Giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội tại địa bàn tỉnh hưng yên - Pdf 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC

Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM
PHÁP LUẬT VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Bảo hiểm xã hội 4
2.1.2 Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội 20
2.2 Cơ sở thực tiễn 34
2.2.1 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật về BHXH trên
thế giới 34
2.2.2 Kinh nghiệm hạn chế vi phạm pháp luật về BHXH ở Việt Nam 35
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BHXH tỉnh 39
3.1.2 Bộ máy tổ chức của Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên 41
3.1.3 Tình hình đội ngũ cán bộ 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu 45
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 45
3.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 48

hiểm xã hội 92
5.2.3 Đối với cơ quan bảo hiểm xã hội 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DNN&V Doanh nghiệp nhỏ và vừa
SXKD Sản xuất kinh doanh
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
NLĐ Người lao động
NSNN Ngân sách nhà nước
NSDLĐ Người sử dụng lao động
DNCVĐTNN Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
DN Doanh nghiệp
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

DANH MỤC BẢNG
quả thực hiện BHXH của doanh nghiệp 76
4.14 Hoạt động tuyên truyền và kết quả thực hiện BHXH của người
lao động 78 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, mang tính
chia sẻ cộng đồng, là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội được thực hiện ở nước ta
ngay từ những ngày đầu thành lập (năm 1945). Từ đó đến nay chính sách bảo
hiểm xã hội không ngừng sửa đổi, bổ sung phù hợp với từng thời kỳ phát triển
của đất nước.
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm Xã hội
Việt Nam có chức năng tổ chức và thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên theo quy định của pháp luật
và của ngành. Trong những năm qua, Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên đã hoàn
thành xuất sắc các chỉ tiêu kế hoạch được giao, đóng vai trò quan trọng trong
sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế tại địa phương. Tuy nhiên,
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên cũng phải đối mặt với không ít những khó
khăn, việc nhiều đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh lợi dụng kẽ hở của
pháp luật để trốn đóng nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động, trây ỳ, nợ
đọng kéo dài, thanh toán hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội sai quy định, lạm
dụng quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế … tác động xấu tới công tác quản lý

Phạm vi nội dung:
- Cơ sở lý luận về Bảo hiểm xã hội, các vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực bảo hiểm xã hội.
- Đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên.
- Trên cơ sở đó đưa ra giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Hưng Yên.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3

Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Bảo hiểm xã hội
tỉnh Hưng Yên. Tập trung vào 60 Doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng với 120 lao
động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Phạm vi thời gian:
Dữ liệu thứ cấp thu thập tập trung trong 3 năm 2011 – 2013
Các giải pháp đề xuất cho giai đoạn 2014 - 2020
Thời gian làm đề tài: từ 5/2013 – 8/2014 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VI PHẠM
PHÁP LUẬT VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Bảo hiểm xã hội
2.1.1.1 Khái niệm về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn
tại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cận

đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an
toàn xã hội".
- Theo tập một Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: "BHXH là sự thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm
thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật,
thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp
của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm
đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp
phần đảm bảo an toàn xã hội".
- Nhưng khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) thì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro
làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình
thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử
dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an
toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an
toàn xã hội.
Với các khái niệm này, đối tượng được bảo vệ bằng hệ thống BHXH
thường là những người lao động và thân nhân của họ, không phải là tất cả các
thành viên của xã hội nói chung. Biện pháp công cộng được sử dụng trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6

BHXH thông thường là biện pháp lập quỹ chuyên dùng, từ sự đóng góp của
người lao động và người sử dụng lao động, hầu như không bao hàm sự chu cấp
từ NSNN hoặc từ các quỹ xã hội.
Các khái niệm nêu trên đều có nội hàm tương đối thống nhất, thể hiện
ở một số điểm sau đây:
- BHXH là sự bảo vệ của xã hội, của Nhà nước đối với người lao động.
- NLĐ sẽ được BHXH trợ giúp vật chất và các dịch vụ y tế cần thiết để

