dự án kinh doanh rau sạch - Pdf 34

Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
Lời mở đầu
Lập dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003 là một cuộc thi
rất thiết thực và bổ ích cho sinh viên Việt Nam. Đây là cơ hội để sinh viên
thể hiện những ý tởng và biến ý tởng thành sự thật. Hơn thế nữa cuộc thi là
dịp để sinh viên áp dụng những kiến thức và kinh nghiệm học đợc vào thực
tế. Chúng tôi đánh giá rất cao cuộc thi Lập dự án khởi nghiệp của sinh viên
Việt Nam 2003. Cuộc thi của trí tuệ.
Đã từ lâu, chúng tôi: Nguyễn Mạnh Hùng và Vũ Huy Hoàng có ham
muốn, khao khát làm kinh doanh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trờng.
Hoạt động kinh doanh mà chúng tôi muốn hớng tới là trong lĩnh vực kinh
doanh dịch vụ với mục đích: Hoạt động kinh doanh phải đem lại phúc lợi cho
xã hội, góp phần nâng cao sức khoẻ cho nhiều ngời. Hoạt động kinh doanh
có lãi, ít nhất đủ để đảm bảo trang trải cho sinh sống hàng ngày và giúp đỡ
của gia đình trong chi phí học tập của bản thân, bởi cả hai đều xuất thân từ
nông thôn ra Hà Nội học đại học. Hơn thế nữa đối với chúng tôi hoạt động
kinh doanh là bớc đầu ứng dụng lý thuyết vào thực tiễn và tự khẳng định bản
thân.
Hởng ứng cuộc thi Lập dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam
2003. Chúng tôi đã quyết định triển khai xây dựng và thực hiện dự án Rau
Xanh. Dự án Rau Xanh sẽ mở một của hàng chuyên bán các loại rau sạch
nhằm mục đích cung cấp cho ngời tiêu dùng sản phẩm rau sạch có chất lợng
cao với chất lợng phục vụ cao nhất trên tinh thần tất cả vì khách hàng, vì sức
khoẻ ngời tiêu dùng. Nhiều ngời nghĩ rằng, mở một cửa hàng rau sạch thật là
đơn giản ai cũng có thể làm đợc. Nhng thực tế thật không đơn giản chút nào
bởi điều khó khăn nhất là làm thế nào để ngời tiêu dùng tin tởng vào chất l-
ợng rau là sạch. Cửa hàng Rau Xanh biết cách làm thế nào để khách hàng
biết và tin rau bán là rau sạch. Chúng tôi sẽ tập trung vào việc tạo dựng niềm
tin chất lợng, làm cho khách hàng an tâm và tin dùng sản phẩm rau của cửa
hàng. Trên cơ sở hình ảnh" Rau Xanh" đã tạo dựng đợc chúng tôi còn muốn
và sẽ thành lập một hệ thống các cửa hàng rau sạch trên khắp địa bàn Hà Nội

