Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
BLDS:
KDBH:
HĐBH:
DNBH:
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật dân sự
Kinh doanh bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
B. NỘI DUNG:
1. Những quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm con
người.
1.1. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm con người.
1.2. Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm con người.
1.3. Phân loại hợp đồng bảo hiểm con người.
1.4. Ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.5. Các yếu tố của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.6. Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm con
người.
2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp
đồng bảo hiểm con người.
2.1. Vài nét đánh giá chung về thị trường bảo hiểm con
người ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp
đồng bảo hiểm con người.
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Nguồn gốc phát sinh của hoạt động bảo hiểm chính là sự tồn tại của các rủi
ro trong cuộc sống. Thực tế cuộc sống của con người luôn tồn tại rủi ro như
một tất yếu khách quan như thiên tai, dịch bệnh, tại nạn… Mặc dù ngày nay,
khi mà khoa học kỹ thuật đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng để chế ngự
thiên nhiên và hạn chế rủi ro, song con người đã gây ra những rủi ro mới với
tính chất và mức độ rủi ro trầm trọng hơn. Nói một cách khác, rủi ro làm một
người bạn đồng hành đáng lo ngại trong cuộc sống mà dù muốn hay không
con người cũng phải chấp nhận nó.
Đời sống con người ngày càng tăng lên, do đó họ không chỉ muốn đảm
bảo rủi ro cho công việc kinh doanh mà còn muốn đảm bảo cho bản thân, cho
gia đình họ, từ đó bảo hiểm con người ra đời. Bảo hiểm con người giúp mỗi
người khi tham gia ổn định cuộc sống, khắc phục khó khăn, tạo ra chỗ dựa
tinh thần để họ an tâm học tập, lao động sản xuất. Trong chiến lược phát triển
kinh tế xã hội 2000 – 2010, Đảng và nhà nước ta đã xác định “tổ chức và vận
hành an toàn, hiệu quả thị trường bảo hiểm trong nước, mở rộng quy mô và
phạm vi hoạt động, kể cả việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài”. Bảo hiểm nói
chung, bảo hiểm con người nói riêng đang được sự quan tâm của Đảng, nhà
nước và của toàn xã hội.
Đối với nước ta hiện nay là một nước đang phát triển, vừa là thành viên
của tổ chức Thương mại thể giới (WTO), cùng với việc các nước tăng cường
hợp tác thì việc phát triển kinh tế xã hội là tất yếu và vì vậy, vấn đề bảo hiểm
con người càng được quan tâm hơn bao giờ hết.
Chính vì những nguyên nhân trên, em quyết định chọn đề tài: “Hợp đồng
bảo hiểm con người theo quy định của pháp luật hiện hành - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn”.
đến tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạn con người. Vì vậy, theo em:
“HĐBH con người là sự thỏa thuận giữa bên mau bảo hiểm và DNBH để bảo
hiểm cho tuổi thọ, tính mạng sức khỏe, tai nạn của người tham gia bảo hiểm
hoặc người được chỉ định trong hợp đồng, theo đó bên mua bảo hiểm phải
đóng phí bảo hiểm và DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
1.2. Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm con người.
1.2.1. Hợp đồng bảo hiểm con người là hợp đồng thanh toán có định mức:
Đối tượng của bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạn
con người. Đó là những thứ vô giá không thể tính toán được, không thể xác
định được chính xác và trên thực tế không bù đắp nổi. Vì thế, trong HĐBH
con người không tồn tại điều khoản giá trị bảo hiểm. Nghĩa vụ của DNBH ở
đây là trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng và không phải là trách
nhiệm bồi thường tổn thất mà là giúp đỡ về mặt vật chất cho người được bảo
hiểm. Và cũng chính từ đối tượng HĐBH con người không thể tính toán được
thành tiền nên số tiền DNBH trả cho khách hàng chỉ có thể là một số tiền
được ấn định sẵn ngay từ khi ký kết hợp đồng. Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
bên bảo hiểm sẽ thanh toán cho bên tham gia bảo hiểm và thường không bị
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
3
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
giới hạn bởi nguyên tắc giá trị thiệt hại giống như HĐBH tài sản và HĐBH
trách nhiệm dân sự.
