BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
MỤC LỤC
A.ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................................................1
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.........................................................................................................2
I. Khái quát chung về pháp luật kinh doanh chứng khoán.....................................................2
1. Khái quát chung về hoạt động kinh doanh chứng khoán...............................................2
1.1. Khái niệm....................................................................................................................2
1.2. Đặc điểm.....................................................................................................................2
2 . Khái quát về pháp luật kinh doanh chứng khoán..........................................................3
2.1. Khái niệm...................................................................................................................3
2.2. Nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh chứng khoán....................................................3
II. Khái quát về thực trạng thực hiện pháp luật về kinh doanh chứng khoán........................3
III. Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật về kinh doanh chứng khoán..6
1. Môi trường pháp lý.........................................................................................................6
2.Cơ chế chính sách............................................................................................................9
3. Các nhân tố khác............................................................................................................9
3.1. Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội...........................................................................9
3.2. Sự phát triển của thị trường chứng khoán.................................................................10
3.3. Năng lực của chủ thể kinh doanh chứng khoán........................................................11
IV. Một số ý kiến nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán
..........................................................................................................................................11
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ..................................................................................................13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................14
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và chính thức đi vào hoạt động từ
28/7/2000 là sự kiện quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế và hội nhập
quốc tế của Việt Nam. Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường còn
khá non trẻ so với thị trường chứng khoán thế giới. Thị trường chứng khoán là
1
ứng những điều kiên khắt khe về mặt tài chính cũng như về mặt pháp lý, thậm
chí kể cả những điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật để thực hiện hoạt động
kinh doanh chứng khoán.
Thứ hai, đối tượng của hoạt động kinh doanh chứng khoán chính là các
chứng khoán – một giá trị động sản và các dịch vụ về chứng khoán.
Thứ ba, hoạt động kinh doanh chứng khoán phải tuân thủ một số nguyên
tắc đặc thù của thị trường chứng khoán như nguyên tắc công bằng, công khai,
minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nhà đầu tư.
2 . Khái quát về pháp luật kinh doanh chứng khoán
2.1. Khái niệm
Pháp luật kinh doanh chứng khoán là tổng hợp các nguyên tắc, các quy
phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh
2
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
những quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh chứng khoán và pháp luật
điều chỉnh các lĩnh vực khác là các văn bản luật, nghị định, thông tư, quyết định
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh chứng khoán không chỉ là nền tảng
của pháp luật, tạo nên khung pháp luật mà còn áp dụng trong trường hợp những
quy phạm cụ thể không dự liệu hết những trường hợp thực tế phát sinh. Mỗi
lĩnh vực pháp luật đều tồn tại những nguyên tắc riêng, kể cả lĩnh vực chứng
khoán. Trong khi đó, kinh doanh chứng khoán là hoạt động cơ bản của thị
trường chứng khoán, do đó nó tuân theo những nguyên tắc chung của thị trường
chứng khoán.
2.2. Nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh chứng khoán
Pháp luật chứng khoán và thị trường chứng khoán có hệ thống các nguyên
tắc giúp vận hành thị trường chứng khoán (nguyên tắc công bằng, nguyên tắc
công khai, minh bạch; nguyên tắc trung gian; nguyên tắc tập trung; nguyên tắc
nhiều hơn; bên cạnh đó, khối lượng chứng khoán được phát hành còn nhỏ do đó
các tổ chức phát hành chưa cần đến hoạt động bảo lãnh phát hành của các công
ty chứng khoán. Ngoài ra, các công ty chứng khoán hiện nay vẫn còn rất non
trẻ, còn yếu cả về tiềm lực tài chính và nghiệp vụ chuyên môn nên hoạt động
bảo lãnh phát hành chưa thực sự thể hiện được vai trò của nó. Hiện nay, hoạt
động bảo lãnh phát hành chứng khoán còn chiếm tỷ lệ nhỏ và hầu như chỉ mới
tập trung vào phát hành trái phiếu như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu ngân
hàng, trái phiếu đô thị,…
Thứ hai, đối với hoạt động môi giới chứng khoán. Theo số liệu thống kê
được, từ ngày 1/1/2007 đến hết ngày 30/6/2007, số tài khoản giao dịch chứng
khoán tại các công ty chứng khoán đã tăng 169.001 tài khoản tương đương
196% khiến cho số tài khoản lên tới con số 255.185 đặc biệt là ở các công ty
chứng khoán có bề dày hoạt động só nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch chiếm
tỷ lệ rất cao….Hiện nay ở nước ta, tất cả các công ty chứng khoán đều đăng ký
thực hiện nghiệp vụ này và là nghiệp vụ quan trọngnhất trong giai đoạn hiện
nay, thể hiện rõ nét nhất vai trò trung gian trên thị trường chứng khoán, kết nối
giữa những nhà đầu tư có vốn với các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn
cho đầu tư phát triển.