- Mở đại lý và trở thành cơ sở bán rau sạch cho các tổ chức sản xuất rau
sạch nh các Hợp Tác Xã sản xuất rau sạch.
Đối với phơng án này, chúng tôi không có đợc sự tự chủ, phải chịu sự
quản lý chi phối của các tổ chức sản xuất rau sạch. Chúng tôi muốn tự mình
độc lập kinh doanh và toàn quyền quyết định về các hoạt động kinh doanh
của mình.
- Tự mình tiến hành hoạt động kinh doanh: Nhập rau sạch từ nơi sản xuất
rau sau đó bán trực tiếp cho ngời tiêu dùng. Đây là hoạt động kinh doanh
dịch vụ phù hợp với chúng tôi và đợc chúng tôi lựa chọn. Với sự lựa chọn này
chúng tôi hoàn toàn tự chủ, không chịu sự kiểm soát, chi phối, lệ thuộc vào
nơi sản xuất rau sạch và thuận lợi cho kế hoạch phát triển trong tơng lai:
Đại học Kinh tế Quốc dân 3
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
Thiết lập mạng lới các cửa hàng bán rau sạch trên cơ sở hình ảnh cửa hàng đã
tạo dựng đợc.
Nh vậy lĩnh vực kinh doanh của chúng tôi là: Kinh doanh dịch vụ với
sản phẩm là các loại rau sạch bán trực tiếp cho ngời tiêu dùng cuối cùng.
Trên thực tế có rất nhiều cơ hội kinh doanh để chúng tôi lựa chọn, song
chúng tôi quyết định chọn hình thức kinh doanh bán rau sạch vì hoạt động
kinh này có cơ hội thành công lớn cho chúng tôi. ý tởng nảy sinh chỉ là sự
khởi đầu, việc chúng tôi quyết định sự lựa chọn này là hoàn toàn xuất phát từ
yếu tố chủ quan và khách quan.
Yêú tố khách quan
- Hiện nay các loại rau không hợp vệ sinh, không đợc kiểm soát, quản lý
về chất lợng đợc bày bán, trôi nổi trên thị trờng. Việc phân biệt rau sạch và
không sạch bằng mắt thờng là rất khó khăn, điều này gây lo lắng, không an
tâm đối với ngời mua rau về sức khoẻ của mình.
- Đời sống nhân dân thủ đô ngày càng đợc nâng cao, trình độ dân trí
ngày càng tăng lên, ngời dân có điều kiện quan tâm tới sức khoẻ nhiều hơn
mà rau là món ăn hàng ngày vì thế ngời dân rất chú trọng quan tâm tới sử

lập kế hoạch kinh doanh, tiến hành hoạt động kinh doanh một cách có hiệu
quả chứ không phải ảo tởng.
- Chúng tôi là những ngời có sức khoẻ tốt, có sự tự tin, có kinh nghiệm
về quản lý, thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trờng.
- Kinh doanh rau sạch không đòi hỏi quá phức tạp về kiến thức kỹ thuật
chuyên môn. Đồng thời không đòi hỏi vốn qúa lớn, nên rất phù hợp với
chúng tôi.
- Điều quan trọng nhất quyết định sự thành công của dự án là chúng tôi
đã nắm bắt đợc nhu cầu khách hàng và biết đợc cách làm cho khách hàng tin
tởng vào chất lợng rau sạch của dự án.
Nhận xét đánh giá :
Qua phân tích chúng tôi thấy rằng việc thực hiện dự án là rất phù hợp
với tình hình khả năng hiện có của mình, đảm bảo cho sự thành công của
dự án.
4. Mô hình doanh nghiệp sẽ thành lập.
Có nhiều loại hình doanh nghiệp để tiến hành kinh doanh dịch vụ bán
rau sạch nh công ty TNHH, DNTN Nh ng chúng tôi quyết định chọn mô
hình Hộ Kinh Doanh Cá Thể với hình thức cửa hàng chuyên bán các rau sạch
với tên gọi của là cửa hàng Rau Xanh .
Đây là mô hình phù hợp nhất với điều kiện hiện nay của chúng tôi với
những lý do sau:
- Thủ tục đăng ký, thành lập đơn giản dễ dàng.
- Tổ chức, quản lý đơn giản phù hợp với 2 thành viên, hiện đang là sinh
viên cha có nhiều kinh nghiệm về quản lý hơn nữa lại vừa học vừa làm.
Đại học Kinh tế Quốc dân 5
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
- Vốn đầu t bỏ ra ít, thu hồi vốn nhanh.
- Đợc nhiều u đãi của nhà nớc: Về điều kiện kinh doanh, về các loại
thuế.
- Dễ dàng chuyển đổi sang hình thức doanh nghiệp khác cho phơng án