1.2.2. Hợp đồng bảo hiểm con người không áp dụng nguyên tắc bảo hiểm
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
4
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
làm cho hợp đồng này chiếm khối lượng lớn trên thị trường bảo hiểm, thu hút
nhiều người tham gia.
1.2.4. Các loại hợp đồng trong bảo hiểm con người rất đa dạng, phức tạp:
Trong HĐBH con người có các sản phẩm bảo hiểm khác nhau rồi mỗi một
hợp đồng có sự khác nhau ở thời hạn bảo hiểm, số tiền bảo hiểm rồi độ tuổi
của người tham gia. Chủ thể trong HĐBH con người có thể có bốn bên tham
gia: Người bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người
thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm. Đặc điểm này chỉ có duy nhất trong HĐBH
con người và vì thế làm cho hợp đồng này phức tạp hơn.
1.2.5. Hợp đồng bảo hiểm con người chịu ảnh hưởng của những điều kiện
kinh tế xã hội nhất định:
Khi điều kiện kinh tế xã hội phát triển, áp lực cuộc sống giảm đi, con
người không phải lo cho cuộc sống hàng ngày thì lúc đó họ mới có thể nghĩ
đến bảo hiểm. Ở các nước kinh tế phát triển bảo hiểm nhân thọ là loại hình
chủ yếu của bảo hiểm con người đã ra đời và phát triển rất lâu còn những
nước kém phát triển hoặc đang phát triển thì những hình thức bảo hiểm này
hoặc là chưa có hoặc là mới bắt đầu triển khai. Ngoài ra, bảo hiểm con người
còn phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác như đường lối chính sách, trình
độ học vấn của người dân…
1.3. Phân loại hợp đồng bảo hiểm con người:
Theo thời hạn bảo hiểm:
HĐBH tử kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu người được bảo hiểm chết
trong thời hạn thoả thuận thì doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền bảo
hiểm cho người thụ hưởng.
HĐBH sinh kỳ: Là loại hợp đồng mà theo đó nếu người được bảo hiểm
sống đến hết thời hạn thoả thuận, doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ trả tiền
bảo hiểm cho người thụ hưởng.
HĐBH hỗn hợp: Là loại HĐBH kết hợp cả hai loại nghiệp vụ bảo hiểm đó
là: bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ.
HĐBH phi nhân thọ: Là loại hợp đồng chỉ liên quan đến các rủi ro như
bệnh tật, tai nạn, mất khả năng lao động và cả tử vong. Đặc điểm này không
liên quan đến tuổi thọ con người.
1.4. Ý nghĩa của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.4.1. Đối với người tham gia bảo hiểm:
HĐBH con người góp phần ổn định đời sống, là chỗ dựa tinh thần cho
người tham gia cũng như người được hưởng bảo hiểm. Trên bảo Tiền phong
với nhan đề “Bảo hiểm nhân thọ, sự an tâm vô giá” khách hàng cho biết
“nếu có điều kiện chúng ta nên tham gia bảo hiểm nhân thọ bởi lẽ nhu cầu
bảo vệ tài chính cho gia đình là rất cần thiết. Tất nhiên chẳng ai mong đợi
những điều không may xảy ra, nhưng bảo hiểm sẽ mang đến sự an tâm cho
gia đình trước những bất chắc và giảm gánh lo về tài chính những lúc ngặt
nghèo. Đối với tôi sự an tâm là vô giá”. Sự an tâm giúp con người vượt qua
khó khăn, tiếp tục cuộc sống đảm bảo cho tương lai sau này.