trong thực tế, BHXH thường được phân loại hình BHXH của người tham gia
BHXH. Theo cách phân loại này, BHXH được chia thành hai loại: BHXH bắt
buộc và BHXH tự nguyện.
- BHXH bắt buộc là loại hình bảo hiểm mà NLĐ, NSDLĐ bắt buộc
phải tham gia theo quy định của pháp luật. Loại BHXH này được hình thành
khi Nhà nước đã đứng ra lo liệu với tư cách là người tổ chức, quản lý BHXH.
Việc tổ chức BHXH bắt buộc chủ yếu để thực hiện mục đích ràng buộc trách
nhiệm của NSDLĐ với NLĐ nhằm ổn định nguồn thu, chi để phát triển
BHXH bền vững. Thông qua đó, có thể đảm đời sống cho NLĐ, đảm bảo an
sinh xã hội nói chung.
- BHXH tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp
phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách
hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp
một phần thu nhập của NLĐ nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao
động và cho gia đình họ, giúp phần bảo đảm an toàn xã hội. BHXH tự nguyện
là loại hình bảo hiểm mà NLĐ có quyền tự quyết định tham gia hay không
tham gia, được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng, hưởng phù hợp, theo
các quy định linh hoạt của pháp luật.
2.1.1.2 Đối tượng áp dụng
BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ sở nhu cầu đời sống xã
hội dựa trên sự đóng góp của NSDLĐ và NLĐ cùng với việc hỗ trợ và quản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8

lý của Nhà nước để thực hiện các chế độ BHXH cho NLĐ và đối tượng thụ
hưởng theo quy định. Các chế độ BHXH được triển khai thực hiện gồm ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao
động hoặc chết được áp dụng cho đối tượng NLĐ là công dân Việt Nam trong
độ tuổi lao động và thực hiện hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hưởng

- NLĐ đã tham gia BHXH bắt buộc mà chưa nhận trợ cấp BHXH một
lần trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng với doanh
nghiệp Việt Nam trúng thầu, nhận thầu, công trình ở nước ngoài.
- Phu nhân, phu quân trong thời gian hưởng chế độ phu nhân, phu quân tại
các cơ quan Việt Nam ở nước ngoài mà trước đó đã tham gia BHXH bắt buộc.
- NLĐ đã tham gia BHXHBB mà chưa nhận trợ cấp BHXH một lần
trước khi đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo các loại hợp đồng: Hợp
đồng với tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa lao động đi
làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài
dưới hình thức thực tập, nâng cao tay nghề và doanh nghiệp đầu tư ra nước
ngoài có đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; hợp đồng cá nhân.
b) Đơn vị sử dụng lao động
- Cơ quan của Đảng, Nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước ở
Trung ương, cấp tỉnh, huyện đến cấp xã và đơn vị thuộc lực lượng vũ trang.
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội -
nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính
trị, đơn vị sự nghiệp thuộc tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác.
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả
các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang) và Luật Đầu tư.
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê
mướn, sử dụng và trả công cho người lao động.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam có sử dụng lao động là người Việt Nam, trừ trường hợp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10

Điều ước Quốc tế mà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên có quy định khác.
- Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động

- Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm
chính xác, kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách bảo đảm an sinh xã
hội của Đảng và Nhà nước ta, BHXH có những chức năng chủ yếu sau:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc
làm. Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì suy cho
cùng, mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi NLĐ khi hết tuổi lao động
theo các điều kiện quy định của BHXH. Còn mất việc làm và mất khả năng
lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, NLĐ cũng sẽ được hưởng trợ
cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vào các điều kiện cần thiết, thời điểm
và thời hạn được hưởng phải đúng quy định. Đây là chức năng cơ bản nhất
của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động
của BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có NLĐ mà cả NSDLĐ, các bên
tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho
một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng
những người này thường chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số người tham gia
đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân
phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những
người có thu nhập cao và thấp, giữa người khỏe mạnh đang lao động với
những người ốm yếu phải nghỉ việc v v Thực hiện chức năng này có nghĩa
là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích NLĐ hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng
suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khoẻ mạnh tham gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12

lao động sản xuất, NLĐ được NSDLĐ trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đau,

tạo thêm được nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt
hơn các dịch vụ xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá
Hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích bảo
đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và tiến bộ xã hội.
BHXH mang tính chất nhân đạo, nhân văn, dùng tiền đóng góp khi còn trẻ khoẻ
để dùng vào lúc tuổi già, đau yếu. Xét về lâu dài, mọi NLĐ trong xã hội đều có
quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho
mọi NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ đang còn trong độ tuổi lao động.
- Tính dịch vụ
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền
kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của
BHXH cũng ngày càng cao.
2.1.1.5 Bản chất của bảo hiểm xã hội
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan
hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát
triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền
tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước .
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được
BHXH. Bên tham gia BHXH chỉ có thể là NLĐ hoặc NLĐ và NSDLĐ. Bên
BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do
Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình
họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong
BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn trái với chủ quan của
con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể
là trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản v v
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14

