Đặt vấn đề:
A)
Đối với nước ta hiện nay, thực hiện việc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là một mô thức không có
tiền lệ thì việc đòi hỏi phải củng cố và hoàn thiện một hệ thống lý luận khoa
học sắc bén, trong đó có lý luận về vấn đề sở hữu là tất yếu khách quan. Nó
không chỉ là kim chỉ nam cho hành động kinh tế của đất nước, mà còn góp
phần giải quyết, tháo gỡ vướng mắc, khắc phục sai lầm lệch lạc của thực tiễn
quản lý điều hành phát sinh vì sự hoàn thiện của chế độ sở hữu XHCN, từ đây
tạo ra cái nền vật chất pháp lý cho công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước, phấn đấu cho mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh. Và sở hữu tư nhân là một yếu tố góp phần không nhỏ đối với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ những vấn đề còn nhiều khúc mắc đó, bài tập lớn học kỳ của em xin đi
vào làm rõ về sở hữu tư nhân cũng như vai trò của nó trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
B)
I)
1.
a)
Giải quyết vấn đề:
Sở hữu tư nhân.
Khái niệm và sự hình thành sở hữu tư nhân.
Các khái niệm có liên quan.
- Như thế nào là sở hữu?
Theo quan điểm của Mác xít khái niệm gốc của sở hữu là "Sự chiếm hữu".
Theo đó: Sở hữu là hình thức xã hội - lịch sử nhất định của sự chiếm hữu, cho
vậy quyền sở hữu là một phạm trù pháp lý. Nó có nhiệm vụ xác lập và bảo vệ
quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối tượng
tài sản thuộc quyền sở hữu của mình. Với tư cách là một chế định pháp luật,
quyền sở hữu chỉ ra đời khi xã hội có phân chia giai cấp và có Nhà nước. Còn
theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho
phép một chủ thể được thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
trong những điều kiện nhất định (quyền năng dân sự). Ngoài ra theo một
phương diện khác quyền sở hữu là một quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu
(có ba yếu tố: Chủ thể, khách thể, nội dung).
-
Chế độ sở hữu là gì?
Phạm trù sở hữu khi được thể chế hoá thành quyền sở hữu (như trình bày ở
trên), được thực hiện thông qua cơ chế nhất định gọi là chế độ sở hữu. Chế độ
sở hữu được Nhà nước xác lập và được ghi nhận trong Hiến pháp. Nó chứa
đựng hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu và cơ chế, điều kiện, thủ tục
pháp lý để áp dụng, thực hiện các quy phạm đó.
b)
Khái niệm sở hữu tư nhân.
Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của từng cá nhân về tư liệu sinh hoạt,
tiêu dùng và những tư liệu sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu vật chất
và tinh thần của cá nhân. Từ điều 211 đến điều 213 trong Bộ Luật Dân sự có
nêu về sở hữu tư nhân:
- Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình.
- Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư
nhân.
của lịch sử phát triển của loài người với tính chất và mức độ thể hiện khác
nhau:
* Trong chế độ chiếm hữu nô lệ: Pháp luật của nhà nước chủ nô duy trì và bảo
vệ chế độ sở hữu của chủ nô đối với tất cả các tư liệu sản xuất của xã hội ngay
cả sở hữu bản thân người nô lệ (nô lệ là công cụ biết nói không được xem là
người). Ở đây, trình độ tư hữu của còn thấp nhưng tính chất khắc nghiệt và
bất bình đẳng là tuyệt đối.
* Trong xã hội phong kiến: Sở hữu đẳng cấp phong kiến thể hiện rõ ở chế
độ"phong tước, cấp điền" của các vua chúa phong kiến. Nhà nước và pháp
luật phong kiến bảo vệ, duy trì chế độ sở hữu của địa chủ lãnh chúa phong
kiến đối với ruộng đất và duy trì tình trạng nửa phong kiến của nông dân và
giai cấp phong kiến.