vào hoạt động.
(Sơ đồ về thị trờng và địa điểm cửa hàng ở phụ lục 3)
Đại học Kinh tế Quốc dân 6
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
II. Phân tích thị trờng.
1. Phân tích môi trờng vĩ mô
Môi trờng vĩ mô (kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính sách) có ảnh hởng
rất quan trọng tới dự án. Trong điều kiện hiện nay, môi trờng vĩ mô rất thuận
lợi cho dự án.
Môi trờng kinh tế
Việt Nam đang trên con đờng đổi mới và phát triển. Kinh tế tăng trởng
nhanh và ổn định, mức sống của nhân dân không ngừng đợc nâng cao đặc
biệt là ở thủ đô Hà Nội. Ngời dân bắt đầu có nhiều điều kiện để quan tâm tới
sức khoẻ của mình nhiều hơn trong đó có tiêu dùng rau sạch. Hiện nay nhu
cầu rau sạch là rất lớn, đối với phần lớn các hộ gia đình tỷ lệ chi tiêu cho tiêu
dùng rau chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong thu nhập, nhu cầu có khả năng thanh toán
về rau sạch là rất lớn. Đây là yếu tố thuận lợi trong việc tiêu thụ rau sạch của
cửa hàng, đem lại cơ hội thành công lớn của dự án.
Môi trờng tự nhiên
Khí hậu Việt Nam là nhiệt đới gió mùa, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi
cho trồng các loại rau, quả với số lợng lớn, đa dạng và ổn định. Các loại rau
quả có quanh năm và rất đặc trng theo mùa. Điều này rất thuận lợi cho cửa
hàng cung cấp đợc nhiều loại rau đa dạng và ổn định, hoạt động kinh doanh
đợc diễn ra liên tục và thuận lợi khi mở rộng qui mô cửa hàng.
Môi truờng công nghệ
Ngày nay khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học đang rất
phát triển. Sự tiến bộ của khoa học ứng dụng trong nông nghiệp sẽ cho phép
tạo ra nhiều loại giống, cây rau mới có chất lợng tốt, qui trình, kỹ thuật sản
xuất rau tiến bộ sẽ nâng cao chất lợng các loại rau và ít phụ thuộc vào thời
tiết hơn. Kỹ thuật trồng rau sạch đợc phổ biến rộng rãi hơn sẽ xuất hiện nhiều

này, chúng tôi nhận thấy cầu về rau sạch là rất lớn song điều đáng quan tâm
nhất là ngời tiêu dùng cha tin rau bán ở các cửa hàng rau sạch là rau sạch.
Chính vì vậy, trong đợt II điều tra chính thức, chúng tôi đã bổ xung câu hỏi
mang tính quyết định cho sự thành công của dự án (câu hỏi số 5 của bảng
điều tra : "Điều gì làm cho Ông (bà) tin rằng rau bán ở cửa hàng rau là rau
sạch?").
Đợt II : Ngày 6/7/2003, đợt điều tra chính thức, chúng tôi đã tiến hành
điều tra trên các phố : Vơng Thừa Vũ, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Ngọc Nại và
Tô Vĩnh Diện.
Tổng số phiếu phát ra là 300 phiếu ( Mẫu phiếu ở phụ lục 2).
Số phiếu khai thác đợc là 273 phiếu.
Số phiếu không khai thác đợc là 27 phiếu.
27 phiếu này do đang trực tiếp phỏng vấn thì ngời đợc phỏng vấn vội việc
và từ chối phỏng vấn tiếp nên trên phiếu điều tra không đầy đủ thông tin nhận
đợc. Trong phiếu điều tra các câu hỏi 1, 4, 5 dành cho cả những ngời đợc hỏi,
riêng câu hỏi 2 chỉ dành cho ngời biết có cửa hàng rau sạch, câu 3 chỉ dành
cho ngời không biết.
Kết quả của cuộc điều tra đã cung cấp cho dự án những thông tin hết sức
quan trọng trong đánh giá cầu về rau sạch và nắm bắt nhiều thông tin của đối
thủ cạnh tranh dới con mắt của khách hàng.
Kết quả của cuộc điều tra nh sau :
Đại học Kinh tế Quốc dân 8
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
Với câu hỏi đầu tiên : Ông (bà) có biết cửa hàng bán rau sạch nào trên
phố Vơng Thừa Vũ, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Ngọc Nại, Tô Vĩnh Diện? Có
112 ngời không biết chiếm 41,03% . Biết: 116 ngời chiếm 58.97%
Trong số những ngời biết (161 ngời) có cửa hàng bán rau sạch trong khu
vực thị trờng thì có tới 78,2% (tức 126 ngời) thờng xuyên mua rau tại các cửa
hàng này. Song điều đáng quan tâm là đại bộ phận ngời mua rau ở đây là vì
họ cho rằng : có hai nơi mua rau ở chợ gần nhà và ở cửa hàng rau sạch thì