Page 15

cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên,
thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần được khám và điều
trị khi ốm đau; tai nạn thương tật nặng cần phải có người chăm sóc nuôi
dưỡng v v Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con người và xã hội
loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau
như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong một nội bộ cộng đồng; đi vay, đi mượn
hoặc dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước v v . Rõ ràng, những cách đó là hoàn
toàn thụ động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên
phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau đã
phải cam kết bảo đảm cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ
trang trải những nhu cầu cần thiết khi đau ốm, gặp phải tai nạn rủi ro, sinh đẻ
Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra và người chủ
không phải chi trả một khoản nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc
họ một lúc phải bỏ ra trong một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn.
Vì thế mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh
buộc chủ phải thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng
lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước
đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt
làm tăng vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc các giới chủ và giới thợ phải
đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa
trên cơ sở xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của
cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Qũy
này còn được bổ sung từ ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời
sống cho người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những
mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải,
cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn
định. Giới chủ cũng thấy mình có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh

hành pháp luật về BHXH; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 17

luật về BHXH.
b) Cơ quan quản lý nhà nước về BHXH
Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH. Bộ LĐTB&XH chịu
trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH. Bộ, cơ
quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý
Nhà nước về BHXH. Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp thực hiện quản lý nhà
nước về BHXH trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ.
* Hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam
Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam là cơ quan quản lý cao nhất của
BHXH Việt Nam.
BHXH Việt Nam được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc, tập trung,
thống nhất từ Trung ương đến địa phương, gồm có: Ở Trung ương là BHXH
Việt Nam, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là BHXH tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương trực thuộc Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, ở huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh là BHXH huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trực thuộc BHXH tỉnh.
* Hội đồng quản lý Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
Hội đồng quản lý BHXH Việt Nam giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo và giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách và thu, chi, quản lý,
sử dụng các quỹ BHXH, bảo hiểm y tế của BHXH Việt Nam. Hội đồng quản
lý gồm đại diện lãnh đạo Bộ LĐTB&XH, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ,
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng
Giám đốc BHXH Việt Nam và thành viên khác do Chính phủ quy định. Hội
đồng quản lý có Chủ tịch, Phó Chủ tịch thường trực và các thành viên do Thủ
tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Bộ

* Ở trung ương: Văn phòng, Ban Tổ chức cán bộ, Ban Kế hoạch - Tài
chính, Ban thực hiện chính sách BHXH, Ban Thu, Ban Chi, Ban cấp sổ-thẻ,
Ban thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Ban hợp tác quốc tế, Ban kiểm tra,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 19

Ban thi đua khen thưởng, Ban tuyên truyền, Ban Pháp chế, Ban Đầu tư quỹ,
Ban Dược và Vật tư y tế.
Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc gồm: Trung tâm Lưu trữ, Trung tâm
thông tin, Viện khoa học BHXH, Báo BHXH, Tạp chí BHXH, Trường Đào
tạo nghiệp vụ BHXH, Trung tâm Giám định BHYT và thanh toán đa tuyến.
Nhiệm vụ, quyền hạn và biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm chức vụ lãnh
đạo của các tổ chức nói trên do Tổng giám đốc quyết định.
* Bảo hiểm xã hội tỉnh
BHXH tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan trực BHXH Việt
Nam đặt tại tỉnh, có chức năng giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức
thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện; quản lý quỹ BHXH,
bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định
của pháp luật. BHXH tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng giám
đốc và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh của UBND tỉnh.
BHXH có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng, có các phòng
chức năng trực thuộc. Tổng Giám đốc quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ
chức, biên chế, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc, Phó Giám đốc và
quy định kinh phí hoạt động của BHXH tỉnh.
Tổng Giám đốc quyết định thành lập, giải thể BHXH tỉnh trong trường
hợp có quyết định sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính cấp tỉnh của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
* Bảo hiểm xã hội huyện
BHXH huyện (bao gồm cả BHXH thị xã, thành phố trực thuộc BHXH

a) Mặt khách quan của vi phạm pháp luật:
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra bên ngoài
của vi phạm pháp luật mà con người có thể nhận thức được bằng trực quan
sinh động bao gồm:
+ Hành vi trái pháp luật: thể hiện dưới dạng hành động hay không hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status