Cho đến cuối năm 2004 đã có hơn 21.200 tài khoản của khách hàng được
mở tại các thành viên, tăng hơn 29% so với cuối năm 2003, trong đó số lượng
nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản giao dịch tại các công ty chứng khoán đạt
203 tài khoản tăng 147 tài khoản so với cuối năm 2003. Tính cuối năm 2004,
Công ty chứng khoán Bảo Việt có số tài khoản cao nhất đạt 4.254 tài khoản
chiếm 19,68% toàn thị trường. Hoạt động môi giới trong năm 2004 có nhiều
khởi sắc hơn năm 2003, với tổng khối lượng giao dịch môi giới mua và bán cổ
phiếu qua 13 thành viên đạt 136.728.216 cổ phiếu, tăng hơn 82 triệu cổ phiếu so
với năm 2003, và tổng giá trị giao dịch đạt 3.695 tỷ đồng. Bốn thành viên
BVSC, BSC, SSI và ACBS chia nhau nắm giữ 70% thị phần hoạt động môi
giới. Tháng 11.2004, lần đầu tiên chứng chỉ quỹ đầu tư được niêm yết trên
TTCK VN . Với 30 triệu chứng chỉ quỹ VFMVF1 đang lưu hành đã làm tăng sự
Thứ ba, đối với hoạt động tự doanh chứng khoán. Tự doanh chứng khoán
là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình bằng
nguồn vốn của mình nhằm mục đích thu lợi nhuận. So với hoạt động môi giới,
đây là hoạt động có tính rủi ro cao hơn. Nếu thực hiện cùng lúc hai hoạt động
này, công ty chứng khoán phải đảm bảo có sự tách biệt nhất định và thực hiện
việc ưu tiên khách hàng trước tiên. Trong thời gian từ 1/1/2007 đến 30/6/2007,
tổng giá trị chứng khoán tự doanh của các công ty chứng khoán đã đạt 9.667 tỷ
đồng, trong đó tổng giá trị chứng khoán tự doanh của công ty chứng khoán hoạt
động lâu năm là 5.997 tỷ đồng tăng 16,69% so với thời điểm ngày 1/1/2007.
Các công ty chứng khoán nhỏ và vừa hiện nay vẫn đang đẩy mạnh tự doanh
chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa cho mình đặc biệt là trong giai
đoạn thị trường phục hồi và phát triển như hiện nay. Việc cho phép công ty
chứng khoán được thực hiện tự doanh chứng khoán đã góp phần tạo thị trường
tuy nhiên nếu không có sự quản lý chặt chẽ thì có thể chính những quy định này
sẽ tạo ra sự bất bình đẳng và yếu thế cho các nhà đầu tư đặc biệt là trong việc
tiếp cận thông tin.
Thứ tư, về hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán. Đây là nghiệp vụ kinh
doanh khá phát triển của các công ty chứng khoán với giá trị hợp đồng tư vấn
đầu tư là khoảng 55 tỷ đồng (vào tháng 6/2007), cho thấy xu hướng quan tâm,
chú trọng đến khách hàng của công tu chứng khoán Song tại thời điểm này so
với số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán khá lớn là 255.000 thì số hợp
đồng trên là chưa đáng kể. Bên cạnh đó, sự biến động bất thường của thị trường
chứng khoán hiện nay đã khiến cho các nhà đầu tư trở nên dè chừng hơn, có yêu
cầu tư vấn đầu tư cao hơn trong khi trình độ chuyên môn và kinh nghiệm cũng
5
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
như khả năng phân tích nắm bắt thị trường của đội ngũ tư vấn đầu tư của công
ty chứng khoán còn nhiều yếu kém.
