Bài tập lớn học kỳ.
N02 – TL4 – Nhóm 2
MỤC LỤC
trang
A. Lời mở đầu…………………………………………..………………1
B. Nội dung…..…………………...…………………...………….…….2
I - Nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lí
hành chính nhà nước……………………………..……………...…….2
1. Cơ sở pháp lí và cơ sở thực tiễn.........................................................2
2. Nội dung nguyên tắc………………………..…...…………………..3
II - Đánh giá sự vận dụng của nguyên tắc ở Việt Nam hiện nay...….6
C. Kết luận………………………………………………………….…10
A. LỜI MỞ ĐẦU
1
Bài tập lớn học kỳ.
N02 – TL4 – Nhóm 2
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành pháp là quản lý hành chính nhà nước.
Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của nhà nước, có nội
dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền
lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường xuyên công
việc xây dựng kinh tế văn hóa xã hội và hành chính chính trị. Quản lý hành chính
nhà nước phải được tiến hành trên những nguyên tắc nhất định. Một trong các
hành chính có nội dung là những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện
hoạt động quản lí hành chính nhà nước.
1. Cơ sở pháp lí và cơ sở thực tiễn.
* Cơ sở pháp lí:
Bắt nguồn từ bản chất giai cấp nhà nước ta là nhà nước của dân do dân và vì
dân, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được nhà nước ta ghi
nhận từ rất sớm. Ngay từ Hiến pháp năm 1946, nguyên tắc này đã được ghi nhận
tại Điều 1, sau đó tại Điều 4 Hiến pháp năm 1959, tại Điều 6 Hiến pháp 1980. Và
trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001), nguyên tắc này tiếp tục được ghi
nhận tại Điều 2: “…Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là
liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức”. Với sự
ghi nhận này, nhân dân có quyền tham gia vào hoạt động quản lí nhà nước nói
chung và hoạt động quản lí hành chính nhà nước nói riêng. Quyền được tham gia
vào quản lí các công việc của nhà nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân
được Hiến pháp ghi nhận. Điều 3 Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung 2001) khẳng
định “Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của
nhân dân.”. Quy định này đã đặt nền móng pháp lí cho việc xây dựng và thực hiện
nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lí hành chính nhà nước.
* Cơ sở thực tiễn:
3
Bài tập lớn học kỳ.
N02 – TL4 – Nhóm 2
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra “nhân dân là gốc chính quyền” và thực tiễn
lịch sử đã chứng minh điều đó. Từ thời dựng nước và giữ nước, tư tưởng “lấy dân
làm gốc” đã được áp dụng, đến nay tư tưởng ấy vẫn được giữ vững và đã trở thành
nguyên tắc trong hoạt động quản lí nhà nước nói chung và hoạt động quản lí hành
định hoặc được đề cử. Với tư cách là thành viên của các cơ quan này và là đại biểu
của nhân dân, họ sẽ được trực tiếp xem xét và quyết định các vấn đề quan trọng của
đất nước, của từng địa phương, trong đó có các vấn đề quản lí hành chính nhà
nước. Ngoài cách tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước, nhân dân lao động có
thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước khác (cơ quan hành chính
nhà nước, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử) với tư cách là cán bộ công chức. Khi ở
cương vị là cán bộ viên chức nhà nước thì người lao động sẽ sử dụng quyền lực nhà
nước một cách trực tiếp để thực hiện vai trò người làm chủ đất nước, làm chủ xã
hội, có điều kiện biến những ý chí, nguyện vọng của mình thành hiện thực nhằm
xây dựng đất nước giàu mạnh. Lúc này người lao động có đầy đủ các điều kiện để
biến ý chí, nguyện vọng của mình thành hiện thực góp phần xây dựng đất nước.
Người lao động có thể tham gia gián tiếp vào hoạt động của các cơ quan nhà
nước thông qua việc thực hiện quyền lựa chọn những đại biểu xứng đáng, thay mặt
mình tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương hay địa phương. Ðây
là hình thức tham gia rộng rãi nhất của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính
nhà nước.
*
Tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội
Tổ chức xã hội có vai trò hội tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân, tăng cường sự
nhất trí về chính trị, tổ chức xã hội góp phần ổn định chính trị tạo điều kiện để nhà
nước thực hiện quản lí xã hội. Tổ chức xã hội đại diện cho nhiều tầng lớp, giai cấp
trong xã hội, thay mặt cho quần chúng nhân dân thực hiện quyền lực chính trị,
đồng thời giúp từng cá nhân tích cực phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhà
nước đã ban hành nhiều quy định liên quan tới vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của
các tổ chức xã hội trong quản lí hành chính nói riêng và quản lí nhà nước nói
chung. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân lao động tham gia tích cực
vào hoạt động của các tổ chức xã hội như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội phụ nữ,
Hội liên hiệp thanh niên, Hội cựu chiến binh... . Các tổ chức xã hội này là công cụ
của họ được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
* Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lí
hành chính nhà nước.
Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội là một trong những quyền chính
trị quan trọng nhất của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền làm chủ
6
Bài tập lớn học kỳ.