* Trong chế độ tư bản chủ nghĩa: Trên cơ sở tan rã dần của sở hữu phong
kiến đã xuất hiện và phát triển quan hệ sở hữu tư sản. Đó là chế độ chiếm
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư
(do công nhân làm thuê sáng tạo ra bị giai cấp tư sản chiếm không). Ở đây là
giai đoạn của trình độ tư hữu gắn với đặc trưng của xã hội tư bản. Chế độ tư
hữu được qui định là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Giai cấp tư sản với
phương pháp, thủ đoạn bóc lột mới với trình độ cao tư hữu trong xã hội tư
bản chủ nghĩa nằm chủ yếu tập trung trong tay giai cấp tư sản, các tập đoàn
tư bản, các nhà tư bản nắm trong tay tư liệu sản xuất.
* Trong thời kỳ quá độ lên CNXH: Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê nin thì có 2 phương thức quá độ lên CNXH. Đối với những nước như nước
ta quá độ lên CNXH từ một nước nghèo, lạc hậu chưa qua giai đoạn phát
triển TBCN, thì nhất thiết cần có một thời kỳ lịch sử với sự tồn tại của đa
thành phần kinh tế với đa hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân để sử
dụng sức mạnh và ưu thế của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng
hoá, tất cả nhằm tạo ra tiền đề xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho
CNXH. Mặc dù vậy, trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
lượng, giá trị. Tuy nhiên, cá nhân không được sở hữu đối với tài sản mà pháp
luật quy định không thể thuộc sở hữu tư nhân. Đó là các tài sản theo quy định
tại điều 212 Bộ luật Dân sự.
4.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân.
Tài sản thuộc sở hữu tư nhân được pháp luật quy định rất đa dạng về căn cứ
phát sinh, không giới hạn về số lượng, giá trị tài sản. Theo quy định của pháp
luật thì “ tài sản hợp pháp thuộc hình thức sở hữu tư nhân không bị hạn chế
về số lượng, giá trị”, sự hạn chế đó chỉ trong trường hợp “ cá nhân không
được sở hữu đối với tài sản mà pháp luật quy định không thể thuộc hình thức
sở hữu tư nhân” . Tài sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm :
-
Các thu nhập hợp pháp :
Của cải để dành :
Nhà ở :
Tư liệu sinh hoạt :
Tư liệu sản xuất :
Vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân là tài sản
5.
thuộc hình thức sở hữu tư nhân.
Nội dung của sở hữu tư nhân.
Cá nhân là chủ thể của sở hữu tư nhân có quyền thực hiện các quyền năng
trong nội dung của quyền sở hữu tư nhân một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
phương thức sản xuất mà trong đó nó vận động. Nó bao giờ cũng gắn bó hữu
cơ với hệ thống các quan hệ sản xuất và trao đổi của từng thời đại kinh tế, với
các quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối của từng phương thức sản
xuất trong lịch sử. Sự gắn bó đó chặt chẽ đến mức chúng ta có thể nói đến nền
kinh tế hàng hóa của xã hội nô lệ; nền kinh tế hàng hóa giản đơn trong lòng
xã hội phong kiến. Đến chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa giản đơn trở thành
kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa, trở thành kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa. Và, trong chủ nghĩa tư bản, những quan hệ kinh tế của kinh tế thị
trường và của chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào nhau thành một thể thống
nhất. Điều đó gây nên rất nhiều sự nhầm lẫn của kinh tế học tầm thường. Chỉ
có sự trừu tượng hóa khoa học của những người mác-xít mới phân tích được
bản chất và đặc điểm của kinh tế thị trường của từng phương thức sản xuất
trong lịch sử.
