MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
2
I. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
2
1.1. Hoàn cảnh xuất hiện tình huống
2
1.2. Mô tả tình huống
2
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
5
2.1. Mục tiêu phân tích tình huống
5
2.2. Cơ sở lý luận
5
22
KẾT LUẬN
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
1
MỞ ĐẦU
Hàng năm, kinh phí dành cho chi tiêu mua sắm tài sản, sử dụng dịch vụ
từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng khá lớn nhằm phục vụ nhu
cầu hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước và đáp ứng nhu cầu
của xã hội. Nhưng trong số này, một phần đáng kể tiền vốn đã không được sử
dụng hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát, tạo cơ hội cho tham nhũng mà nguyên
nhân thường bắt đầu từ khâu mua sắm.
Mua sắm tài sản công là khâu đầu tiên của quá trình quản lý tài sản nhà
nước, có vị trí then chốt để bảo đảm hiệu quả trong sử dụng, quản lý tài sản
phục vụ cho các mục tiêu của quản lý. Mua sắm tài sản công quyết định sự
phù hợp hay không phù hợp về tài sản phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ
chức, đơn vị nhà nước; quyết định việc tài sản được sử dụng lâu dài hay
không lâu dài tùy theo chất lượng của tài sản mua sắm; quyết định chi phí về
tài sản trong tổng chi tiêu công. Do đó, việc mua sắm tài sản công phải đáp
ứng các yêu cầu: phù hợp tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản và chế độ
quản lý, sử dụng tài sản nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
hướng của Đảng và Nhà nước ta.
1.2. Mô tả tình huống
Để làm nội dung của tiểu luận tình huống này, em xin nêu ví dụ về vụ
án tham nhũng do mua sắm tài sản công tại một cơ quan Trung ương đóng
trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Chúng ta đã biết, vụ tham nhũng trong mua sắm công sản tại "Đề án
112" là minh chứng về tình trạng lãng phí và tham nhũng trong bộ máy công
quyền, khi mà việc mua sắm công sản từ lâu nay dù đã được hướng dẫn bởi
2
nhiều qui định đấu thầu tưởng chừng chặt chẽ, nhưng vẫn còn nhiều kẽ hở
cho đồng tiền ngân sách chạy vào túi riêng.
Đề án 112 là tên gọi tắt theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đề
án Tin học hóa hành chính nhà nước. Đây là 1 trong 7 chương trình hiện đại
hóa hành chính nhà nước trong tổng thể 7 chương trình từ 2001 - 2010 về cải
cách hành chính nhà nước. Mục tiêu chung của chương trình có 3 điểm lớn:
Tiến hành tin học hóa quan hệ hành chính trong nội bộ cơ quan hành chính
giữa Chính phủ với các bộ ngành, với các địa phương; Tin học hóa mối quan
hệ giữa Chính phủ với nhân dân trong giải quyết các dịch vụ công, tạo thuận
lợi hơn, hiện đại hơn cho quan hệ này; đào tạo đội ngũ cán bộ công chức nhà
nước để thông qua tin học nâng cao chất lượng quản lý nhà nước. Đề án này
được Chính phủ quyết định năm 2001 thực hiện đến năm 2005. Nhưng đến
cuối năm 2005, đầu năm 2006 kiểm điểm lại thấy có một số vấn đề không ổn.
Lúc đó, ban điều hành đề án đề nghị tiếp tục giai đoạn 2 từ 2006-2010 nhưng
Thủ tướng đã quyết định dừng lại, yêu cầu báo cáo tổng kết, kiểm điểm xem
đã làm được gì mới tiếp tục triển khai giai đoạn 2, từ đó sai phạm mới được
phát hiện.
Trước khi bị khởi tố, bắt giam, thư ký Ban điều hành Đề án 112 cho
Phải chăng vì xem ngân sách là con bò sữa nên việc mua sắm công sản
đối với không ít cán bộ nhà nước chính là cơ hội vàng để tư túi. Chừng nào
những ông quan tham còn hưởng lợi từ kẽ hở của các qui định nặng tính hình
thức thì tham nhũng trong mua sắm tài sản công vẫn chưa chấm dứt được.
