TRƢỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG- TP HÀ NỘI
LỚP BỒI DƢỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K3A- 2015
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: “Xử lý tình huống vi phạm hành chính trong
lĩnh vực hành nghề chữa bệnh bằng mê tín dị đoan có ảnh hưởng,
liên quan đến môi trường y tế, văn hóa trên địa bàn huyện Ứng
Hòa- Tp Hà Nội
Họ tên học viên: PHẠM THỊ LAN PHƢƠNG
Chức vụ: Chuyên viên
Đơn vị công tác: Phòng Y tế huyện Ứng Hòa- Hà Nội
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường, Phòng Đào
tạo, quý thầy cô giáo của trường Chính trị Lê Hồng Phong đã
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường, đồng thời đã
nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện
đề tài này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu
sắc tới quý Thầy, Cô chủ nhiệm lớp, quý thầy cô giáo trong nhà
trường đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chuyển tải những kiến
thức, kinh nghiệm quý báu và động viên tôi thực hiện và hoàn
thành đề tài này.
Trong khoảng thời gian hạn hẹp, đề tài không tránh khỏi
những thiếu sót, những hạn chế về cả nội dung lẫn hình
thức.Tôi rất mong nhận được những góp ý của quý thầy cô giáo,
các bạn đồng nghiệp đối với đề tài.
Xin trân trọng cảm ơn!
hoàn thiện hơn. Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày
19/4/1999 về các hoạt động tôn giáo đã đƣợc thay thế bằng Pháp lệnh tín
ngƣỡng, tôn giáo do Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khoá XI thông qua ngày
18/6/2004 và Chủ tịch nƣớc ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004.
Quyền tự do tín ngƣỡng và tự do không tín ngƣỡng của công dân Việt
Nam cũng đƣợc quy định trong Hiến pháp và đƣợc bảo đảm trên thực tế. Hiến
3
pháp năm 1992 của Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 70 ghi rõ:
" Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các
tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước".
Quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời dân đƣợc cụ thể hóa trong
nhiều văn bản pháp quy khác. Pháp lệnh Tín ngƣỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ
15/11/2004, đã thể chế hóa đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách về tín ngƣỡng, tôn
giáo của Nhà nƣớc Việt Nam, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do
tín ngƣỡng, tôn giáo. Mọi công dân - không phân biệt có hoặc không có tín
ngƣỡng, tôn giáo - đều bình đẳng trƣớc pháp luật; có quyền theo hoặc không
theo một tôn giáo nào; đƣợc bày tỏ đức tin tôn giáo của mình; đƣợc thực hành
các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt phục vụ
lễ nghi tôn giáo, học tập giáo lý, đạo đức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo đều bình
đẳng trƣớc pháp luật. Nhà nƣớc đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo; bảo
hộ cơ sở vật chất, tài sản của cơ sở tín ngƣỡng tôn giáo nhƣ chùa, nhà thờ, thánh
đƣờng, thánh thất, điện, đền, trụ sở của tổ chức tôn giáo, trƣờng lớp tôn giáo,
kinh bổn và các đồ dùng thờ cúng của tín ngƣỡng, tôn giáo. Ngày 01/3/2005,
Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2005/NĐ.CP hƣớng dẫn một số điều trong
hƣớng con ngƣời đến lối sống tiện nghi, văn minh, hiện đại. Bên cạnh những tƣ
tƣởng tiến bộ về tôn giáo, tín ngƣỡng, thì một bộ phận nhân dân vẫn còn mang
tƣ tƣởng lạc hậu, mê tín dị đoan. Do nhận thức kém, nhiều bệnh nhân vẫn tin
vào phép màu của trò chữa bệnh đồng bóng, bằng bùa chú, lấy “vong” hay lên
đồng.
Lợi dụng sự thiếu hiểu biết khoa học của một bộ phận ngƣời dân, một số ngƣời
đã thực hiện hành vi dụ dỗ trị bệnh bằng mê tín nhằm trục lợi bất chính.
