Mối quan hệ giữa quyền được khai sinh và quyền được nhận cha,mẹ,con? sưu tầm và phân tích 02 tình huống thực tiễn vềvấn đề này - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Dù cha mẹ nào đi nữa thì khi sinh con, cha mẹ phải có nghĩa vụ đăng ký khai
sinh cho con. Việc đăng ký khai sinh là cơ sở để xác định quốc tịch của con và
là điều kiện để con được hưởng các quyền, lợi ích hợp pháp được nhà nước bảo
hộ (như quyền được học tập, quyền được chăm sóc y tế, quyền có tài sản...).
Bên cạnh quyền được khai sinh thì quyền được nhận cha,mẹ,con cũng là một
trong những quyền tồn tại song song cùng với quyền được khai sinh. Hai quyền
này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau được pháp luật bảo vệ và quy định cụ thể
trong hiến pháp 1992 và bộ luật dân sự năm 2005. Để làm rõ hơn về vấn đề này,
nhóm em xin chọn đề tài “ Mối quan hệ giữa quyền được khai sinh và quyền
được nhận cha,mẹ,con? sưu tầm và phân tích 02 tình huống thực tiễn về
vấn đề này. Đưa ra bình luận, kiến nghị của nhóm.”
NỘI DUNG
I.Cơ sở pháp lý về đăng kí khai sinh, quyền nhận cha mẹ con
1.Khái niệm :
Đăng kí khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước
trong lĩnh vực hộ tịch. Quyền đăng kí khai sinh là một trong những quyền nhân
thân cơ bản của cá nhân, nó là nền tưởng để cá nhân có thể được hưởng các
quyền và nghĩa vụ của công dân. Đăng kí khai sinh có thể hiểu một cách chung
nhất là hoạt động của một chủ thể trong việc đăng kí khai sinh cho một đứa trẻ
khi sinh ra theo quy định của pháp luật.
Xác định cha, mẹ, con dưới góc độ sinh học-xã hội là việc nghiên cứu, tìm
kiếm, nhận diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua
sự kiện sinh đẻ. Dưới góc độ luật học thì xác định cha, mẹ, con là các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm,nhận diện tư cách cha mẹ con về mặt
huyết thống của các chủ thể được các quy phạm pháp luật điều chỉnh.việc xác

1


định cha, mẹ, con dựa trên nguồn gốc huyết thống hoặc dựa trên căn cứ pháp lý.

Từ tháng 8 năm 2010 Anh Hoàng Tiến và chị Lê Quỳnh Như chung sống
với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn tại quận 9 Thành phố Hồ
Chí Minh. đầu năm 2011 chị Như có thai, khi thai kỳ ở vào gia đoạn sắp trào
đời thì anh Tiến trong một lần đi nhậu uống rượu say đã đánh chị Như rồi bỏ đi
Gia Lai. Ngày 20/10/2011 chị Như chuyển dạ không có ai bên cạnh đưa chị đến
cơ sở y tế, chị có gọi điện thoại cho chị Yến My là bạn của chị Như đến để giúp
đỡ khi chị My đễn nơi thì không kịp để đưa chị Như đến cơ sở y tế vì thế chị
Như đã sinh tại nhà và một bé gái trào đời. Sau khi chị Như sinh được 2 ngày
thì anh Tiến trở về và có đi đăng ký khai sinh cho con nhưng chị Như không
đồng ý cho anh Tiến được nhận đứa bé là con vì lúc chị đang đau đớn sinh đứa
bé thì anh đã bỏ mặc chị. Khi chị Như đến UBND quận 9 khai sinh cho cháu bé
thì cán bộ Tư pháp - Hộ tịch đã từ chối khai sinh với hai lý do: thứ nhất, không
có giấy chứng sinh của cơ sở y tế sau đó chị như có đến trạm y tế xin cấp giấy
chứng sinh nhưng không được cấp vì chị không sinh tại đó, thứ hai về phần
người cha của đứa bé đang có tranh chấp, chị Như không cho anh Tiến nhận
con và không được ghi tên vào phần thông tin người cha vì chị cho rằng con chị
sinh ra là con ngoài giá thú và chị có quyền không cho anh Tiến nhận con. Vì lý
do trên mà sau 2 tháng đứa trẻ sinh ra chưa được đăng ký khai sinh. Vậy giải
quyết ra sao?
1.2 Phân tích, giải quyết vụ việc :
Theo tình huống trên ta thấy có hai vấn đề cần giải quyết đó là quyền
được khai sinh của đứa trẻ và quyền được nhận con của anh Tiến.
Trước tiên ta xét đến việc từ chối khai sinh của cán bộ Tư pháp- Hộ tịch.
Việc từ chối khai sinh là sai vì đã vi phạm quy định của pháp luật về quyền

3


nhân thân “quyền được khai sinh” quy định tại Điều 29 BLDS năm 2005 là cá
nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh.