1.4.2. Đối với doanh nghiệp bảo hiểm:
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
6
Theo số liệu thống kê thì ở Mỹ có gần 2 triệu người lao động làm việc trong
nghành bảo hiểm còn ở Việt Nam năm 2002 bảo hiểm thu hút 90.000 lao
động làm việc trong đó bảo hiểm nhân thọ là 74.494 người.
1.5. Các yếu tố của hợp đồng bảo hiểm con người.
1.5.1. Chủ thể.
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
7
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
HDBH con người bao gồm các chủ thể:
Doanhh nghiệp bảo hiểm: Khoản 5 Điều 3 Luật KDBH có khái niệm:
“DNBH là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định
của luật này và các quy định của pháp luật có liên quan để KDBH và tái bảo
hiểm”. Còn theo Đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ của Hiệp hội bảo hiểm
Việt Nam có định nghĩa: “Người bảo hiểm là các doanh nghiệp bảo hiểm
nhận bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và có trách nhiệm thực hiện đúng các cam
kết, lời hứa với người tham gia bảo hiểm”. Cả hai khái niệm trên đều nhấn
mạnh đến khía cạnh thành lập và hoạt động của DNBH.
Bên mua bảo hiểm: Theo khoản 6 Điều 3 Luật KDBH thì “bên mua bảo
hiểm là các tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp
và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người bảo hiểm
hoặc người hưởng thụ”. Theo Giáo trình đào tạo đại lý bảo hiểm phi nhân thọ
của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam có định nghĩa: “doanh nghiệp người tham
gia bảo hiểm là các tổ chức cá nhân chuyển giao rủi ro cho các doanh nghiệp
bảo hiểm, đóng phí bảo hiểm”. Vì vậy, bên mua bảo hiểm có thể là tổ chức,
Tuổi thọ: người bảo hiểm sẽ trả cho người được bảo hiểm (hoặc người thụ
hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện bảo
hiểm sảy ra (nếu người được bảo hiểm sống hoặc chết tại một thời điểm nhất
định) và nó liên quan đến tuổi thọ của con người.
Tai nạn: bảo hiểm cho các trường hợp tai nạn xảy ra gây thiệt hại cho con
người, những thiệt hại đó bắt nguồn duy nhất và trực tiếp từ một tai nạn do
vật thể hữu hình tác động từ bên ngoài gây ra và là nguyên nhâ trực tiếp, độc
lập với các nguyên nhân khác dẫn đến tử vong hoặc thương tật. Với đối tượng
này có các loại hình HĐBH con người phổ biến như là bảo hiểm tai nạn con
người 24/24h và bảo hiểm tai nạn hành khách.
Sức khỏe: bảo hiểm khi người tham gia (hay người được bảo hiểm) phải
nghỉ việc do ốm đau, tai nạn mất khả năng lao động (vì lý do ốm đau hoặc tai
nạn hoàn toàn không thể theo đuổi nghề nghiệp ghi trong đơn bảo hiểm và
không thể theo đuổi bất một nghề nào khác).
Tính mạng: Việc bảo hiểm liên quan đến sự sống của con người. Nêu
không thuộc các trường hợp quy định theo khoản 1 Điều 39 Luật KDBH thì
mọi trường hợp khi tử vong đều được nhận tiền bảo hiểm.
Trong các hợp đồng có đối tượng là tuổi thọ, sức khỏe… con người đều đề
cập đến trường hợp nếu xảy ra trường hợp tử vong thì giải quyết qyền lợi như
thế nào. Có quy định như vậy là do tính mạng con người là vô giá không gì có
thể bù đắp thay thế được.
Nội dung của hợp đồng bảo hiểm con người:
Bảo gồm các điều khoản mà thông qua đó các bên chủ thể thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình. Do HĐBh con người cũng là HĐBH nên theo Điều 13
Luật KDBh nội dung của nó bao gồm các điều khoản chủ yếu: Tên, địa chỉ
của DNBH, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng; Đối tượng của hợp
đồng bảo hiểm con người; Số tiền bảo hiểm; Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo
hiểm, điều khoản bảo hiểm.