Luật chứng khoán)
Thứ hai, pháp luật chứng khoán đã thể hiện quan điểm đối xử bình đẳng
giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Những quy định dành riêng cho nhà
đầu tư nước ngoài trong Luật Chứng khoán rất ít. Đồng nghĩa với điều đó là cơ
hội để nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán được mở
rộng hơn so với trước đây. Cụ thể pháp luật đã cho phép công ty chứng khoán
có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được thành lập hình thức liên doanh,
góp vốn cổ phần, thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc mở chi
6
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
nhánh hoạt động, văn phòng đại diện tại Việt Nam sau khi đăng ký với Ủy ban
chứng khoán Nhà nước. Riêng tỷ lệ đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ được
loại bỏ dần theo tiến độ đảm bảo an toàn cho quá trình phát triển thị trường
chứng khoán nước ta cũng như các cam kết quốc tế khi đã gia nhập WTO.
Thứ ba, về nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, Luật chứng khoán và văn
bản hướng dẫn đã quy định cụ thể khái niệm cũng như điều kiện thực hiện các
nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và các chủ thể được phép thực hiện nghiệp
vụ trên. Các nghiệp cụ này theo quy định của pháp luật chứng khoán chịu sự
kiểm soát chặt chẽ của Ủy ban chứng khoán nhà nước. Sự kiểm soát của Ủy ban
chứng khoán nhà nước giúp cho các chủ thể được phép thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh chứng khoán và tránh hiện tượng vi phạm cũng như khả năng “lách
luật”, gây ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể liên quan. Luật chứng khoán
cũng chú trọng nhiều hơn đến vấn đề giải quyết xung đột lợi ích. Theo tinh thần
của luật, công ty chứng khoán chỉ thực hiện bốn nghiệp vụ kinh doanh chính là
môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán,
tư vấn đầu tư chứng khoán và cung cấp một số dịch vụ tư vấn tài chính. Còn hai
nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư là công ty quản lý quỹ
thực hiện. Luật chứng khoán cũng bổ sung thêm một số loại hàng hóa cho thị
chi tiết và đồng bộ. Nhiều vấn đề trong hoạt động kinh doanh chứng khoán của
công ty chứng khoán sau khi luật có hiệu lực vẫn phải chờ văn bản hướng dẫn
của Chính phủ, Bộ tài chính, điều này gây ra tình trạng khó khăn cho các công
ty chứng khoán khi thực thi pháp luật.
Thứ hai, Luật Chứng khoán cho phép các công ty chứng khoán 100% vốn
nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài hoạt động kinh doanh
chứng khoán tại Việt Nam là hướng đi đúng đắn, phù hợp với lộ trình cam kết
quốc tế, tuy nhiên bước đi đó cũng khá mạo hiểm. Hiện nay, trên thị trường
chứng khoán nước ta, nhà đầu tư nước ngoài đang có 1.700 tài khoản, nắm giữ
khoảng 25% - 30% số lượng cổ phiếu của công ty niêm yết 2 và xu thế trong
tương lai lượng vốn của loại chủ thể này sẽ tăng lên rất nhiều nhưng những quy
định về nhà đầu tư nước ngoài và những hoạt động giao dịch của họ vẫn chưa
có hướng dẫn cụ thể.
Thứ ba, mặc dù có sự giảm thiểu về thủ tục hành chính nhưng trong một
số trường hợp nhiều quy định của Luật Chứng khoán còn mang nặng tính hình
thức, tạo điều kiện cho cơ chế xin cho phát triển. Và điều này sẽ gây thiệt hại
cho nhà đầu tư trong nước, gây phiền toái cho nhà đầu tư nước ngoài làm chậm
quá trình phát triển, hội nhập của thị trường chứng khoán.
Bên cạnh các quy định cụ thể của pháp luật kinh doanh chứng khoán thì cơ
chế, chính sách của Đảng, nhà nước cũng như các ngành liên quan cũng tác
động không nhỏ tới hiệu quả áp dụng pháp luật trong hoạt động kinh doanh
chứng khoán.
