TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ LÊ HỒNG PHONG – TP.HÀ NỘI
LỚP BỒI DƯỠNG NGẠCH CHUYÊN VIÊN K2A-2015
.TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG
ĐỀ TÀI
Xử lý vi phạm hành chính đối hành vi kinh doanh hàng hóa vi phạm sở hữu
công nghiệp, kinh doanh hàng nhập lậu
Họ và tên
: Nguyễn Thị Oanh
Chức vụ
: Chuyên viên
Đơn vị công tác
: Đội Quản lý thị trường số 18
- Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội
Hà Nội, tháng 11-2015
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I. LỜI NÓI ĐẦU ………………………………………………………..1
PHẦN II. NỘI DUNG…………………………………………………………...3
1. Mô tả tình huống……………………………………………………………...3
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống………………………………………......6
3. Phân tích nguyên nhân, hậu quả………………………………………………6
tôi mạnh dạn nêu ra một trong những tình huống là “Xử lý vi phạm hành chính
đối hành vi kinh doanh hàng hóa vi phạm sở hữu công nghiệp, kinh doanh
hàng nhập lậu của bà Lê Thị Thu Quyên” làm ví dụ. Với việc sử dụng các
phương pháp: so sánh, phân tích, tổng hợp tôi đưa ra các phương án giải quyết
tình huống nhằm lựa chọn được phương án giải quyết tối ưu nhất đáp ứng những
yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ cũng như đúc rút những kinh nghiệm cho bản
thân trong quá trình công tác.
Chương trình Bồi dưỡng kiến thức về Quản lý nhà nước chương trình
chuyên viên tại trường Đào tạo Cán bộ Lê Hồng Phong – TP. Hà Nội đã phần
nào trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, cần thiết về Quản lý nhà nước đồng
thời tăng cường năng lực công tác trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm được giao. Sau thời gian học tập, tôi mạnh dạn vận dụng kiến thức
đã được học cùng với chuyên môn công tác thực tế làm việc tại Đội Quản lý thị
trường số 18 để giải quyết tình huống trên. Tuy nhiên, do kinh nghiệm thực tế
1
chưa nhiều, trình độ lý luận còn hạn chế nên tiểu luận tình huống này chắc chắn
còn nhiều khiếm khuyết, tôi mong rằng sẽ được các thầy cô đóng góp ý kiến,
qua đó nhằm hoàn thiện bài tiểu luận tình huống của tôi đồng thời giúp bản thân
tôi nâng cao được năng lực giải quyết, xử lý tình huống trong công việc.
Xin chân thành cảm ơn!
2
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Mô tả tình huống
Thực hiện chỉ đạo của Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội về việc đẩy
mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong
4 - Kiểm tra việc thực hiện niêm yết giá hàng hóa tại cửa hàng.
Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 03/8/2015, Tổ công tác số 1 - Đội Quản lý
thị trường số 18 gồm: 01 đồng chí Phó Đội trưởng, 02 đồng chí kiểm soát viên
thị trường, 01 đồng chí kiểm soát viên trung cấp đã tiến hành kiểm tra đối với
Cửa hàng kinh doanh tạp hóa - mỹ phẩm Lê Quyên tại địa chỉ: Thị trấn Tây
Đằng, Ba Vì, Hà Nội. Kết quả kiểm tra như sau:
Tại thời điểm kiểm tra, Cửa hàng kinh doanh tạp hóa – mỹ phẩm Lệ
Quyên đang hoạt động kinh doanh tạp hóa, tạp phẩm, mỹ phẩm.
Bà Lê Thị Thu Quyên – chủ cửa hàng xuất trình Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể số: 01Q8001969 do Phòng Tài chính – Kế
hoạch, Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì cấp ngày 19/01/2014, ngành nghề kinh
doanh: kinh doanh tạp hóa, tạp phẩm, mỹ phẩm;
* Thực tế kiểm tra tại cửa hàng, Tổ kiểm tra phát hiện bà Quyên đang bày
bán nhiều mặt hàng mỹ phẩm, gồm 30 sản phẩm mỹ phẩm các loại trong đó có:
dầu gội đầu, sữa tắm, sữa rửa mặt, kem dưỡng da, kem mặt nạ, son, phấn… toàn
bộ số hàng hóa mỹ phẩm trên là do nước ngoài sản xuất, không có tem phụ bằng
tiếng Việt Nam. Bà Quyên không xuất trình được hóa đơn chứng từ chứng minh
nguồn gốc xuất xứ của số hàng hóa trên. Căn cứ giá niêm yết tại cửa hàng, tổng
trị giá số hàng hóa tính theo giá niêm yết là 10.560.000 đồng (Mười triệu năm
trăm sáu mươi nghìn đồng ./.);
Kiểm tra đối với hàng hóa khác đang bày bán tại cửa hàng, Tổ kiểm tra
phát hiện có 14 (mười bốn) đôi dép quai hậu gắn biểu tượng nhãn hiệu NIKE có
dấu hiệu giả mạo biểu tượng nhãn hiệu NIKE đã được bảo hộ trên thị trường, giá
niêm yết tại cửa hàng là 275.000 đồng/đôi – Tổng trị giá số hàng hóa trên tính
theo giá niêm yết là 275.000 đồng x 14 đôi = 3.850.000 đồng (Ba triệu, tám trăm
năm mươi nghìn đồng./.).