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Theo Điều 22 Luật KDBH quy định 4 trường hơp HDBH vô hiệu. Vậy, để
có hiệu lực thì HDDBH con người có điều kiện là: Bên mua bảo hiểm có
quyền lợi có thể được bảo hiểm; Đối tượng được bảo hiểm phải tồn tại vào
thời điểm giao kết hợp đồng; Tại thời điểm giao kết HĐBH con người, chưa
có sự kiện bảo hiểm xảy ra; Bên mua bảo hiểm hoặc DNBH không được có
hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng.
HĐBH con người vô hiệu khi vi phạm 1 trong 4 điều kiện có hiệu lực của
hợp đồng nói chung hoặc vi phạm các điều kiện có tính đặc thù của HDDBH
con người nói riêng.
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
10
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hợp đồng bảo hiểm
con người.
2.1. Vài nét đánh giá chung về thị trường bảo hiểm con người ở Việt
Nam hiện nay.
Thị trường bảo hiểm con người vẫn là mới mẻ đối với người dân Việt Nam.
Có nhiều nguyên nhân khác nhau để tạo nên sự mới mẻ của lĩnh vực bảo hiểm
con người đối với người dân Việt Nam nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu
sau đây: Bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ (lĩnh vực chính của bảo
hiểm con người) đã ra đời và tồn tại trong một thời gia dài còn ở Việt Nam
mới được coi trọng và phát triển trên khoảng 10 năm gần đây (từ năm 1993
khi Nghị định 100CP của Chính phủ ra đời). Vì vậy, bảo hiểm con người còn
mới mẻ ở Việt Nam là điều dễ hiểu; Đời sống khó khắn, thu nhập bình quân
Sự khó hiểu trong các điều khoản của HĐBH bởi lẽ các DNBH khi soạn
thảo các nội dung của hợp đồng đưa ra rất nhiều các giả định “Nếu… thì…”
vì thực chất là bảo hiểm cho sự kiện xảy ra trong tương lai (nếu có). Không ai
có thể biết trước được sự kiện đó xảy ra hay không. Và nếu trước khi ký kết
hợp đồng mà bên mua bảo hiểm đã biết về sự kiện đó thì HĐBH sẽ bị vô hiệu
do bị lừa dối.
Thực tế có rất nhiều trường hợp khách hàng khi ký kết hợp đồng chưa hiểu
hoặc hiểu chưa hết được các quyền vả nghĩa vụ của mình trong khi các đại lý
với các tư vấn viên muốn ký kết được nhiều hợp đồng với khách hàng thường
nêu lên các quyền với các ưu đãi do ký kết hợp đòng mang lại mà quên di
việc giải thích cho khách hàng các điều khoản có thể ảnh hưởng đến chính
quyền lợi của họ như: điều khoản miễn trách nhiệm, điều khoản giá trị hoàn
lại khi hợp đồng đã có hiệu lực trên 2 năm… Các quy định của pháp luật là
diều kiện để HĐBH con người được thực hiện, tránh tranh chấp xảy ra, tạo
nên một môi trương pháp lý lành mạnh. Nhưng thực trạng áp dụng các quy
định của pháp luật về bảo hiểm con người ở Việt Nam vẫn tạo ra nhiều tranh
chấp. Có rất nhiều các nguyên nhân khác nhau và các nguyên nhân phổ biển
là do DNBH từ chối trả tiền bảo hiểm thiếu căn cứ pháp luật, do bên mua bảo
hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng cố ý gây ra sự kiện bảo
hiểm để nhận tiền bảo hiểm, do sự thiếu hoàn chỉnh trong quy định của pháp
luật. Theo từ điển thuật ngữ luật học: “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là
tranh chấp giữa các bên trong việc thực hiện các điều khoản của hợp đồng”.