Thời gian gần đây, nhiều ngƣời trên địa bàn xã Minh Đức đã trở thành nạn
nhân của “thầy” cốt H. (tức bà Phạm Thị B.) thuộc xã Minh Đức, huyện Ứng
Hòa. Hậu quả là “tiền mất tật mang” và kèm theo nhiều hệ lụy khác!
Trƣớc sự “báo động” các thực trạng hoạt động dịch vụ tín ngƣỡng và mê
tín dị đoan luôn diễn biến phức tạp. Là một ngƣời làm công tác có liên quan đến
5
nền văn hóa, tôn giáo và tự do tín ngƣỡng tôi quan tâm và chọn đề tài: “Xử lý
tình huống vi phạm hành chính trong lĩnh vực hành nghề chữa bệnh bằng
mê tín dị đoan có ảnh hưởng, liên quan đến môi trường y tế, văn hóa trên địa
bàn huyện Ứng Hòa-Hà Nội” để làm đề tài cuối khóa “Lớp bồi dƣỡng kiến
thức quản lý nhà nƣớc ngạch chuyên viên khoá k3A năm 2015.
6
II. NỘI DUNG
2.1/- MÔ TẢ TÌNH HUỐNG:
Theo địa chỉ đƣợc cung cấp, chúng tôi tìm đến “tƣ dinh” thầy cốt H. Đó là
một ngôi nhà lớn đƣợc xây dựng khang trang trong một diện tích đất tƣơng đối
rộng. Xung quanh, phía trƣớc nhà có rất nhiều chum chậu trồng bonsai, hoa
cho bệnh nhân uống. Cô đọc tên và địa chỉ nơi bán một loại thuốc. Tại sao lại
mua đúng tiệm thầy chỉ mới có?
Sau 15 phút nhập nhằng giọng giả và thật, cô H. đi mất, trƣớc khi đi cô
còn chào bệnh nhân “Thôi! H. đi nhé”. Cô H. đã đi rồi, thầy lại trở về giọng thật
của một phụ nữ tuổi gần sáu mƣơi. Trƣớc đó, nhiều trƣờng hợp đƣợc cô H. làm
phù phép rất rợn ngƣời. Có nạn nhân đƣợc cô cột chỉ vào chân, có ngƣời đƣợc
cô lấy các cây đinh, móc câu, chất bầy nhầy... từ chỗ đau ra khỏi cơ thể. Cô bảo
đây là vật mà ngƣời ta yếm vào cơ thể của bệnh nhân. Nếu không lấy ra thì bệnh
không khỏi đƣợc. Những bệnh nhân mê muội ngoan ngoãn gật đầu và làm theo
chỉ dẫn của thầy.
Đƣợc biết, cô H. chính là con gái của bà B. Cô mất khi mới đƣợc vài
tháng tuổi. Hàng ngày cô nhập vào mẹ và thực hiện nghĩa vụ khám, chữa bệnh
cho mọi ngƣời mà không đòi hỏi gì. Thực tế là nhiều bệnh nhân tự nguyện biếu
tiền và dâng lễ cúng... Chi phí cho mỗi lần cúng bái nhƣ vậy từ vài trăm ngàn
đến một triệu đồng. Thầy bảo đây là chi phí xăng xe vì phải đi xa.
Một thực tế dễ nhận thấy là phƣơng pháp chữa bệnh của bà B. không chỉ
không có căn cứ khoa học mà còn rất nguy hiểm cho bệnh nhân. Mỗi bệnh nhân
đến đều đƣợc chữa trị bằng cách thức kỳ lạ (phun nƣớc, uống nƣớc bùa, lấy móc
câu, đinh...) từ chỗ đau của bệnh nhân. Đáng ngại nhất là bà B. thƣờng dùng một
vật nhọn (không rõ là thứ gì) chích lấy máu tại chỗ đau của bệnh nhân cho vào
một mớ giấy nhàu nát (bà gọi là bùa). Ai bảo đảm rằng vật nhọn này đã đƣợc bà
xử lý tiệt trùng hay thay mới đối với từng bệnh nhân? Sẽ ra sao nếu những bệnh
nhân mắc phải những căn bệnh truyền nhiễm? Bà B. tự nhận mình không biết
chữ vậy hiểu biết của bà về việc lây truyền các căn bệnh truyền nhiễm tới đâu?