Cơ quan kiểm toán nhà nước mới đây cũng chỉ rõ sự lỏng lẻo trong việc
mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản của các Ban quản lý dự án. Một số lượng
tiền lớn được đầu tư mua sắm máy móc thiết bị nhưng không thể đưa vào sử
dụng do không phù hợp với nhu cầu, hoặc đầu tư không đồng bộ. Ví dụ như
chưa có phòng đặt máy, chưa có đội ngũ nhân lực sử dụng đã mua thiết bị,
thậm chí nhiều trang thiết bị mua về còn hỏng ngay từ khi bàn giao; công tác
thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư, mua sắm tài sản còn thực hiện chưa
4
tốt; mua sắm tài sản không đồng bộ, không đảm bảo chất lượng, gây thất
thoát, lãng phí cho ngân sách. Có thể nói, việc nghiên cứu nhằm tìm ra giải
pháp phù hợp để hạn chế tình trạng thất thoát trong việc quản lý, mua sắm và
sử dụng tài sản công là chuyện đang làm đau đầu các nhà quản lý.
II. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG
2.1. Mục tiêu phân tích tình huống
Mục tiêu của việc phân tích tình huống là nhằm làm rõ cơ sở lý luận,
đánh giá nguyên nhân, hậu quả và tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả
hoạt động mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản công tại các cơ quan, đơn vị
thuộc khu vực hành chính nhà nước.
2.2. Cơ sở lý luận
Vấn đề quản lý tài sản được đầu tư, trang bị cho cơ quan nhà nước là để
phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính các cơ quan đó và
phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Điều này bắt nguồn từ
bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân do Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam gây dựng. Nhà nước là công cụ của
tinh giản bộ máy, thực hành tiết kiệm là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng.
Hội nghị Trung ương 5 khoá X đã chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính,
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Nghị quyết xác
định rõ mục tiêu, quan điểm, yêu cầu và 10 chủ trương, giải pháp đẩy mạnh
cải cách hành chính.
Trên cơ sở các quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ
trương, đường lối của Đảng về cải cách hành chính trong đó cải cách tài chính
công là một nội dung trọng tâm, để hoạt động mua sắm, quản lý, sử dụng tài
sản công đi vào nề nếp, khắc phục các vi phạm, Nhà nước đã tập trung xây
dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về lĩnh vực này. Từ năm 2005 đến
nay, Quốc hội đã ban hành các luật: Ðầu tư; Ðấu thầu; Quản lý, sử dụng tài
sản nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng, chống tham nhũng;
6
Quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước. Chính phủ cũng đã ban hành nhiều Nghị
định quy định về vấn đề này như Nghị định số 52/2009/NÐ-CP ngày 3/6/2009
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử
dụng tài sản nhà nước, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 hướng
dẫn thi hành Luật Ðấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây
dựng. Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày
15/6/2007; Thông tư số 131/2007/TT-BTC ngày 5/11/2007 sửa đổi, bổ sung
Thông tư số 63/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản.
Ðặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 179/2007/QÐ-TTg
ngày 26/11/2007 về quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hóa từ ngân sách
Nhà nước theo phương thức tập trung; Thông tư số 22/2008/TT-BTC ngày
10/3/2008 hướng dẫn thực hiện một số nội dung quy chế của quyết định. Với
các văn bản quy phạm pháp luật này, việc mua sắm, quản lý và sử dụng tài
sản công trong thời gian qua đã có những tiến bộ, kết quả bước đầu. Tuy
nhiên, theo đánh giá của cơ quan chức năng, việc đầu tư kém hiệu quả, gây
máy tính xách tay trong kế hoạch năm 2007 nhưng đến tận tháng 8/2009 số
hàng trên vẫn chưa được bàn giao. Không những thế, dự án mua sắm thiết bị
dạy học của Bộ này gây lãng phí số tiền 4 tỷ đồng. Con số này lên đến 20 tỷ
đồng đối với một dự án của Bộ Y tế.
Rõ ràng các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án đã có sự lợi dụng trong chi
tiêu và mua sắm công. Có thể nói, các chủ đầu tư thực hiện chỉ đạo của
Chính phủ về các biện pháp tiết kiệm giảm bội chi ngân sách chưa nghiêm.
Suy nghĩ và chỉ đạo của các đơn vị này chưa tốt nên khâu tổng hợp, giám sát,
xử lý không kịp thời, dẫn đến tác dụng răn đe và ngăn ngừa còn thấp.