4
- Bà Quyên thực hiện niêm yết giá đầy đủ đúng quy định của pháp luật.
để bà có cơ hội sửa chữa nhờ chính sách khoan hồng của pháp luật. Bà thành
thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình, mong muốn hợp tác và có thái độ
thành khẩn khi làm việc với Tổ công tác. Nội dung buổi làm việc đã được Tổ
công tác số 1 ghi lại tại Biên bản xác minh làm việc số 0028268/BB-XMLV.
Kết luận của Tổ kiểm tra đối với bà Lê Thị Thu Quyên là:
- Kinh doanh hàng hóa mang biểu tượng nhãn hiệu NIKE là hàng hóa giả
mạo nhãn hiệu NIKE đã được bảo hộ tại Việt Nam. Tổng trị giá hàng hóa vi
phạm là là 3.850.000 đồng.
- Kinh doanh hàng hóa mỹ phẩm là hàng hóa nhập lậu có trị giá:
10.560.000 đồng.
Đề nghị lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi trên. Và lập biên
bản vi phạm hành chính số 01760043/BB-VPHC được lập vào hồi 09 giờ 00
ngày 05/8/2015 trong đó ghi rõ hành vi vi phạm của bà Lê Thị Thu Quyên như
trên.
2. Xác định mục tiêu xử lý tình huống
Mục tiêu 1: Xử lý nghiêm minh, triệt để, nhanh, gọn, đúng pháp luật đối
với hành vi vi phạm hành chính do tình huống đặt ra. Qua đó góp phần làm tốt
công tác bình ổn thị trường, thu ngân sách cho nhà nước.
Mục tiêu 2: Tăng cường tính pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Mục tiêu 3: Tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh,
kinh tế thị trường, bảo vệ công bằng xã hội, lợi ích hợp pháp của người tiêu
dùng, của các tổ chức và công dân hoạt động kinh doanh chân chính.
Mục tiêu 4: Giải quyết hài hòa giữa tính pháp lý, lợi ích kinh tế và lợi ích
xã hội.
3. Phân tích nguyên nhân, hậu quả
3.1. Nguyên nhân:
6
Việc để xảy ra các hành vi vi phạm pháp luật trong kinh doanh đặc biệt là
kinh doanh hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ nhất là mỹ phẩm gây
thiệt hại không nhỏ về kinh tế, sức khỏe, tinh thần của người tiêu dùng.
Từ sự phát triển của các cơ sở kinh doanh trái pháp luật tràn lan trên thị
trường gây ra sự hoang mang, nghi ngờ, sự thiếu tin tưởng của người dân đối
với các cơ quan chức năng của địa phương trong việc kiểm tra, kiểm soát các
hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, làm giảm sút lòng tin của nhân dân,
làm nảy sinh những bất bình gây ảnh hưởng tới uy tín của các cơ quan quản lý
nhà nước trong lòng người dân.
Đặc biệt trong điều kiện mở cửa hội nhập kinh tế hiện nay, việc để xảy ra
và ngày càng gia tăng các hành vi kinh doanh hàng giả hay hành vi buôn lậu,
gian lận thương mại còn làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của quốc gia, làm
giảm sút lòng tin cũng như uy tín của Nhà nước đối với các nhà đầu tư và trên
trường quốc tế.
4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống.
Như đã nêu trong tình huống trên, vụ việc của hộ kinh doanh Lê Thị Thu
Quyên có 2 hành vi vi phạm hành chính gồm hành vi: kinh doanh hàng giả vi
phạm sở hữu công nghiệp, kinh doanh hàng hóa nhập lậu. Theo Luật xử lý vi
phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2012 của Quốc Hội có
nêu nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính “…Một người thực hiện nhiều hành vi
vi phạm hành chính hoặc vi phạm nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi
phạm hành chính đó…”. Như vậy để xử lý vụ việc trên phải căn cứ vào từng
hành vi cụ thể, đối chiếu và áp dụng vào các quy định của pháp luật để có
phương án giải quyết. Căn cứ pháp lý để giải quyết tình huống trên gồm có:
Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm
và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc Nghị định số 176/2013/NĐ-CP của
9
Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại
cho sức khỏe con người. Áp dụng Khoản 5, Điều 17 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ.