Hầu hết các bệnh nhân đã không chú ý tới điều này. Thêm vào đó, các thứ nƣớc,
thuốc mà bà B. chỉ định cho bệnh nhân uống có đƣợc kiểm nghiệm và đƣợc
phép lƣu hành.
8
tín ngƣỡng đang là yêu cầu cấp bách, do sự đa dạng hiện nay của hoạt động tôn
giáo quyết định.
Đối với bà Phạm thị B:
11
Trao đổi về trƣờng hợp bà B, ông Nguyễn Văn Hòa, chủ tịch UBND Xã Minh
Đức cho biết thêm: “Trƣờng hợp này cách đây 4 năm đã đƣợc giải quyết. Trong
thời gian qua, không thấy ngƣời dân phản ánh. Có lẽ vì đối tƣợng khám chữa
bệnh là nạn nhân từ nơi khác đến, hoạt động lén lút nên không ai để ý. Mặt khác,
do căn hộ của bà B. nằm trên đoạn cuối của xã, giáp ranh với Đồng Tâm, khu
vực lại vắng, tối, nên cán bộ đi tuần không chú ý lắm. Nếu bà B. thật sự hoạt
động lại nghề cũ, chúng tôi sẽ phối hợp với công an xã, lực lƣợng dân phòng bắt
quả tang, xử lý...”.
b. Hậu quả:
Về phương diện đời sống tinh thần xã hội:
Tự do tín ngƣỡng, tôn giáo là một quyền nhân thân cơ bản của công dân cũng
đƣợc đề cập trong Bộ luật Dân sự, đƣợc bảo vệ bằng pháp luật và đƣợc cụ thể
hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật ngày càng ở mức độ cao hơn, hoàn
thiện hơn. Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 26/1999/NĐ-CP, ngày 19/4/1999
về các hoạt động tôn giáo đã đƣợc thay thế bằng Pháp lệnh tín ngƣỡng, tôn giáo
do Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội khoá XI thông qua ngày 18/6/2004 và Chủ tịch
nƣớc ký Lệnh công bố ngày 29/6/2004.
Đối với Bà Phạm Thị B, do chƣa đƣợc học hết nên nhận thức về tự do tín
ngƣỡng còn nhiều hạn chế. Việc chữa bệnh bằng hình thức đồng bóng của bà B.
rất nguy hiểm nhƣ đã đề cập ở trên. Do vậy, chính quyền địa phƣơng hơn ai hết
cần theo dõi và nắm chắc tình hình hoạt động để kịp thời uốn nắn những biểu
hiện lệch lạc của bà B trong việc chấp hành Pháp lệnh về tín ngƣỡng, tôn giáo,
làm ảnh hƣởng đến sức khỏe, an ninh trật tự và tự do tín ngƣỡng của ngƣời dân.
trật tự, gây nhiều bức xúc và làm ảnh hƣởng đến đời sống sinh hoạt của ngƣời
dân chung quanh và phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
” tại khu dân cƣ.
2.4 XÂY DỰNG PHÂN TÍCH LỰA CHỌN PHƢƠNG ÁN GIẢI
QUYẾT:
Sau khi kiểm tra và ghi nhận lỗi vi phạm tại nhà bà Phạm Thị B, căn cứ
theo các văn bản quy phạm pháp luật đƣợc quy định từng lĩnh vực ngành nghề.