2.4. Nguyên nhân dẫn đến tình huống
Sai phạm từ ví dụ tham nhũng tại Đề án 112 xuất phát từ những nguyên
nhân sau:
8
- Đề án 112 là đề án lớn, có lượng dự toán là khoảng 3.800 tỷ đồng.
Đây là lĩnh vực mới, Chính phủ chưa có kinh nghiệm nhưng đã lựa chọn cơ
quan thực hiện xây dựng và tiến hành đề án này là Văn phòng Chính phủ. Có
thể nói việc giao nhiệm vụ này cho Văn phòng Chính phủ là không phù hợp.
Văn phòng Chính phủ là cơ quan tham mưu tổng hợp giúp việc, không phải là
cơ quan chức năng, hơn nữa lại không hiểu sâu về lĩnh vực tin học hóa, nhất
là vấn đề tin học hóa trong quản lý hành chính nhà nước.
- Cách chỉ đạo quản lý đề án này không ổn, Ban điều hành dự án được
lập do một đồng chí chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ làm trưởng ban. Ban
điều hành này hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm, gồm một số đồng chí thứ
trưởng của các bộ ngành tham gia: Bộ kế hoạch, Bộ tài chính, Nội vụ, KHCN
và Môi trường, một đồng chí PGĐ tin học của Văn phòng Chính phủ là tổng
thư ký điều phối. Trong quá trình thực hiện, các đồng chí thứ trưởng tham gia
đề án về cơ bản đã chuyển công tác và nghỉ hưu nhưng ban điều hành vẫn
dụng tài sản nhà nước. Phần lớn các sai phạm trong mua sắm tài sản công là
việc mua sắm vượt định mức, tiêu chuẩn quy định hoặc trình tự, thủ tục mua
sắm không được thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy
định pháp luật khác có liên quan. Mặt khác, do nhận thức chưa đúng đắn nên
lãnh đạo của một số cơ quan, đơn vị còn cố tình vi phạm nhằm thể hiện vị trí,
vai trò của mình và của cơ quan, đơn vị mình trong mối quan hệ với các cơ
quan, đơn vị khác.
Thứ hai, nguyên nhân khách quan:
- Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định còn phân tán,
chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về quản
lý, sử dụng tài sản nhà nước và hiệu lực pháp lý còn thấp.
Việc quản lý tài sản nhà nước gồm ba nội dung cơ bản: quản lý quá
trình hình thành tài sản; quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản; quản lý
10
quá trình kết thúc tài sản. Trong đó, mua sắm tài sản công là khâu đầu tiên
của quá trình quản lý tài sản nhà nước, có vị trí then chốt để bảo đảm hiệu quả
trong sử dụng, quản lý. Hiện nay, trong hệ thống pháp luật hiện hành ở nước
ta có tới 45 văn bản quy phạm pháp luật có các quy định liên quan đến tài sản
nhà nước, từ Hiến pháp cho đến các quyết định, thông tư của bộ trưởng, thủ
trưởng cơ quan ngang bộ, như vậy là phân tán. Trong khi đó, các quy định của
Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (3/6/2008), Nghị định số 52/2009/NĐCP ngày 3/6/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước cho đến thời điểm hiện nay chưa được
triển khai một cách đồng bộ và có hiệu quả cho các đối tượng có thẩm quyền
mua sắm tài sản công vì văn bản này đã bãi bỏ một phần nội dung của một số
văn bản pháp lý như: các quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại
khu vực hành chính sự nghiệp tại khoản 1 Điều 2 và các Điều 8, 9, 10, 11, 12,
13, 14, 15, 16 Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 6/3/1998 về quản lý tài sản
nhà nước; các quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại điểm c khoản
hiệu lực và hiệu quả thấp nên chưa đủ sức đẩy lùi các tiêu cực. Tình trạng sai
phạm trong mua sắm tài sản công đã và đang diễn ra. Các diễn đàn của Đảng,
Quốc hội, Chính phủ và của các cơ quan, tổ chức hữu quan cũng như công
luận đã nhiều lần lên tiếng nhưng việc xử lý vi phạm vẫn không được như
mong muốn, mà thường chỉ dừng lại ở kiểm điểm và xử lý kỷ luật nội bộ. Đây
sẽ lại là những tiền lệ xấu cho những vi phạm trong tương lai.