Kinh doanh chứng khoán còn chịu sự chi phối của hàng loạt các cơ chế,
chính sách của nhà nước, của ngành. Đặc biệt là cơ chế chính sách tài chính
(thuế, phí, lệ phí, trợ cấp…) sẽ tác động trực tiếp đón hiệu quả kinh doanh. Nhà
nước ban hành cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho hoạt
động kinh doanh góp phần quan trọng vào hiệu quả kinh doan, các quy định về
mức thuế phải nộp các khoản phí, lệ phí….các chủ thể kinh doanh được thu,
phải nộp hợp lý sẽ giúp các chủ thể kinh doanh có nguồn thu – chi hợp lý, nâng
cao hiệu quả kinh doanh.
Có thể nói, lạm phát của nền kinh tế là một trong những yếu tố ảnh hưởng
sâu sắc đến hiệu quả áp dụng pháp luật kinh doanh chứng khoán
Thứ nhất, lạm phát ảnh hưởng gián tiếp đến thị trường chứng khoán thông
qua tác động đến tình hình sản xuất hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp niêm yết nói riêng. , lạm phát tăng thường đồng
nghĩa với việc chi phí đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp tăng lên. Lạm phát làm giá cổ phiếu của doanh nghiệp niêm yết trên thị
trường bị ảnh hưởng theo hướng suy giảm với các mức độ khác nhau. Nếu lạm
phát càng tăng mạnh thì hệ quả này diễn ra càng nhanh và giá cổ phiếu càng bị
ảnh hưởng mạnh. Nếu lạm phát tăng quá cao lại diễn ra trong môi trường chính
sách tiền tệ - tài khoá thắt chặt thì hậu quả còn nặng nề hơn vì thanh khoản trên
thị trường bị co hẹp đáng kể do luồng vốn lưu thông trên thị trường sụt giảm.
Thứ hai, lạm phát có thể tác động trực tiếp đến tâm lý nhà đầu tư và giá trị
của các khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán. Lạm phát của nền kinh tế
làm cho tâm lý nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán cũng bị ảnh hưởng
nghiêm trọng và thị trường chứng khoán sẽ không còn là một địa chỉ thu hút
vốn đầu tư bởi nó cũng chính là một “phong vũ biểu” của nền kinh tế. Nếu điều
này xảy ra, sẽ xuất hiện “tâm lý bầy đàn” trong việc bán tháo cổ phiếu do khủng
hoảng niềm tin. Hậu quả sẽ là cung cổ phiếu lớn gấp nhiều lần so với cầu và thị
trường diễn ra tình trạng kém thanh khoản nghiêm trọng.
Thứ ba, lạm phát tăng cao sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán thông qua
con đường thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát.
Điều đáng mừng là trước thời điểm hội nhập toàn diện (1/1/2012), cơ quan
quản lý đã phát đi nhiều thông điệp hứa hẹn về một cuộc tái cấu trúc sâu rộng
diễn ra trên TTCK năm 2012: Triển khai giao dịch T+2; phân loại và tái cấu
9
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
trúc hoạt động khối Công ty chứng khoán (CTCK); cho phép công ty quản lý
trường hấp dẫn khi nhà đầu tư có sự hiểu biết về chứng khoán và thị trường
chứng khoán.Vì vậy, sự hiểu biết về thị trường chứng khoán cũng là một trong
những nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh chứng khoán.
+ Quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán là vịêc quản lý và giám sát
các hoạt động phát hành, giao dịch, thanh toán.. đối với các chứng khoán. Việc
quản lý này được chú trọng ở khía cạnh lập pháp và hành pháp.
3.3. Năng lực của chủ thể kinh doanh chứng khoán
Hoạt động kinh doanh chứng khoán muôn đạt hiệu quả đòi hỏi bản thân
chủ thể tham gia kinh doanh phải là người có kỹ năng phân tích tốt, hiểu biết về
10
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
lĩnh vực hành nghề. Chủ thể kinh doanh có năng lực chuyên môn, có đạo đức
nghề nghiệp, làm việc có trách nhiệm sẽ tạo được uy tín trên thị trường và với
khách hàng, từ đó có khả năng mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh doanh và
ngược lại.