Làm đợc điều này thì cửa hàng"Rau Xanh" sẽ có đợc những khách hàng trên.
Với câu hỏi cuối cùng : Điều gì làm cho ông (bà) tin rằng rau bán ở cửa
hàng là rau sạch?
Với câu hỏi này chúng tôi đã tìm đợc câu trả lời mang tính quyết định
cho sự thành công cuả dự án và có những biện pháp để giành đợc u thế cạnh
tranh vợt hẳn so với đối thủ.
Đại học Kinh tế Quốc dân 9
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
Tuyệt đại bộ phận chỉ tin là rau sạch nếu có tối thiểu các thông tin sau :
Sản phẩm có đầy đủ thông tin về nơi sản xuất, cơ quan bảo đảm về chất
lợng rau.
Thông tin về quy trình sản xuất, thời hạn sử dụng rau.
Sản phẩm đợc dán tem bảo đảm chất lợng và có bảo hiểm.
Sản phẩm có uy tín về chất lợng : Ví dụ Huy chơng Vàng chất lợng rau
an toàn.
Thờng xuyên đợc cơ quan kiểm tra chất lợng sản phẩm kiểm tra trực
tiếp tại cửa hàng bán rau.

Nhận xét đánh giá:
Nh vậy qua phân tích nhu cầu thị trờng. Chúng tôi nhận thấy đợc
một số điều hết sức quan trọng sau:
Thứ nhất : Ngời dân rất quan tâm tới sức khoẻ trong đó có việc dùng
rau trong bữa ăn hàng ngày. Họ rất lo lắng về rau không sạch đợc bán
nhiều trên thị trờng nhng lại khó nhận biết, phân biệt với rau sạch .
Thứ hai : Nhu cầu về rau sạch là rất lớn, chi tiêu cho mua rau chiếm tỷ
lệ rất nhỏ trong thu nhập, ngời tiêu dùng sẵn sàng bỏ ra chi phí gấp 1,5

2
lần để mua rau sạch (tức là sẵn sàng trả giá đắt hơn để có đợc rau sạch).
Thứ ba : Hình thức trình bày, thông tin bao gói về sản phẩm rau rất