Vì thế, tranh chấp HĐBH con người là sự xung đột bất đồng ý kiến giữa
DNBH và bên tham gia bảo hiểm trong việc thực hiện các điều khoản của
HĐBH con người.
Những tranh chấp tiêu biểu thường xảy ra xung quanh HĐBH con người:
Tranh chấp phát sinh từ nghĩa vụ cung cấp thông tin của khách hàng; tranh
chấp do việc xác định sự kiện bảo hiểm; tranh chấp do nội dung của hợp đồng
không rõ ràng.
3. Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
Những đối tượng và có quan hệ hôn nhân hoặc huyết thống với nhau. Luật đã
giới hạn bằng từ “chỉ” có nghĩa là ngoài những đối tượng này ra bên mua bảo
hiểm không thể mua bảo hiểm cho ai khác. Nhưng khi chúng ta tìm hiểu khái
niêm “nuôi dưỡng” và “cấp dưỡng” theo Luật hôn nhân và gia đình thì hai
khái niệm này được quy định ở những trường hợp trái ngược nhau thậm chí
sự tồn tại của khái niệm này sẽ loại trừ khái niệm kia.
Theo khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình thì “cấp dưỡng là việc
một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân,
huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành
niên, là người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có
tài sản để tự nuôi mình, là người khó khăn túng thiếu theo quy định của Luật
này”. Còn nuôi dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình sẽ được
hiểu là giữa những người sống chung với nhau. Luật này đã liệt kê quan hệ
nuôi dưỡng giữa những người trong gia đình với nhau, đó là: quan hệ nuôi
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
13
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
dưỡng giữa cha mẹ và con (Điều 34 và Điều 35); quan hệ nuôi dưỡng giữa
ông bà nội, ông bà ngoại và cháu (Điều 47); quan hệ nuôi dưỡng giữa anh chị
em trong gia đình (Điều 48). Hơn nữa, khoản 2 Điều 50 quy định: “trong
trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì buộc
phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại luật này”.
Từ những khái niệm trên thì hoàn cảnh phát sinh quan hệ nuôi dưỡng và
14
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
bên mua bảo hiểm phải chính xác và bên bảo hiểm hoàn toàn tin tưởng vào
thông tin đó.
Theo khoản 2 Điều 34 Luật KDBH nếu bên mua bảo hiểm thông báo sai
tuổi của người được bảo hiểm mà tuổi đúng của người được bảo hiểm không
thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền
huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí sau khi trừ các chi phí liên quan
nếu hợp đồng có hiệu lực dưới hai năm. Nếu hợp đồng có hiệu lực trên hai
năm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại
của hợp đồng.
Xem xét hành vi huỷ bỏ hợp đồng theo Điều 425 Bộ luật dân sự 2005 thì
hậu quả là:
1. Một bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại
khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả thuận
hoặc pháp luật có quy định.
2. Bên huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc huỷ
bỏ hợp đồng, nếu không thông báo ngay mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
3. Khi hợp đồng bị huỷ bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực tại thời điểm
giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản đã nhận; nếu không hoàn
trả được bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền.
4. Bên có lỗi trong việc gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Bộ luật dân sự là luật gốc nên các quy định của luật chuyên ngành phải
phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Bộ luật này. Nếu quy định của luật chuyên
ngành và bộ luật dân sự cùng điều chỉnh một vấn đề thì ưu tiên áp dụng luật
chuyên ngành. Khoản 1 Điều 2 Luật KDBH quy định: “tổ chức và hoạt động
kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải
nên đã xác lập nên giao dịch đó”. Cũng theo quy định của bộ luật dân sự thì
hành vi lừa dối sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu nhưng luật kinh doanh bảo hiểm
quy định hai hậu quả pháp lý khác nhau đó là doanh nghiệp bảo hiểm có
quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm (điểm a khoản 2
Điều 19) và hợp đồng bảo hiểm vô hiệu (điểm d khoản 1 Điều 22).