Cho đến nay, nhân loại mới chỉ biết đến nền kinh tế thị trường tư bản chủ
nghĩa như là nền kinh tế phát triển ở trình độ cao. Nhân loại chưa biết đến
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi vì ở nơi mà chủ
nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời thì lại không phát triển thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa; còn ở nơi phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thì chủ nghĩa xã hội chưa phát triển hoàn chỉnh.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là một điểm đột phá lý
luận, một mô hình thực tiễn đang trong quá trình thử nghiệm, là sự phủ định
con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp. Đương
nhiên, đó không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, tuy rằng nó
có thể học hỏi nhiều điều từ nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hiện đại.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có bản chất kinh tế khác
năm qua, thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước,
được sự đồng tình và hưởng ứng tích cực của nhân dân, kinh tế tư nhân gồm
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, hoạt động dưới hình thức
hộ kinh doanh cá thể và loại hình doanh nghiệp tư nhân đã phát triển rộng
khắp trong cả nước; đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động
các nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định
chính trị – xã hội của đất nước. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát
triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc
đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, tăng thêm số lượng công nhân, lao động và doanh nhân Việt Nam,
thực hiện các chủ trương xã hội hóa y tế, văn hóa, giáo dục…”.
Lượng hóa vấn đề trên, ta thấy kinh tế tư nhân có những đóng góp tích cực
sau đây:
- Thứ nhất, đóng góp nổi trội nhất của kinh tế tư nhân trong thời gian qua là
tạo thêm được nhiều việc làm, góp phần quan trọng thu hút nhiều lao động
trong xã hội, nhất là những người đến tuổi lao động chưa có việc làm, giải
quyết số lao động dôi dư từ các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước do tinh
giảm biên chế hay giải thể. tính đến cuối năm 2008 thì các doanh nghiệp tư
nhân chính thức đã tạo ra được 4,3 triệu việc làm, chiếm hơn 54% tổng số
việc làm của các doanh nghiệp chính thức tạo ra và gấp gần bốn lần tổng số
việc làm mà các doanh nghiệp nhà nước trung ương tạo ra. Như vậy, số
lượng lao động mà doanh nghiệp dân doanh tạo ra trong giai đoạn này cũng
đã tăng đáng kể tăng hơn 505%. Con số này rõ ràng đã nói lên rất nhiều điều
về chất lượng của khu vực kinh tế này về phương diện tạo việc làm. Số việc
làm tạo ra đã góp phần rất lớn cho quá trình phát triển kinh tế, cải thiện thu
nay cũng có mức tài sản trung bình là 14 tỉ đồng và mức doanh thu thuần
trung bình là 17 tỉ đồng, tăng hơn rất nhiều so với những năm đầu thập kỷ.
- Thứ ba, đóng góp vào GDP với tỷ trọng khá lớn và ổn định.
Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp với tỷ trọng khá lớn
vào sự ổn định trong GDP. Năm 2008, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đóng
góp vào GDP gần 47%, trong đó có phần đóng góp quan trọng của kinh tế tư
nhân; ở một số địa phương tỷ lệ này còn cao hơn như TP. Hồ Chí Minh là
51,4%, Cần Thơ là gần 73%...
- Thứ tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu,
thúc đẩy cạnh tranh, tăng thêm số lượng công nhân và doanh nhân Việt Nam.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần mở mang nhiều
ngành nghề và lưu thông hàng hóa, sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở từng vùng và trong cả nước. Một số
sản phẩm đã góp phần chặn đứng và đẩy lùi được sự xâm nhập của hàng
ngoại nhập. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2008 ước đạt 80,4 tỉ USD,
tăng 28,3% so với năm 2007. Nhập siêu hàng hóa đã được kiềm chế và giảm
dần từ mức gần 2,2 tỷ USD (tháng 1-2008), xuống còn 500 triệu USD vào
tháng 12-2008. Tổng nhập siêu năm 2008 ước tính là 17,5 tỉ USD, bằng 27,8%
trị giá xuất khẩu Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam thật sự là một nền kinh tế
mở, có độ hội nhập khá sâu vào nền kinh tế thế giới, tổng giá trị kim ngạch
xuất nhập khẩu (2009) đã lên đến 150% tổng giá trị GDP. Hoạt động ngoại
thương và đầu tư nước ngoài có một vị trí quan trọng ngày càng lớn trong
tiến trình và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Đáng kể nhất phải
kể đến đóng góp của nền kinh tế tư nhân.