N02 – TL4 – Nhóm 2
Nhà nước, làm chủ xã hội, thực hiện phương châm mọi công việc của nhà nước,
của xã hội “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Điều 53, Hiến pháp năm
1992 quy định “tham gia quản lí nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn
đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu
quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.”. Cụ thể là tham gia vào các hoạt động
kiểm tra các cơ quan quản lý nhà nước, tham gia trực tiếp với tư cách là thành viên
không chuyên trách trong hoạt động cơ quan quản lý, các cơ quan xã hội, tham gia
với tư cách là thành viên của tập thể lao động trong việc giải quyết những vấn đề
quan trọng của cơ quan, người dân cũng có thể tham gia ý kiến vào các văn bản
pháp luật khi được công bố hỏi ý kiến qua báo chí.... Việc trực tiếp thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước là một hình
thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân lao động phát huy vai trò làm chủ của
mình. Trên cơ sở này, pháp luật quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể của công
dân trong những lĩnh vực khác nhau của quản lí hành chính nhà nước.
Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như quyền tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước, biểu
quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.
Đặc biệt, để đảm bảo cho các quyền của công dân được thực hiện trong quản
biệt, ngoài hình thức trở thành ứng cử viên do Mặt trận Tổ quốc giới thiệu, thì
người lao động còn có khả năng tự ứng cử đã tạo ra nhiều sự lựa chọn cho nhân
dân, tác động tích cực đến nhân dân trong cuộc sống và sinh hoạt cộng đồng. Công
tác tuyên truyền pháp luật hiện nay được đẩy mạnh, nhân dân hiểu biết pháp luật
hơn, thêm vào đó, cơ chế quản lí với các thủ tục đơn giản hơn càng làm phát huy
quyền cơ bản này của công dân.
Nhà nước cũng đã tạo nhiều điều kiện để nhân dân trực tiếp thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh cực quản lí hành chính nhà nước. Ví dụ
như: Trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo; đa số các khiếu nại, tố cáo được giải quyết
kịp thời khuyến khích nhân dân tích cực tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của mình
cũng như của người khác…
Tuy nhiên, nguyên tắc này trong một số trường hợp vẫn không được áp dụng
triệt để, vẫn còn một số vướng mắc, bất cập. Cụ thể:
8
Bài tập lớn học kỳ.
N02 – TL4 – Nhóm 2
Thứ nhất, trong vấn đề bầu cử để tham gia vào cơ quan nhà nước. Có một
thực tế tồn tại là cử tri đi bỏ phiếu không biết mình đang bỏ phiếu cho ai. Trong
luật đã qui định rằng sẽ có các cuộc tiếp xúc cử tri, tuy nhiên vấn đề tổ chức các
buổi tiếp xúc này còn nhiều hạn chế bởi các lí do khác nhau. Thêm nữa, mặc dù số
lượng cử tri đi bỏ phiếu khá cao song một bộ phận cử tri đi bỏ phiếu không có
chính kiến của mình, bỏ với ý thức cho xong chuyện, theo ý kiến số đông. Điều đó
không thể hiện sự lựa chọn ra người đại biểu cho mình, vì thế càng không thể hiện
được sự tham gia của nhân dân vào cơ quan nhà nước dù là gián tiếp. Những người
tham gia bỏ phiếu không hiểu được hết vai trò của công việc bỏ phiếu theo các
ở khu dân cư lại lựa chọn bố trí dân sự còn hạn chế về năng lực trình độ… Từ đó
có thể không đạt được những hiệu quả như mong muốn mà còn có thể có những kết
quả ngược lại. Để nâng cao chế độ tự quản, cấp ủy chính quyền cấp xã cần quan
triệt cho cán bộ, công chức nắm rõ vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của mình để cùng
phối hợp, hỗ trợ ở khu dân cư tốt hơn, tránh việc gì cung giao cho khu dân cư dẫn
đến quá tải không hoàn thành nhiệm vụ. Các cấp cũng cần thường xuyên bồi dưỡng
nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho người tham gia vận động quần chúng ở khu dân
cư… nhằm phát huy tinh thần tự quản của mỗi người dân, mỗi gia đình trong việc
quản lý xã hội và quản lý hành chính.
Thứ tư, vấn đề khiếu nại, tố cáo, đây là một trong những hình thức được đặt
ra nhằm đảm bảo cho quyền của công dân. Tuy nó đã được quy định trong luật về
khiếu nại tố cáo, song thực tế thực hiện vẫn tòn tại nhiều bất cập. Bởi lẽ, khi bảo
đảm quyền lợi của người này thì lại có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi người
khác. Đôi khi vì các mối quan hệ mà những người có thẩm quyền giải quyết ngần
ngại va chạm, và ngần ngại giải quyết. Đặc biệt trong vấn đề tố cáo. Chính những
người dân còn ngần ngại tố cáo khi phát hiện ra những hành vi sai trái của các cán
bộ quản lí. Bởi vậy cần quán triệt hơn vấn đề này để đảm bảo quyền được tham gia
quản lí của người dân.
Trên đây chỉ là số nhỏ trong số những vướng mắc bất cập gặp phải trong quá
trình thực hiện để đảm bảo nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào
quản lí hành chính nhà nước. Từ đây, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần quan tâm
10
Bài tập lớn học kỳ.
N02 – TL4 – Nhóm 2
nhiều đến vấn đề này, từ đó tìm ra các biện pháp khắc phục để nhân dân thực sự
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt Nam,
Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2008.
2.
Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hành chính Việt
Nam, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nôi, 2005.
3.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa
đổi bổ sung năm 2001).
12