2.5. Hậu quả tình huống
Các vi phạm trong mua sắm tài sản công của một số cơ quan, đơn vị
hành chính nhà nước hiện nay gây nên nhiều hậu quả cho Nhà nước và xã hội.
Thứ nhất, đối với Nhà nước:
Việc mua sắm tài sản công vượt tiêu chuẩn, định mức gây lãng phí, thất
thoát nguồn vốn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến các chi tiêu cho các mục
tiêu khác của Nhà nước, trong trường hợp chất lượng hàng hoá không tốt,
không đồng bộ thì hiệu quả sử dụng tài sản trên thực tế hạn chế, cũng có
12
nghĩa là hạn chế hiệu quả sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, đồng
thời, tạo cơ hội cho tham nhũng, tham ô, lãng phí phát triển. Mục tiêu của
mua sắm tài sản công là để phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của các cơ quan, đơn vị và đổi mới, hiện đại hoá công sở, giảm bớt thời gian,
công sức cho việc giải quyết các công việc của công dân, tổ chức và của chính
các mối quan hệ trong nội bộ bộ máy nhà nước. Khi việc mua sắm tài sản
công không được thực hiện đúng, gây lãng phí, thất thoát, hay việc sử dụng
không đạt được hiệu quả cũng tức là các mục tiêu trên không đạt được. Điều
này ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các mục tiêu cải cách hành chính,
đơn giản hoá thủ tục hành chính, hiện đại hoá bộ máy nhà nước và nâng cao
năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong bối cảnh
phát triển nền kinh tế thị trường và giao lưu hợp tác nhiều mặt với các nước,
các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới.
sắm tài sản công không đảm bảo chất lượng và hiệu quả sử dụng để buộc các
cơ quan, đơn vị vi phạm phải bồi hoàn thông qua trừ vào dự toán chi cho mua
sắm tài sản công trong năm ngân sách tiếp theo
Thực tế cho thấy, khi một số cơ quan, đơn vị hành chính của Hà Nội có
các vi phạm trong mua sắm tài sản công thì Uỷ ban nhân dân thành phố Hà
Nội đã tiến hành siết chặt và tạm dừng việc mua sắm tài sản công tại các cơ
quan, đơn vị vi phạm. Đây có thể được coi như một biện pháp mang tính
trừng phạt, buộc các cơ quan, đơn vị đó phải giảm chi tiêu trong năm tiếp theo
và tính toán mua sắm tài sản công cho có hiệu quả hơn. Ưu điểm của phương
án này là xác định được một cách chính xác các thất thoát, lãng phí từ việc vi
phạm quy định về mua sắm tài sản công, buộc các chủ thể vi phạm phải chịu
trách nhiệm công vụ thông qua việc thắt chặt chi tiêu công trong năm tiếp
theo, nhằm nâng cao trách nhiệm đối với hoạt động mua sắm tài sản phục vụ
cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao. Tuy nhiên,
phương án này cũng có những nhược điểm như khi tài sản được mua sắm về
14
không đảm bảo chất lượng, không sử dụng được, thậm chí hỏng hóc ngay từ
khi mới đưa về, hoặc tài sản, hàng hoá không đồng bộ, không có người sử
dụng thì công vụ không được đảm bảo, không thực hiện được các mục tiêu
hiện đại hoá công sở, nâng cao năng lực của cơ quan, đơn vị hành chính nhà
nước. Ngoài ra, không có tác dụng giáo dục trách nhiệm cá nhân của lãnh đạo
các cơ quan, đơn vị trong vấn đề này.
Phương án 2. Xử lý trách nhiệm cá nhân đối với những người cố tình
làm sai các quy định về mua sắm tài sản công
Một trong những nguyên nhân dẫn đến các sai phạm trong mua sắm tài
sản công là yếu tố trục lợi cá nhân. Việc xử lý trách nhiệm cá nhân có ý nghĩa
rất lớn trong ngăn chặn các hành vi cố tình làm trái quy định về mua sắm tài
sản công. Theo quy định thì việc mua sắm tài sản công tại các cơ quan, đơn vị
Các tài sản công được mua sắm thông qua các hợp đồng dân sự hoặc qua đấu
thầu và đi đến ký kết hợp đồng dân sự nên khi sự vi phạm từ phía cơ quan,
đơn vị của Nhà nước thì cũng không cho phép khôi phục lại tình trạng ban
đầu theo hướng trả lại hàng, tài sản cho bên bán và thu tiền về để hoàn trả vào
ngân sách nhà nước. Như vậy, mặc dù không có đủ cơ sở pháp lý và cơ chế để
thực hiện nhưng đây lại là một phương án có khả năng giải quyết tốt tình
huống nêu trên và các hạn chế có thể khắc phục được.