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy quầy rau sạch này có những hạn chế rất
lớn, và trả lời đợc câu hỏi tại sao nhu cầu rau sạch trong khu vực thị trờng rất
lớn mà mỗi ngày cửa hàng chỉ bán đợc 50 60 kg rau :
+ Không gian của cửa hàng rất chật hẹp, diện tích của cửa hàng khoảng
13 m
2
vừa là nơi sinh hoạt ăn ngủ, vừa là cửa hàng để bán rau. Diện tích để
bày bán chỉ 6 m
2
. Cách trang trí bên trong cửa hàng không hợp lý.
Đồ dùng, dụng cụ để đựng rau : Rổ, rá, dàn đựng rau bằng gỗ đã dùng lâu
ngày ít khi đợc cọ rửa, trông mất vệ sinh. Điều này tạo cảm giác không tin t-
ởng cho ngời tiêu dùng khi mua rau ở cửa hàng.
Quầy rau vừa hẹp lại nóng, không có quạt mát cho ngời vào mua hàng,
rau bán vào buổi chiều thờng héo, không còn tơi ngon nh buổi sáng, kém hấp
dẫn với ngời mua rau.
Cách bày bán, sắp xếp sản phẩm thiếu thẩm mỹ và sức hấp dẫn ngời mua
hàng : Các loại rau đợc xếp đặt lẫn lộn, không theo thứ tự, hàng lối, gây cảm
giác khó chịu cho khách hàng khi lựa chọn mua nhiều loại rau.
+ Để kiểm tra nguồn gốc xuất xứ của rau và khả năng của ngời bán
hàng. Chúng tôi đã nhiều lần vào cửa hàng mua rau và hỏi trực tiếp chủ hàng:
"Làm sao biết rau ở đây là rau sạch?". Chúng tôi nhận đợc câu trả lời hết sức
bất ngờ : Chủ cửa hàng dựa vào biển hiệu rau sạch treo trên cửa hàng và tin
rằng khi mua rau tự ngời tiêu dùng sẽ biết đâu là rau sạch, đâu là rau thờng.
Lý do đa ra là không thoả đáng, hoàn toàn không có sức thuyết phục
khách hàng : Bởi vì rau sạch và không sạch hình thức bên ngoài rất giống
nhau khó mà nhận biết đợc. Hơn thế nữa, rau không sạch thờng gây tác hại
sức khoẻ lâu dài từ từ chứ không tác động tức thời để ngời tiêu dùng nhận
biết đợc ngay (trừ một số loại rau có hàm lợng độc tố quá cao).
Mỗi túi rau có kèm theo một mảnh giấy ghi các thông tin về hợp tác xã

Diện tích cho trng bày, bán sản phẩm rau sạch chỉ chừng 2 2,5 m
2
với
số lợng rau ít, không đa dạng. Điều này không thực sự tạo sự chú ý của ngời
tiêu dùng bởi đây không phải là cửa hàng chuyên kinh doanh rau sạch.
Rau đợc bọc trong túi bóng, trên túi bóng có ghi các thông tin về tính chất
của thơng hiệu (chỉ đạo quy trình sản xuất rõ ràng, địa chỉ sản xuất, đặc điểm
sản phẩm, trên túi còn có tem bảo đảm về chất lợng). Ngoài những thông tin
trên đó, không có thông tin nào nói về vị trí và uy tín chất lợng của nơi sản
xuất, cung ứng rau, điều này cha gây đợc niềm tin của ngời tiêu dùng đối với
cửa hàng.
+ Cửa hàng vừa bán rau đóng gói, lại vừa bán rau lẻ không đóng gói
với giá ngang nhau. Rau đóng gói có đầy đủ thông tin, rau bán lẻ không hề
có thông tin gì về nhà cung cấp, không có chứng nhận về chất lợng. Điều này
gây cho ngời tiêu dùng sự nghi ngờ, tại sao lại vừa bán rau đóng gói, vừa bán
lẻ rau? Phải chăng rau bán lẻ là rau không sạch? Tất cả những điều đó sẽ làm
giảm đi sự tin tởng của ngời tiêu dùng với cửa hàng hơn thế cửa hàng mới chỉ
đi vào hoạt động cha có nhiều khách quen.
+ Trong ngày cửa hàng chỉ nhập rau một lần là vào buổi sáng để bán
cả ngày. Với rau đóng gói, đến buổi chiều thờng bị héo, không còn hấp dẫn
ngời mua.
+ Thông tin bảo hiểm ghi trên bao gói (Ngời mua rau ở cửa hàng sẽ đ-
ợc bảo hiểm, bồi thờng thiệt hại nếu ăn rau bị ngộ độc ) không thực sự làm
ngời tiêu dùng tin tởng bởi : dùng rau không sạch, không đảm bảo chất lợng
thì ngời tiêu dùng sẽ khó nhận biết đợc ảnh hởng rõ rệt của nó tới sức khoẻ .
Bởi nó tác hại tới sức khoẻ không phải là tức thời, ngay lập tức mà là dần dần,
và về lâu dài. Chính vì thế mà mặc dù có bảo hiểm song theo chúng tôi cửa
hàng vẫn cha thực sự tạo đợc tin tởng với ngời tiêu dùng.
Đại học Kinh tế Quốc dân 12
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003