Mặt khác tại mục 6 chương II Nghị định 158/NĐ-CP về đăng ký và quản
lý hộ tịch thì việc nhận cha mẹ con phải đáp ứng điều kiện “1. Việc nhận cha,
mẹ, con theo quy định tại Mục này được thực hiện, nếu bên nhận, bên được
nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc
nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp. 2. Người con đã thành
niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã thành niên
nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ theo
quy định tại Mục này, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ
là tự nguyện và không có tranh chấp.”
Trong quy định trên có nhắc đến khái niệm “tranh chấp”. Vậy “tranh
chấp” ở đây ta nên hiểu như thế nào, tranh chấp là giữa những người cùng
muốn nhận là cha đứa bé hay tranh chấp giữa cha và mẹ đứa bé. Vẫn chưa có
văn bản pháp luật nào hướng dẫn cho điều này chính vì thế khi đi vào áp dụng
và thực thi pháp luật đã gặp những khó khăn mà không giải quyết được
Nếu vậy, trong trường hợp trên anh Tiến muốn nhận đứa bé để làm khai
sinh cho con mình và được ghi tên mình vào phần người cha trong giấy khai
sinh thì phải có sự đồng ý của người mẹ là chị Như chăng. Nếu giải quyết theo
chiều hướng đó thì có hợp lý không khi đó chỉ là đứa trẻ mới sinh ra. Về vấn đề
cha, mẹ nhận con chưa thành niên thì pháp luật lại chưa có một quy định hướng
dẫn cụ thể nào. Hơn nữa đây lại là một trường hợp mà đứa trẻ là con ngoài giá
thú thì việc ghi tên người cha vào giấy khai sinh là hoàn toàn được chấp nhận vì
nó ảnh hưởng rất lớn và sẽ theo suốt cả cuộc đời đứa trẻ, thế nhưng bây giờ mẹ
đứa trẻ không đồng ý thì sao.
Theo ý kiến đóng góp để hoàn thiện của nhóm thì: sẽ giải quyết theo
chiều hướng nên quy định cho người cha có quyền nhận con khi con chưa thành

5


niên mà không cần có sự đồng ý của người mẹ nếu người cha chứng minh được


2.2 Phân tích, giải quyết vụ việc :
Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định, trẻ
em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Để đảm bảo quyền đăng ký khai
sinh cho trẻ khoản 2 Điều 23 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm
2004 quy định, UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm thực hiện việc đăng
ký khai sinh cho trẻ em.
Nhằm thực hiện nguyên tắc “mọi trẻ em sinh ra đều phải được đăng ký khai
sinh đúng hạn”, đồng thời, xuất phát từ quan điểm đối xử bình đẳng về quyền
đăng ký khai sinh không kể con sinh ra trong giá thú hay ngoài giá thú, thì theo
khoản 1 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung một
số điều theo nghị định 06/2012/NĐ-CP quy định, người đi đăng ký khai sinh
cho trẻ chỉ phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ khi cha mẹ
trẻ có đăng ký kết hôn. Theo khoản 3 của Điều 15 nghị định này thì trong
trường hợp trẻ là con sinh ngoài giá thú thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy
chứng nhận kết hôn của cha mẹ, chỉ cần có Giấy chứng sinh là có thể khai sinh
cho trẻ theo diện con ngoài giá thú. Mặt khác, khi đăng ký khai sinh cho con
ngoài giá thú, pháp luật không cho phép cán bộ tư pháp - hộ tịch được gặng hỏi,
tìm hiểu về quan hệ hôn nhân của người mẹ. Đây là vấn đề thuộc về bí mật đời
tư của cá nhân. Do đó, khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã được
sửa đổi bổ sung một số điều theo nghị định 06/2012/NĐ-CP quy định, trong
trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người
cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để
trống. Khi con sinh ra, việc xác định họ cho con có thể xác định theo họ của
người cha hoặc họ của người mẹ theo tập quán hoặc thoả thuận. Tuy nhiên, đối
với trẻ là con ngoài giá thú, không xác định được người cha nên họ của trẻ
đương nhiên sẽ được xác định theo họ của người mẹ.
Về việc anh A muốn nhận lại con là hoàn toàn hợp lý, điều này giúp đứa trẻ
có thể phát triển một cách toàn diện. Căn cứ theo Điều 34 Nghị Định
158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo nghị định