3.1.4. Về điều khoản hợp đồng bảo hiểm con người
Do tập điều khoản HĐBH con người có nhiều điểm tối nghĩa khiến cho
khách hàng có thể hiểu sai: Trước hết đó là điều khoản buộc người mua bảo
hiểm phải tự suy luận ra hai điều:
Thứ nhất, nếu bên mua bảo hiểm không tiếp tục đóng phí bảo hiểm thì
công ty bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và bên
mua bảo hiểm không có quyền đòi lại khoản phí bảo hiểm nếu thời gian đã
đóng phí bảo hiểm dưới hai năm.
Thứ hai, nếu thời gian đóng phí bảo hiểm trên hai năm thì bên mua bảo
hiểm có quyền đòi giá trị hoàn lại ( giá trị giải ước) của hợp đồng bảo hiểm.
Việc quy định như vậy khiến người mua rất dễ hiểu rằng mọi trường hợp
nếu không tiếp tục đóng phí bảo hiểm thì đều được nhận giá trị hoàn lại.
Không chỉ những thế Luật KDBH và các văn bản hướng dẫn thi hành đều
không đưa ra khái niệm thế nào là “giá trị hoàn lại” nên dẫn đến nhiều cách
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
16
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
hiểu khác nhau. Việc hiểu như thế nào là giá trị hoàn lại dựa trên các khái
niệm mà các doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra “giá trị hoàn lại là số tiền bên
đích cho phép doanh nghiệp từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
17
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
trường hợp bên mua bảo hiểm có hành vi trục lợi. Hay nói cách khác DNBH
không phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm khi chứng minh được khách hàng đã
lừa dối mình để thu lợi bất chính từ việc mua bảo hiểm. Điều khoản này chỉ
đúng với bảo hiểm tài sản hay bảo hiểm trách nhiệm dân sự, đối với hợp đồng
bảo hiểm con người chỉ đúng khi bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm,
người thụ hưởng trùng là một. Nhưng nếu bên mua bảo hiểm không đồng thời
là người được bảo hiểm hay người thụ hưởng thì quy định trên về điều khoản
loại trừ trách nhiệm bảo hiểm là chưa đầy đủ. Bởi lẽ không chỉ do bên mua
bảo hiểm vi phạm pháp luật do cố ý để tạo ra sự kiện bảo hiểm mà còn có thể
do bên được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng.
3.2. Kiến nghị và giải pháp
Những kiến nghị, giải pháp tác giả đưa ra nhằm mục đích đảm bảo quyền
lợi của hai bên, để giữ vững niềm tin của người dân vào pháp luật, đặc biệt là
đảm bảo vận hành có hiệu quả hệ thống pháp luật của nhà nước vì vậy:
3.2.1. Cần sửa đổi những điểm bất hợp lý của luật kinh doanh bảo hiểm
cho phù hợp với nhu cầu thực tế.
Thứ nhất: bổ sung vào khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm trong
hợp đồng bảo hiểm con người để mở rộng hơn nữa phạm vi đối tượng tham
gia trong thực tế. Quyền lợi này không chỉ dừng lại ở quyền, nghĩa vụ nuôi
dưỡng, cấp dưỡng trong quan hệ hôn nhân huyết thống mà còn bao gồm cả
doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.
3.2.2. Cần có những biện pháp cụ thể từ doanh nghiệp bảo hiểm, người
tham gia bảo hiểm và đặc biệt là chính sách của nhà nước.