+ Những giờ cao điểm nh là buổi chiều tối số lợng khách hàng vào
mua hàng rất đông. Ngời vào mua rau phải xếp hàng chờ đợi thanh toán tiền
lâu và mất thời gian. Điều này không tiện dụng cho ngời mua rau và đôi khi
còn tạo cảm giác khó chịu.
+ Siêu thị 1E Trờng Chinh: vào siêu thị phải gửi xe và mất tiền vé. Xe
đạp 500đ/lợt, xe máy 1000đ/lợt. Nh vậy là chi phí cho việc vào mua rau là
tăng lên không thu hút đợc ngời vào mua rau. Hơn thế nữa việc lấy xe ở các
bãi gửi xe thờng lâu và mất thời gian do số lợng xe rất lớn.
+ Giá rau ở các siêu thị là rất cao so với các cửa hàng rau sạch và rau
đợc bán ngoài chợ. Ví dụ về giá một số mặt hàng rau thông dụng hiện nay.
Loại rau
(1kg)
Cửa hàng rau
sạch
Chợ
Siêu thị 1E
Trờng Chinh
Siêu thị Hà
Nội Marko
Đại học Kinh tế Quốc dân 13
Dự án khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam 2003
Rau muống 3000đ 2000đ 7500đ 6000đ
Rau ngót 4500đ 2500đ 7500đ 10000đ
Mùng tơi 3000đ 2000đ 7500đ 8000đ
Cải ngọt 4000đ 3000đ 10000đ 6000đ
+ Các siêu thị cha có đội ngũ nhân viên bán rau chuyên nghiệp, không
có dịch vụ kèm theo nh: Giới thiệu về các loại rau, nhặt rau cho khách
hàng
Bảng phân tích đối thủ cạnh tranh
Điểm mạnh Điểm yếu

Sản phẩm đa dạng.
Rau tơi.
Giá rẻ
Chất lợng phục vụ thấp.
Rau không đợc kiểm tra,
kiểm duyệt.
Chất lợng không đảm bảo
Rau bán trong
siêu thị
1E Trờng
Chinh, Hà
Nội Marko
Rau bán trong siêu thị
Có hệ thống bảo quản tốt
Rau không có thông tin,
chứng nhận chất lợng
Giá quá cao
Mất nhiều thời gian lấy xe,
thanh toán tiền
Tiếp thị, bán hàng kém
Nhận xét đánh giá:
Qua phân tích đối thủ cạnh tranh chúng tôi rút ra đợc nhận xét quan trọng
về đối thủ cạnh tranh:
+ Rau bán ở cửa hàng rau sạch : Chất lợng phục vụ cha tốt, không có dịch
vụ kèm theo cho khách hàng. Có thông tin về bao gói sản phẩm song cha
thực sự tạo đợc sự tin tởng đối với ngời tiêu dùng về rau bán ở cửa hàng là
rau sạch. Diện tích cửa hàng nhỏ, chật hẹp, không hấp dẫn ngời mua rau.
Có 41.03% ngời đợc hỏi không biết có cửa hàng rau sach nào trên bốn phố
Vơng Thừa Vũ, Nguyễn Ngọc Nại và Tô Vĩnh Diện.Chứng tỏ các biện pháp
thông tin, quảng cáo cha có hoặc có nhng cha hiệu quả.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status