IV. Một số ý kiến nhằm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật kinh doanh
chứng khoán
Nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh chứng khoán, phát triển nền kinh tế
của đất nước, thì vấn đề nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Luật về
kinh doanh chứng khoán phải thực sự được Đảng và nhà nước được coi trọng
đồng thời, hoàn thiện pháp luật cũng là một vấn đề quan trọng nhằm tăng hiệu
quả của họat động này. Qua việc phân tích thực trạng và những yếu tố ảnh
hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật về kinh doanh chứng khoán, nhóm em
rút ra được một số ý kiến nhằm tăng hiệu quả áp dụng pháp luật như sau:
Thứ nhất: Hoàn thiện pháp luật về hoạt động kinh doanh chứng khoán
Một vấn đề hết sức nóng bỏng hiện nay, đó là hiện tượng lừa đảo nhà
đầu tư. Trong khi đó, pháp luật điều chỉnh hoạt động này vẫn chưa được xây
dựng. chúng ta nên xây dựng một khuôn khổ chặt chẽ điều chỉnh các nhà môi
có quy dịnh cụ thể hơn về hoạt động này để đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư.
Nghiệp vụ giám sát của ngân hàng thương mại với công ty quản lý quỹ
theo pháp luật hiện hành đã đặt ra nhiều thắc mắc. Pháp luật không cho phép
ngân hàng thực hiện KDCK trực tiếp, vì vậy ngân hàng thực hiện nghiệp vụ
chính của mình là nghiệp vụ ngân hàng. Như vậy, có là vô lý không khi yêu cầu
một chủ thể không nắm nghiệp vụ KDCK đi giám sát công ty quản lý quỹ.
Thứ hai: Tăng cường quản lý thị trường chứng khoán:
Là một công tác quan trong nhằm đảm bảo an toàn cho thị trường chứng
khoán hoạt động một cách đồng bộ và lành mạnh, góp phần ổn định nền kinh tế
thị trường, đảm bảo việc thực hiện đúng pháp luật của các công ty kinh doanh
chứng khoán. Mặt khác, việc tăng sự quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đối với thị trường chứng khoán là một trong những biện pháp làm tăng
việc áp dụng có hiệu quả pháp luật về kinh doanh chứng khoán.
Thứ ba: Nâng cao trình độ các cơ quan chuyên môn:
Nhằm đảm bảo ý thức tuân thủ pháp luật của các chủ thể kinh doanh
chứng khoán, kịp thời phát hiện những hoạt động bất thường ẩn chứa nhiều rủi
ro trên thị trường chứng khoán, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh chứng
khoán trong khuôn khổ an toàn và hợp pháp, pháp luật quy định Ủy ban chứng
khoán Nhà nước và cơ quan có chức năng có nhiệm vụ giám sát, quản lý hoạt
động kinh doanh của các công ty kinh doanh chứng khoán, nhân viên hành nghề
kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, các vi phạm chủ yếu trên thị trường chứng
khoán tiếp diễn liên tục và phổ biến và không bị phát hiện và xử lý kịp thời là
do công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền còn lỏng lẻo và
mang tính đối phó. Vì vậy, việc nâng cao trình độ của các cơ quan nhà nước có
trách nhiệm trong công tác thực hiện kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh
doanh chứng khoán.
Thứ tư: Nâng cao chất lượng hàng hóa và phát triển hàng hóa thị trường
chứng khoán:
Chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt, do các công ty có đủ điều
kiện theo quy định của pháp luật phát hành nhằm thu hút vốn của các nhà đầu
BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT CHỨNG KHOÁN THÁNG 2
6. Lê Thị Phương Dung, pháp luật kinh doanh chứng khoán trong yêu cầu hội
nhập, khóa luận tốt nghiệp,hà nội, 2007;
7. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán số 62/2010/QH12
8. Nghị định của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán
9. Nghị định của Chính phủ số 84/2010/NĐ-CP ngày 2/8/2010 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 14/2007/NĐ-CP.
14