Để hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm con người nói
riêng được thực hiện một cách thuận lợi và rộng rãi trên thực tế đòi hỏi phải
có sự cố gắng thực hiện của cả hai bên ký kêt và đặc biệt hơn nữa là của nhà
nước và toàn xã hội. Bởi ngành bảo hiểm chịu tác động của tổng hợp nhiều
yếu tố, tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đối với người mua bảo hiểm: Phải chủ động tiếp cận và nâng cao trình
độ hiểu hiểu biết của mình về pháp luật nói chung và pháp luật bảo hiểm nói
riêng. Xuất phát từ tính khó hiểu của các điều khoản của HĐBH con người
nên khi ký kết người tham gia bảo hiểm phải thực sự hiểu rõ các điều khoản
về quyền và nghĩa vụ của mình để tránh tranh chấp sau này xảy ra. Người
mua bảo hiểm có thể yêu cầu DNBH giải thích rõ các điều khoản hợp đồng,
đòi hỏi các đại lý bảo hiểm tư vấn cho mình hoặc sử dụng các dịch vụ tư vấn
của các tổ chức tư vấn.
Và một điểm nữa đó là theo quy định của pháp luật nếu như có sự không
rõ ràng trong các điều khoản của HĐBH thì giải thích theo hướng có lợi cho
người mua bảo hiểm (theo Điều 21 Luật KDBH) vì nội dung HĐBH con
người theo điều khoản mẫu do DNBH đưa ra, về nguyên tắc bên mua bảo
hiểm không sửa đổi hay bổ sung điều khoản đó. Người mua bảo hiểm phải
tìm hiểu kỹ các quy định để bảo vệ quyền lợi của mình.
Ngoài ra người mua bảo hiểm cần lựa chọn các đối tượng của hợp đồng
bảo hiểm con người (tuổi thọ, tính mạng sức khoẻ, tai nạn con người) phù hợp
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
19
giáo dục pháp luật về bảo hiểm con người để người dân hiểu rõ quyền, nghĩa
vụ của mình. Khi hệ thống pháp luật đã hoàn chỉnh mà người dân không tiếp
cận, không hiểu được thì tác dụng của pháp luật đối với người dân sẽ không
được thể hiện. Biện pháp để tuyên truyền, giáo dục pháp luật về bảo hiểm con
người đó là trên các phương tiện thông tin đại chúng để đại đa số người dân
nắm được.
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
20
Bài tập lớn môn Luật Dân sự Modul 2
Hơn thế nữa phải tăng cường chất lượng giải quyết tranh chấp về HĐBH.
Tranh chấp trong lĩnh vực này có thể do DNBH không thực hiện đúng nội
dung của hợp đồng cũng có thể do bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng nhằm
trục lợi bảo hiểm và có thể do sự thiếu hoàn chỉnh của pháp luật. Không chỉ
riêng lĩnh vực bảo hiểm mà tranh chấp trong lĩnh vực nào đều gây ảnh hưởng
đến giá trị của pháp luật. Thực tế có nhiều vụ tranh chấp toà án xử vẫn còn
không đúng với bản chất của vụ việc. Vì lẽ đó để đảm bảo giải quyết tranh
chấp hợp lý công bằng thì phải nâng cao trình độ, bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm
phán trong lĩnh vực này.
Cuối cùng nhà nước phải có đường lối chính sách cụ thể để phát triển thị
trường bảo hiểm nói chung và bảo hiểm con người nói riêng lúc đó mới có thể
khuyến khích mọi người dân tham gia để bảo vệ mình và cũng là đảm bảo sự
tồn tại của xã hội.
C. KẾT LUẬN:
Từ vấn đề lý luận của bài viết chúng ta thấy được bảo hiểm con người
2. Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2,
Nxb. CAND, Hà Nội, 2009.
4. Lê Đình Nghị (chủ biển), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Tập 2,
NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2009.
5. ThS. Trần Vũ Hải, Bảo hiểm nhân thọ những vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, 2005.
6. PGS, TS. Nguyễn Văn Định, Giáo trình Bảo hiểm, Nxb. Đại học Kinh
tế quốc dân, Hà Nội, 2008.
7. TS. Phạm Văn Tuyết, Bảo hiểm và pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở
Việt Nam, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội, 2007.
8. http://www. avi.org.vn.
9.
10.
Nguyễn Thùy Dung – 340327
Lớp N08 – TL2
Nhóm 1
22