Phương án 4. Tổ chức thanh tra, kiểm tra việc mua sắm, quản lý và sử
dụng tài sản công
Đây là phương án đang được Thành phố Hà Nội triển khai quyết liệt,
theo công văn số 4292/UBND-KT ngày 18/5/2009, Thành phố Hà Nội đã yêu
cầu các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tăng cường hướng dẫn thực
hiện chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức và việc phân cấp mua sắm,
quản lý tài sản của Nhà nước và Thành phố; tổ chức thanh tra, kiểm tra các
đơn vị trực thuộc. Bên cạnh đó, các đơn vị chủ động tự tổ chức thanh tra,
kiểm tra việc mua sắm, quản lý và sử dụng tài sản tại đơn vị. Việc xây dựng
dự toán kinh phí mua sắm tài sản công phải được xác định ngay từ dự toán
16
đầu năm và sát với nhu cầu thực tế của cơ quan, đơn vị; bảo đảm đúng tiêu
chuẩn, định mức theo chế độ quy định. Việc mua sắm tài sản công phải được
thực hiện đúng theo quy trình, thủ tục quy định về đấu giá, đấu thầu và
nguyên tắc thanh, quyết toán. Cơ quan Kho bạc nhà nước các cấp từ chối
thanh toán việc mua sắm tài sản của các đơn vị không có trong dự toán được
cấp có thẩm quyền quyết định đầu năm. Trong trường hợp cần thiết được bổ
sung dự toán trong năm, phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt bằng văn
bản…
3.3. Các giải pháp thực hiện phương án lựa chọn
Để phương án trên được thực hiện một cách có hiệu quả, cần thực hiện
trên cơ sở thống nhất thẩm quyền chính một chủ thể, có thể là chủ thể trực
tiếp sử dụng tài sản hoặc cơ quan chủ quản cấp trên, có sự tham gia giám sát,
hỗ trợ, tư vấn của các cơ quan, đơn vị có liên quan nhằm xác định trách nhiệm
chính một cách rõ ràng trong trường hợp để xảy ra các vi phạm.
Thứ hai, thực hiện đấu thầu công khai, minh bạch trong mua sắm tài
sản công.
Việc mua sắm tài sản công liên quan đến các gói thầu có giá trị lớn nên
nguy cơ xuất hiện các hành vi thông đồng đấu thầu của các doanh nghiệp, tổ
chức hay cá nhân nhằm trục lợi bất chính từ nguồn ngân sách Nhà nước là rất
cao. Ðể hạn chế tiêu cực, bảo đảm hiệu quả, cần thiết phải tạo lập, duy trì và
thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động mua sắm tài sản
công, trước hết phải ngăn chặn, hạn chế và xử lý triệt để các hành vi thông
đồng đấu thầu. Muốn vậy cần phải bảo đảm tính công khai, minh bạch về
thông tin liên quan đến hoạt động mua sắm tài sản công; áp dụng và thực thi
hiệu quả Luật Ðấu thầu, Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật liên quan;
khuyến khích gia tăng số lượng bên tham gia dự thầu; ngăn chặn hiệu quả
việc thông đồng giữa các cơ quan quản lý hay tổ chức thầu và bên dự thầu;
18
hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý nhà nước
về đấu thầu.
Thứ ba, kết hợp hai hình thức mua sắm tập trung và mua sắm phân
tán.
Để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý mua sắm tài sản công, về mô
hình cần kết hợp mua sắm tập trung và mua sắm phân tán. Mua sắm tập
trung được áp dụng đối với các loại tài sản, hàng hóa có số lượng mua sắm
nhiều, tổng giá trị lớn và có yêu cầu được trang bị đồng bộ, hiện đại như: ô-tô
phục vụ công tác, chuyên dụng, xe tải, ô-tô trên 16 chỗ ngồi, phương tiện vận
loại tài sản được mua sắm để xây dựng quy trình tổ chức thực hiện cho phù
hợp, đồng thời phải giám sát, kiểm soát chặt chẽ các vấn đề liên quan trực tiếp
đến chất lượng của tài sản, hàng hoá và việc sử dụng trong thực tiễn quản lý
của cơ quan, đơn vị.
