.
Thu trong sự phát triển bền vững, bồi dưỡng phát triển, mở rộng
các nguồn thu vững chắc lâu bền. Cần phải xác định mức thu hợp lý,
vừa đảm bảo ngân sách có nguồn thu cao, vừa đảm bảo các đối
tượng thu có đủ điều kiện tài chính để tiếp tục phát triển. Những
nguồn thu từ khu vực kinh tế quốc doanh có một ý nghĩa đặc biệt thì
cần phải chú ý bồi dưỡng thông qua các biện pháp hỗ trợ đầu tư, trợ
giúp khoa học công nghệ, kỹ thuật và nguồn nhân lực. Trước mặt một

trị



hội..

Trong việc chi cho đầu tư xây dựng cơ bản cần phải xem xét lại các
chương trình, các dự án đầu tư băng nguồn ngân sách Nhà nước, bố
trí đầu tư tập trung, có trọng điểm, theo đúng kế hoạch. Nâng cao
vai trò chủ động của cơ quan tài chính trong việc thẩm định các dự
án. Các bộ ngành địa phương phải giành tỷ lệ vốn thích đáng trong
tổng vốn đầu tư cho các lĩnh vực quan trọng như: giáo dục đào tạo, y
tế, xây dựng cơ sở hạ tầng…chuẩn bị thực hiện, giải phóng và đền bù
mặt bằng, bố trí đủ vốn trong nước để đảm bảo giải ngân đối với các
dự án sử dụng vốn nước ngoài. Đồng thời cần phải khắc phục tình
trạng vốn chờ công trình gây thất thoát lãng phí cho ngân sách địa
phương. Bối trí vốn nghiên cứu khoa học, vốn sự nghiệp kinh tế tập
trung cho công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và
ứng dụng kỹ thuật mới, nhất là vấn đề giống, quy trình công nghệ
nuôi trồng, nhân giống cây con.Các địa phương phảI ưu tiên tăng
50%vốn áp dụng khoa học công nghệ cho lĩnh vực nông nghiệp
-nông thôn, tăng 50% vốn cho khuyến ngư đối với các địa phương có
điều kiện phát triển ngành thuỷ sản. Nghiên cứu để ban hành các cở
chế, chính sách tài chính thực hiện luật giáo dục, luật khoa học công
nghệ, Thực hiện cơ chế khoán chi gắn với nhiệm vụ thu đối với các
đơn vị có thu.Nghiên cứu ban hành cơ chế trả lương từ nguồn thu
gắn với nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp.

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status