Đội kiểm tra liên ngành xây dựng 3 phƣơng án nhƣ sau:
13
Phương án 1: Phòng y tế phối hợp cùng phòng văn hóa thành lập đoàn
kiểm tra liên ngành kiểm tra cơ sở của bà B, lập biên bản vi phạm hành chính,
mới bà B đến làm việc .Giảng giải, giải thích cho bà B hiểu đƣợc việc làm sai
trái của mình .Yêu cầu bà B chấm dứt ngay việc hành nghề chữa bệnh bằng mê
tín dị đoan .
Phối hợp cùng với đài truyền thông xã thông báo cho ngƣời dân biết việc
làm sai trái của bà B để mọi ngƣời không đến chữa bệnh nữa.
Ƣu điểm: Đáp ứng đƣợc nhiều mục tiêu,có lý có tình
Phương án 2: (Hình thức xử phạt tăng nặng)
Cá nhân tái phạm nhiều lần, có hành vi trốn tránh hoặc không hợp tác với cơ
quan chức năng. Lỗi vi phạm liên quan đến tệ nạn xã hội, ảnh hƣởng đến đời
sống tinh thần và sức khoẻ, thì phƣơng án lựa chọn sẽ xử phạt theo mức phạt cao
nhất và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây chết ngƣời.
Ƣu điểm: + Răn đe đƣợc những hành động sai trái của bà B.
+ Đánh vào lòng tin của những ngƣời đến chữa bệnh tại nhà bà B.
Nhƣợc điểm: + Mất nhiều công sức thời gian tiền của.
+Phải phối hợp chắt chẽ với nhiều cơ quan chức năng.
Phương án 3: (Hình thức xử phạt giảm nhẹ)
- Phạt tiền 7.500.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định về phòng
chống HIV/AIDS, vi phạm vào điều 13 khoản 2 điểm a Nghị định số
45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 750.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định khác về vệ sinh,
vi phạm vào điều 13 khoản 2 điểm a Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày
06/4/2005 của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 1.500.000đ đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện
hành nghề và sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề, y học sinh cổ
truyền (gọi chung là giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề ), vi phạm điều 26
15
khoản 2 điểm a Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 2.500.000đ đối với hành vi vi phạm lợi dụng nghề nghiệp để
hành nghề mê tín dị đoan, vi phạm điều 27 khoản 2 điểm g Nghị định số
45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 7.500.000đ đối với hành vi vi phạm quy định về chuyên môn kỹ
thuật về y tế gây thiệt hại về sức khỏe cho ngƣời bệnh, vi phạm điều 27 khoản 3
điểm a,b Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Y tế;
- Phạt tiền 10.000.000đ đối với hành vi vi phạm không có bản cam kết thực
hiện các điều kiện về an ninh trật tự với cơ quan công an, vi phạm điều 14 khoản
3 điểm b Nghị định số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội;
Tổng cộng 7 lỗi vi phạm với mức phạt tiền là: 22.150.000 đồng.
Ngoài hình thức xử phạt chế tài nêu trên, đoàn kiểm tra còn đề nghị bà
hành nghề mê tín dị đoan, phê phán những việc làm sai chủ trƣơng chính sách
tôn giáo của Đảng và Chính phủ.
Ý thức trách nhiệm của ngƣời dân đóng vai trò tích cực và không thể thiếu
trong việc ngăn ngừa, phòng chống các hành vi lợi dụng tự do tín ngƣỡng để
hành nghề mê tín dị đoan gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe, an ninh trật tự của
ngƣời dân và địa bàn sinh sống. Do vậy, cần nêu gƣơng điển hình và kịp thời
khen thƣởng những tổ chức, cá nhân tích cực tham gia trong phong trào giữ gìn
trật tự, an ninh khu phố.