Quy định rõ ràng về chế độ trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị trong
việc quản lý sử dụng mua sắm tài sản công. Thủ trưởng của đơn vị trong một
năm được mua sắm bao nhiêu tiền, mua sắm các tài sản đấy là đấu thầu hay
không đấu thầu, tài sản sử dụng đến thời điểm nào phải thanh lý theo quy định
của pháp luật. Tài sản mua về có giao cho người sử dụng hay không, sử dụng
có đúng mục đích, đúng chế độ hay không thủ trưởng các đơn vị phải chịu
trách nhiệm. Nếu để xảy ra tiêu cực thất thoát thì phải xử lý răn đe theo quy
định pháp luật (có thể về hành chính, hình sự).
Cán bộ, công chức cần phát huy tinh thần trách nhiệm trong phát hiện,
đấu tranh với các hành vi sai phạm trong mua sắm tài sản công nhằm ngăn
chặn sớm sự nảy sinh của các hành vi này tại các cơ quan, đơn vị hành chính
của Nhà nước ta.
Thứ năm, thực hiện nghiêm quy định của Bộ Tài chính về công khai
quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.
Theo đó, các tài sản như nhà, công trình xây dựng, phương tiện đi lại...
được hình thành từ nguồn ngân sách; tài sản là hàng viện trợ, quà biếu của tổ
20
chức, cá nhân trong và ngoài nước giao cho các cơ quan quản lý... đều được
coi là tài sản nhà nước. Các đơn vị được giao mua sắm tài sản nhà nước phải
công khai hoạt động này. Cụ thể, khi mua sắm tài sản có giá trị từ 500 triệu
đồng trở lên, cơ quan chủ quản phải công khai việc trang bị tài sản.
Bên cạnh đó, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm toán đối với
hoạt động mua sắm tài sản công ở tất cả các khâu trong quy trình tổ chức mua
sắm tài sản công.
giải pháp đó được thực hiện tốt, cần đến sự tham gia của nhiều cơ quan nhà
nước có thẩm quyền như sau:
Thứ nhất, đối với Quốc hội: cần nghiên cứu để xác định rõ ràng, cụ thể
trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm quy định về mua sắm tài sản
công, gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước.
Thứ hai, đối với Chính phủ: cần xác định rõ chế tài hành chính và chế
tài kỷ luật đối với hành vi vi phạm quy định về mua sắm tài sản công, cần
sớm được ghi nhận trong nghị định của chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Đồng thời, chỉ đạo các
Bộ, các ngành xây dựng các quy chế cụ thể về mua sắm tài sản công, tập
trung vào vấn đề phân cấp, phân quyền và quy trình cụ thể trong mua sắm tài
sản công của Bộ, ngành mình để hoạt động này nhanh chóng đi vào nề nếp.
Thứ ba, Bộ Tài chính và cơ quan tài chính các địa phương cần có các
hướng dẫn cụ thể về phân loại tài sản, hàng hoá thuộc diện mua sắm để phục
vụ cho hoạt động công vụ, các biểu mẫu phù hợp đối với từng đối tượng tài
sản và quy trình tổ chức mua sắm tài sản nhằm tạo điều kiện cho các cơ quan,
đơn vị hành chính nhà nước thực hiện tốt các quy định về mua sắm tài sản
công trong thời gian tới.
22
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp khó khăn như hiện nay, việc thực
hành tiết kiệm nhằm giảm bội chi ngân sách đang là một trong những nhiệm
vụ hàng đầu. Vì vậy, việc mua sắm tài sản công hơn lúc nào hết cần được cân
nhắc, tính toán kỹ lưỡng để các loại tài sản, hàng hoá được mua phát huy hiệu
quả, phục vụ cho công tác quản lý của các cơ quan, đơn vị hành chính và
trong việc giải quyết nhanh chóng nhu cầu của công dân, tổ chức trong xã hội.
Những vi phạm trong mua sắm tài sản công chắc chắn không chỉ nảy sinh ở