Tổng số tiền phạt: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng chẵn./.)
* Ưu điểm:
- Thực hiện được theo đúng quy định về việc áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008: "Trong
trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà
có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản
được ban hành sau."
- Mức xử phạt 10.000.000 đồng là tương đối cao, gây khó khăn cho việc
thu ngân sách Nhà nước.
- So với các phương án khác, mức phạt ở phương án này đảm bảo có tính
răn đe đối với cá nhân người vi phạm và đối với các đối tượng khác khi có hành
vi tương tự.
* Nhược điểm:
- Mức xử phạt trong trường hợp này là tương đối cao. Tuy vậy, mức xử
phạt đối với hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu nói riêng, tính răn đe không
cao trong trường hợp hàng hóa nhập lậu là hàng hóa có gây hại cho sức khỏe
con người (mỹ phẩm, dược phẩm, thực phẩm chức năng...)
- Khó khăn cho Đội Quản lý thị trường số 18 trong việc thực hiện biện
pháp khắc phục hậu quả. Theo Khoản 5, Điều 17 Nghị định 185: buộc tiêu hủy
hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người. Để xác định số vật phẩm
(mỹ phẩm vi phạm nói trên) có gây hại cho sức khỏe con người hay không cần
phải có kết quả giám định. Nhưng muốn giám định cho kết quả chính xác thì
phải giám định theo cả lô mỹ phẩm. Trong khi đó, số mỹ phẩm vi phạm trong
vụ việc này đều không cùng 1 lô, do bà Quyên mua trôi nổi trên thị trường mỗi
11
Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc tiêu hủy toàn bộ mỹ phẩm trên. Áp
dụng Điểm a, Khoản 4, Điều 51 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày
14/11/2013 của Chính phủ.
Tổng số tiền phạt: 13.500.000 đồng (Mười ba triệu, năm trăm nghìn
đồng./.)
* Ưu điểm:
- Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định cụ thể xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó có quy định mức xử phạt cụ thể
đối với hàng hóa vi phạm là mỹ phẩm nhập lậu. Trong khi Nghị định
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 chỉ quy định mức xử phạt đối với hàng hóa
nhập lậu nói chung. Do đó, mức xử phạt tại Nghị định 176/2013/NĐ-CP cao
hơn so với Nghị định 185/2013/NĐ-CP, tăng tính răn đe đối với các đối tượng
vi phạm.
- Nghị định 176 quy định biện pháp khắc phục hậu quả rất rõ ràng đối với
hàng hóa vi phạm là mỹ phẩm nhập lậu (tiêu hủy toàn bộ hàng hóa vi phạm), do
đó dễ dàng cho Đội Quản lý thị trường số 18 thực thi nhiệm vụ.
* Nhược điểm:
- Nếu coi hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu và hành vi kinh doanh
mỹ phẩm nhập lậu là cùng một vấn đề thì áp dụng xử phạt theo phương án này
là không phù hợp với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2008: "Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ
quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy
định của văn bản được ban hành sau." Như vậy nếu sử dụng Nghị định
176/2013/NĐ-CP là không hợp lý.
- Mức xử phạt cao hơn so với mức xử phạt tại các phương án còn lại: đối
tượng vi phạm có thể không hợp tác, gây khó khăn cho Đội Quản lý thị trường
ngày 29/8/2013 của Chính phủ.
13
- Phạt tiền: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn./.) đối với hành vi kinh
doanh hàng hóa nhập lậu. Áp dụng Điểm đ, Khoản 1, Điều 17 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ.
Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại
cho sức khỏe con người. Áp dụng Khoản 5, Điều 17 Nghị định số
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ.
Tổng số tiền phạt: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng chẵn./.)
* Ưu điểm
- Thực hiện được theo đúng quy định về việc áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật.
- Mức tiền phạt chính thấp, tạo điều kiện cho đương sự thực hiện việc nộp
phạt dễ dàng, nhanh gọn hơn.
- Giải quyết được đúng pháp luật mà vẫn có tình do áp dụng tình tiết giảm
nhẹ vào vụ việc.
* Nhược điểm:
- Mức phạt thấp nên tính răn đe không cao đối với các đối tượng khác
trước khi có hành vi vi phạm.