Những con số trên nói lên một điều: nền kinh tế Việt Nam sẽ không phát
triển nếu vắng bóng kinh tế tư nhân và nó cũng khẳng định chủ trương phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là một chủ trương của “ý Đảng,
lòng Dân”
đồng chiếm 41,8%, doanh nghiệp có 1 - 5 tỷ tiền vốn chiếm 37,03%, doanh
nghiệp có 5 - 10 tỷ đồng tiền vốn chỉ chiếm 8,18%. Như vậy nhận định về
doanh nghiệp Việt Nam trên đây là hoàn toàn đúng và những doanh nghiệp
nhỏ, siêu nhỏ không chỉ có trong khu vực ngoài quốc doanh.
Bên cạnh đó, hiện nay, số Doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 51,3%, từ 10
- 200 lao động chiếm 44,07%, từ 200 - 300 lao động chỉ chiếm 1,43%. Có 86%
Doanh nghiệp có tài sản cố định dưới 5 tỷ đồng... là những tiêu chí làm bộc lộ
rõ hơn điểm yếu về quy mô nhỏ bé và trình độ công nghệ thấp của doanh
nghiệp Việt Nam. Trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp và tay nghề của
người lao động còn yếu, phần lớn chưa qua đào tạo, hiểu biết về chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn ít, khả năng tiếp thị trong
và ngoài nước còn hạn chế.
Về công nghệ, nhìn tổng thể, máy móc thiết bị và công nghệ của kinh tế tư
nhân phần lớn còn lạc hậu, chắp vá, chậm đổi mới; nhiều doanh nghiệp thành
lập mới nhưng sử dụng công nghệ thải loại từ doanh nghiệp nhà nước. Qua
đánh giá hiệu quả của các doanh nghiệp của tư nhân, phần đầu tư ra nước
ngoài của doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp tư nhân nói
riêng còn rất nhỏ bé. Doanh nghiệp Việt Nam tuy đông đảo về số lượng song
hầu hết yếu về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý còn hạn chế nên khả năng
cạnh tranh sẽ gặp nhiều khó khăn. Số dự án và quy mô vốn đầu tư của doanh
nghiệp Việt Nam ra nước ngoài còn nhỏ, kinh nghiệm còn hạn chế.
- Kinh tế tư nhân cũng gặp nhiều khó khăn vướng mắc về vốn, về mặt bằng
sản xuất kinh doanh, về môi trường pháp lý và môi trường tâm lý xã hội.
Hiện nay, bình quân vốn sử dụng vào sản xuất kinh doanh của một hộ nông
nghiệp rất thấp. Kinh tế tư nhân vay vốn từ các ngân hàng thương mại và vay
vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước tại Quỹ hỗ trợ phát triển còn ít và chiếm tỷ
trọng thấp. Mặt bằng sản xuất kinh doanh đang là một trở ngại lớn đối với
các cơ sở kinh tế tư nhân. Hầu hết các hộ kinh doanh phi nông nghiệp phải sử
* Một là, thống nhất về các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân.