con được quy định tại Điều 35 Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã được sửa đổi bổ
sung một số điều theo nghị định 06/2012/NĐ-CP.
Như vậy việc bổ sung, cải chính sổ đăng ký khai sinh và giấy khai sinh của
người con sẽ được thực hiện tại UBND xã Y khi đã có quyết định công nhận
việc nhận con.
8


III. Ý kiến của nhóm, bổ xung, hoàn thiện pl về quyền được khai sinh và
quyền được nhận cha, mẹ, con
Thứ nhất : Từ tình huống thứ hai chúng ta đặt ra giả thiết nếu trẻ sinh ra là con
ngoài giá thú mà không có giấy chứng sinh nếu như theo quy định của điều 15
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì trẻ em này có được khai sinh hay không?
Đối với những trường hợp này do không có giấy chứng sinh tất cả chỉ dựa vào
lời khai của người đi làm đăng ký khai sinh (mẹ đẻ hoặc ông, bà ngoại hoặc
người thân thích) do vậy cán bộ tư pháp hộ tịch không có cơ sở để xác minh
đứa trẻ là con đẻ hay là con nuôi. Nếu từ chối đăng ký khai sinh sẽ ảnh hưởng
đến quyền lợi của đứa trẻ, còn tiếp nhận đăng ký khai sinh cho con ngoài giá
thú thì UBND cấp xã “rất lo sẽ bị kiện” hoặc vô tình trở thành người tiếp tay
cho đối tượng mua bán trẻ em hợp pháp hoá giấy tờ
Thứ hai: chúng tôi nhận thấy dù pháp luật chưa và không công nhận việc “đẻ
thuê” thì tình trạng này vẫn xảy ra rất phổ biến. Đa số trường hợp đẻ thuê vì
muốn giấu kín nên chọn phương thức tự sinh tại nhà. Đứa trẻ sinh xong tròn
tuần thì sẽ giao cho “người mua”. Việc khai sinh cho trẻ em có một ý nghĩa
quan trọng là xác lập quyền và nghĩa vụ giữa bố mẹ và con cái, vậy trong
trường hợp này, mối quan hệ đó có còn vẹn nguyên ý nghĩa của nó? Ông bố, bà
mẹ khi chọn cách “đẻ thuê” thường không muốn đăng ký nhận con theo cách
nhận con nuôi, mà muốn hợp thức hóa hoàn toàn đứa trẻ là con họ. Trường hợp
này trên thực tế và luật định vẫn còn “chênh” rõ rệt.. Đó cũng là những câu hỏi
lớn khi chúng tôi làm đề tài này

với những ông bố, bà mẹ trẻ nhiều khi chưa hiểu hết giá trị của việc đăng kí
khai sinh cho con cũng như quyền và trách nhiệm của bậc làm cha mẹ khi nhận
những đứa con của mình. Quyền được khai sinh và quyền được nhận cha, mẹ,
con có mối quan hệ không thể tách rời. Qua việc tìm hiểu về đề tài trên mỗi
công dân sẽ có nhận thực rõ ràng hơn và thấy được tầm quan trọng của việc
đăng kí khai sinh cho con.
10


MỤC LỤC
Contents
LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................................1
NỘI DUNG..........................................................................................................................1
I.Cơ sở pháp lý về đăng kí khai sinh, quyền nhận cha mẹ con............................................1
1.Khái niệm :........................................................................................................................1
2.Sự ghi nhận của pháp luật vê quyền khai sinh và quyền nhận cha, mẹ, con và ý nghĩa :.2
II. Phân tích tình huống :......................................................................................................3
1.1 Vụ việc thứ 1 :................................................................................................................3
1.2 Phân tích, giải quyết vụ việc :........................................................................................3
2.1 Vụ việc thứ 2 :................................................................................................................6
2.2 Phân tích, giải quyết vụ việc :........................................................................................7
III. Ý kiến của nhóm, bổ xung, hoàn thiện pl về quyền được khai sinh và quyền được
nhận cha, mẹ, con.................................................................................................................9
KẾT LUẬN........................................................................................................................10
Contents.............................................................................................................................11

11




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status