- Khó khăn trong việc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
4.4.Phương án 4
Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Căn cứ Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
Căn cứ Nghị định số 176/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
Căn cứ biên bản vi phạm hành chính số 01760043/BB-VPHC do Tổ kiểm
15
- So với các phương án khác, mức phạt ở phương án này đảm bảo có tính
răn đe đối với chủ hộ kinh doanh và đối với các đối tượng khác trước khi có
hành vi tương tự.
- Dễ dàng áp dụng biện pháp khắc phục hiệu quả do đã có quy định cụ
thể.
- Giải quyết có tình có lý thông qua việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ, đảm
bảo được tính pháp lý, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
* Nhược điểm:
- Thực hiện không theo đúng quy định về việc áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật. Bởi vì Nghị định số 176/2013/NĐ-CP là được ban hành trước Nghị
định số 185/2013/NĐ-CP.
Thông qua các phương án trình bày ở trên có dễ dàng nhận thấy, việc áp
dụng các văn bản pháp luật có sự chồng chéo nhau. Đó là việc xử phạt vi phạm
hành chính đối với hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu, thì cả trong Nghị định
số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định số 176/2013/NĐ-CP của
Chính phủ đều quy định nhưng với mức xử phạt hành chính khác nhau.
Qua việc đưa ra các phương án lựa chọn, cùng với việc phân tích những
ưu điểm, nhược điểm của từng phương án cho thấy phương án tối ưu nhất so
với các phương án còn lại là phương án 4.
Như vậy lựa chọn phương án 4 để giải quyết là tối ưu nhất bởi vụ việc vi
phạm được giải quyết triệt để, chi phí và thời gian cho việc xử lý vụ việc được
tối thiểu hóa, tính răn đe, tính khả thi, trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên.
Đảm bảo thỏa mãn cao các mục tiêu ban đầu hướng tới. Vì vậy tôi chọn phương
án 4 để giải quyết tình huống trên.
16
Đồng chí Tổ trưởng Do bà Lê
vi phạm hành
Thu Quyên
hạn 10
Tổ kiểm tra cùng
Thị Thu
chính
có trách
ngày kể từ
với Tổ kiểm tra số
Quyên tự
9.000.000
1
nhiệm đến
ngày nhận
1 có trách nhiệm
đối với 14 đôi
hành tiêu hủy Thị Thu
trường số 18 thành
Thị Thu
dép vi phạm sở hàng hóa
Quyên tự
2
hữu công
không quá 15 chi trả
lập Hội đồng giám
Quyên
nghiệp và 30
ngày kể từ
sát quá trình tiêu
sản phẩm mỹ
ngày ra quyết
hủy hàng hóa trên
hình để kịp thời xử lý.
2. Kiến nghị
Qua vụ việc trên tôi cũng mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị như sau:
Đội quản lý thị trường số 18 cần làm tốt hơn nữa công tác kiểm tra, kiểm
soát thị trường, tăng cường hơn nữa công tác quản lý địa bàn, kiểm tra, giám sát
các cơ sở kinh doanh, đặc biệt là hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng nhái
hay các mặt hàng có khả năng gây hại, ảnh hưởng đến sức khỏe lâu dài của
người tiêu dùng như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, dược phẩm.... nhằm sớm
phát hiện, xử lý các hành vi sai phạm như trên.
Đồng thời, chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, vận động
toàn dân tham gia phòng ngừa và đấu tranh chống kinh doanh hàng giả, hàng
lậu, tác hại của việc sử dụng hàng giả, hàng không đảm bảm về chất lượng và
hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ đề người tiêu dùng biết, tránh trường hợp tiền
mất, tật mang.
Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan như
Thanh tra chuyên ngành, Quản lý thị trường, Công an, UBND các cấp (để thực
thi các biện pháp hành chính), Tòa án (để thực thi các biện pháp tư pháp về dân
18
sự, hình sự, kinh tế). Ngoài ra, cần tăng cường số lượng và chất lượng cán bộ
quản lý thị trường có đủ năng lực, trình độ, cũng như các phương tiện cần thiết
cho việc giám định, kiểm tra để xử lý kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm.
Để đạt được mục tiêu, cùng với sự cố gắng của cơ quan chức năng, đối
với người tiêu dùng, cũng phải sáng suốt lựa chọn trong mua sắm, tiêu dùng, cần
nâng cao tinh thần cảnh giác khi mua hàng và phải nhận thức rõ nhiệm vụ của
mình trong việc chống hàng lậu, hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng chứ
không hoàn toàn là nhiệm vụ của cơ quan chức năng vì người dân là chủ thể tiếp
xúc trực tiếp và tiêu dùng hàng ngày. Việc này không chỉ là bảo vệ quyền lợi
của mình mà còn chống lại hành vi phá hoại sản xuất, kìm hãm sự phát triển nền
định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.
6. Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính Phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán
hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
20