Thực ra, quan điểm về phát triển kinh tế tư nhân đã được ghi trong Nghị
quyết Đại hội IX của Đảng, thế nhưng có một số vấn đề cụ thể cần được làm
rõ để tạo nên sự thống nhất trong nhận thức và trong hành động. Đó là cần
thống nhất về các quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế tư nhân: Kinh tế tư
nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển
kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài nhằm góp phần nâng cao nội lực
của đất nước. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo
pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp, khuyến khích, hỗ trợ, tạo
điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển bình đẳng với các thành
phần kinh tế. Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục các chủ doanh nghiệp nâng cao
lòng yêu nước, tự hào dân tộc, gắn bó với lợi ích đất nước và sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
* Hai là, tạo môi trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho sự phát
triển của kinh tế tư nhân. Để có môi trường thuận lợi về thể chế, cần sửa đổi
bổ sung Luật doanh nghiệp và một số quy định chưa thống nhất giữa các văn
bản pháp luật đã ban hành về những vấn đề liên quan đến kinh tế tư nhân
theo hướng xóa bỏ phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; tiếp tục
tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong pháp luật và thủ tục hành chính; Quy
định rõ những ngành nghề, lĩnh vực kinh tế tư nhân không được phép kinh
doanh hoặc kinh doanh có điều kiện; Xác định rõ trách nhiệm của cơ quan
quản lý nhà nước trong đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động của kinh tế
tư nhân; Sửa đổi, bổ sung một số quy định theo hướng tạo thuận lợi nhưng
phải chặt chẽ trong cấp đăng ký kinh doanh, theo yêu cầu “một cửa, một dấu”.
Để tạo môi trường thuận lợi về tâm lý xã hội, cần làm tốt công tác phổ biến,
tuyên truyền quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với
việc phát triển kinh tế tư nhân. Cổ vũ và biểu dương kịp thời những doanh
nhân, đơn vị sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát
động kinh tế tư nhân, khuyến khích thành lập và tham gia quỹ bảo hiểm
tương hỗ với sự hỗ trợ của Nhà nước. Ban hành quy định và đăng ký sở hữu
tài sản, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh. Kinh tế tư nhân được
dùng tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp ngân hàng.
- Đối với chính sách lao động tiền lương. Kinh tế tư nhân phải thực hiện đúng
quy định của Bộ luật lao động về việc ký kết hợp đồng lao động, tiền lương,
thời gian làm việc, bảo đảm các điều kiện vệ sinh an toàn lao động; bổ sung
chế tài cần thiết để xử lý vi phạm.
Sớm ban hành đồng bộ các quy định về bảo hiểm xã hội để người lao động
trong hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân đều được tham gia.
Nghiên cứu ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng người sử
dụng lao động và người lao động cùng đóng góp, có sự hỗ trợ một phần của
nhà nước.
- Đối với chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học và công nghệ. Nhà nước trợ
giúp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết đường lối chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, trình độ chuyên môn kỹ thuật cho
chủ doanh nghiệp và người lao động. Phát triển các trung tâm dạy nghề của
nhà nước, đặc biệt ở các vùng nông thôn, miền núi; khuyến khích các tổ chức
và cá nhân trong và ngoài nước mở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản
lý, cán bộ doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Xây dựng hệ thống thị
trường thông tin lao động.
Mở rộng hệ thống dịch vụ tư vấn khoa học, công nghệ cho các hộ kinh doanh
và doanh nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin,
thuê, mua trả góp các thiết bị để đổi mới công nghệ.
* Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà nước. Xác định rõ
chức năng quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân là: xây dựng và hoàn
thiện khung pháp lý và ban hành chính sách, cơ chế quản lý đối với các đơn vị
sản xuất kinh doanh; xây dựng, quy hoạch và trợ giúp đào tạo cán bộ quản lý;
Mục lục:
A)
B)
I)
1.
2.
3.
4.
5.
II)
Đặt vấn đề.
Giải quyết vấn đề.
Sở hữu tư nhân.
Khái niệm và sự hình thành sở hữu tư nhân.
a) Các khái niệm có liên quan
b) Khái niệm sở hữu tư nhân.
c) Sự hình thành sở hữu tư nhân.
Chủ thể của sở hữu tư nhân.
Khách thể của sở hữu tư nhân.
Tài sản thuộc hình thức sở hữu tư nhân.
Nội dung của sở hữu tư nhân.
Vai trò của sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa.
1.
2.