b.. Khó khăn:
Các quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực hành nghề mê tín dị đoan,,
chỉ có hình thức xử phạt chế tài dựa trên các nghị định liên quan, luật chƣa có
quy định cụ thể về hình thức xử phạt bổ sung nhƣ: có mức xử phạt cụ thể theo
từng điều khoản. Điều này cho thấy văn bản luật chƣa đủ mạnh, chƣa thể hiện
tính nghiêm khắc; mức xử phạt chƣa đủ tính răn đe nên vi phạm vẫn tiếp tục gia
17
tăng, Do đó bà Phạm thị B. vẫn tiếp tục vi phạm nhiều lần. Hầu nhƣ việc xử lý
vi phạm mới chỉ dừng lại ở mức “hình thức”, phạt rồi lại không kiểm tra, nhắc
nhỡ hoặc chỉ tiến hành theo phong trào kiểu “bắt cóc bỏ dĩa”, “đá ném ao bèo”
đã dẫn đến tình trạng coi thƣờng pháp luật.
Rõ ràng là với những điều khoản không thống nhất, không cụ thể nhƣ vậy đã
tạo ra những bật cập và kẽ hở của luật, để cho một số những kẻ hành nghề mê
tín dị đoan lợi dụng để gây rối trật tự an ninh, làm ảnh hƣởng đến tình hình sức
khỏe, và lòng tin của nhân dân. Từ đó, đặt ra cho các địa phƣơng vấn đề về
quản lý dân cƣ trên địa bàn và việc chăm sóc đời sống tinh thần, tự do tín
ngƣỡng của nhân dân.
c. Kết luận
Quản lý nhà nƣớc về tôn giáo, tự do tín ngƣỡng là quản lý bằng chính sách
phải kịp thời, cƣơng quyết nhƣng phải tránh nôn nóng vội vàng. Đảm bảo đƣợc
yêu cầu: đoàn kết rộng rãi đồng bào có tín ngƣỡng và không có tín ngƣỡng, phát
huy tinh thần yêu nƣớc của các tu sĩ chân tu đồng thời kiên quyết trừng trị
những kẻ lợi dụng tín ngƣỡng tôn giáo để phá hoại sự đoàn kết dân tộc, phá hoại
sự nghiệp cách mạng . Phát triển phong trào phòng bệnh, xây dựng nếp sống
mới bài trừ mê tín dị đoan và những phong tục tập quán lạc hậu.
III./KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QỦA CÔNG
TÁC QUẢN LÝ
Rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật liên quan để kịp thời sửa đổi, bổ
sung, điều chỉnh hoàn thiện phù hợp với tình hình mới. Trong các điều khoản về
xử phạt vi phạm hành chính cần tính đến các mức phạt đủ sức răn đe, tránh việc
tái vi phạm của các cơ sở dịch vụ văn hóa.
Tổ chức và sắp xếp lại bộ máy các cơ quan quản lý nhà nƣớc, có cơ chế,
chính sách thu hút những cán bộ có tài, có tâm, có tầm. Kiện toàn đội ngũ cán bộ
thanh tra, kiểm tra giám sát của ngành từ thành phố đến cơ sở, đảm bảo đủ về số
lƣợng cho hoạt động đạt hiệu quả. Tăng cƣờng bồi dƣỡng kiến thức quản lý,
kiến thức chuyên môn; khoa học công nghệ thông tin. Tăng đầu tƣ ngân sách và
kinh phí hoạt động, tạo điều kiện trang thiết bị đáp ứng công tác quản lý kiểm
tra đạt hiệu quả.
19
Cần tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra, phối hợp chặt chẽ với các
ngành có liên quan nhƣ: Y tế, Công an, Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Văn hóa –
Thông tin, Phát thanh –Truyền hình, Chính quyền địa phƣơng... Tập trung kiểm
tra, xử phạt thích đáng đối với các cá nhân có những biểu hiện vi phạm, có đơn
thƣ phản ảnh của quần chúng nhân dân; có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với
các cá nhân tái phạm nhiều lần. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát phải đƣợc tiến
hành thƣờng xuyên, không mang tính hình thức tạo tâm lý coi thƣờng pháp luật