A.LỜI MỞ ĐẦU
Mới đây ở Việt Nam, vụ kiện nổi tiếng về lĩnh vực môi trường do hành vi gây ô
nhiễm dòng sông Thị Vải của người dân đối với công ty VeDan được chú ý rất đặt biệt.
Bởi từ trước đến nay việc có đến trên 5000 lá đơn của người dân kiện một công ty gây ô
nhiễm môi trường là lần đầu tiên.Vụ việc đã được pháp luật bắt tay vào và đưa ra những
quy định đối với việc công ty Vedan bồi thường cho người dân, song thực tế những tranh
chấp bồi thường thiệt hại liên quan đến vụ này còn rất nhiều vấn đề cần nói
B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Những quy định về bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường
gây ra
1.Lí luận
Bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra là việc các cá nhân, tổ
chức phải bồi thường về vật chất cũng như là bồi thường về tinh thần đối với những hành
vi gây ô nhiễm môi trường của họ. Bồi thường thiệt hại về vật chất là những bù đắp tổn
thất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra. Bồi thường về mặt tinh thần tức
là bồi thường một khoản tiền ứng với hành vi gây thiệt hại về tinh thần do xâm phạm đến
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm...của người đó. (Điều 307 BLDS)
Theo Điều 624 BLDS 2005 thì cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm
môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp
người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi.
Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ra ô nhiễm môi
trường cũng giống như với các loại trách nhiệm khác (hình sư, dân sự ) đó là có 3 điều
kiện: có thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường, hành vi gây thiệt hại đó trái pháp
luật có lỗi của người gây ra thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại
và thiệt hại trên thực tế.
2. Thực trạng những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại do hành vi
gây ô nhiễm môi trường
a. Xác định thiệt hại: được quy định tại điều 131 Luật môi trường 2005
Một là, thành phần môi trường được xác định thiệt hại.
1
2
Trong số 4 căn cứ để tính toán thiệt hại thì căn cứ vào chi phí xử lý, cải tạo phục hồi
môi trường và chi phí giảm thiểu hoặc triệt tiêu nguồn gây thiệt hại (điểm b, c khoản 4
Điều 131) được xem là có tính khả thi trong việc xác định thiệt hại, cũng như cho việc áp
dụng trách nhiệm bồi thường. Các căn cứ còn lại, như tính toán chi phí thiệt hại trước mắt
và lâu dài do sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của các thành phần môi trường; hay
thăm dò ý kiến các đối tượng liên quan (điểm a, d khoản 4 Điều 131) được xem là còn khá
mơ hồ và khó áp dụng trong điều kiện hiện tại của Việt Nam.
b.Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường có một số điều cần làm
rõ để có thể thấy được tranh chấp trong vụ việc Vedan
Thứ nhất, người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất gây ra
đối với môi trường.
Thứ hai, do quan hệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường có thể phát sinh giữa các
chủ thể mà không cần đến cơ sở pháp lý làm tiền đề (như quan hệ hợp đồng hay quan hệ
công vụ), nên bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường
là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Thứ ba, môi trường có thể bị xâm hại từ 2 nhóm nguyên nhân; Một là, các nguyên
nhân khách quan tác động đến môi trường không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con
người, như bão, lũ lụt, động đất, hạn hán… Những trường hợp này không làm phát sinh
trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường đối với bất cứ tổ chức, cá nhân nào hai là,
các yếu tố chủ quan do hoạt động của con người gây ra từ việc khai thác, sử dụng các yếu
tố môi trường hay từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác
Đối với những trường hợp này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường phát
sinh khi có đủ các dấu hiệu cấu thành trách nhiệm pháp lý dân sự. Thậm chí loại trách
nhiệm này còn phát sinh ngay cả khi người gây thiệt hại không có lỗi.
Thứ tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường có mối quan hệ nhất định với
trách nhiệm khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm.Người làm ô nhiễm môi trường
Về cách thức giải quyết BTTH về môi trường: Được quy định trong điều 133 Luật
Môi trường. Theo đó có 3 cách đó là tự thỏa thuận của các bên, yêu cầu trọng tài giải
quyết, khởi kiện tại tòa.
II. Thực tế tranh chấp về bồi thường thiệt hại trong vụ công ty Vedan
4
1. Những vi phạm của Vedan đối với sông Thị Vải
Công ty vedan là một công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam từ những năm 90 của
thế kỉ trước, xây dựng nhà máy tại Long Thành, Đồng Nai. Là một trong những công ty
chủ yếu về sản phẩm bột ngọt,tinh bột, xút.. có liên quan mật thiết với môi trường. Lẽ ra
công ty này cần có sự đầu tư hệ thống nước xả thải để đảm bảo môi trường con sông Thị
Vải (nơi đi ra của hệ thống nước thải của quá trình sản xuất), nhưng thực tế thì ngược lại.
Theo các nhà chuyên môn trong quá trình sản xuất các sản phẩm này, nước thải của công
ti có chứa nhiều chất gây ô nhiễm môi trường, song đáng ngại nhất là chất độc cyanue.
Nước thải sau khi xử lí của hệ thống UASB còn lưu lại hàm lượng cyanue ở mức vượt tiêu
chuẩn cho phép thấp nhất là 7 lần và cao nhất là 34 lần. Tại đợt kiểm tra năm 2006 của Bộ
Tài nguyên- Môi trường, đoàn kiểm tra phát hiện công ti Vedan có hiện tượng xả trực tiếp
nước thải không qua xử lí vào sông Thị Vải. Sau Khi phân tích nước thải tại cống thoát
nổi thuộc bộ phận sản xuất phân vi sinh của công ty, cơ quan chức năng đánh giá tuy khối
lượng nước thải nhỏ nhưng hàm lượng các chất ô nhiễm rất cao. Tại đợt kiểm tra 2008
Đoàn kiểm tra kết luận công ty Vedan tiếp tục có hành vi xả nước thải chưa qua xử lí từ
những bể bán âm dung dịch.
Cho đến năm 2009 những sai phạm của Vedan là không thể chối cái và đại diện công
ty đã phải thừa nhận 10 sai phạm của công ty Vedan:
1. Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải
lượng thải từ 50m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với Nhà máy sản xuất tinh bột biến
tính của Công ty; vi phạm khoản 11, Điều 10, nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày
9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
2. Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải
phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong tài nguyên nước.
Với những hành vi vi phạm trên chắc chắn nó ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường.
Và thực tế cho thấy việc công ty Vedan xả nước thải chưa qua xử lí vào dòng sông Thị
Vải suốt hơn chục năm đã có những tác động không nhỏ tới dòng sông và cuộc sống của
người dân xung quanh đó.
2. Trách nhiệm bồi thường của công ty Vedan
Cho đến bây giờ những tác động của hành vi gây ô nhiễm môi trường của công ty
Vedan là không thể chối cãi, những tác động đó là những tác động xấu đến môi trường
6
dòng sông và đến hoạt động kinh tế của người dân xung quanh ( thủy sản, hoa màu...)
Như thế có thể khẳng định về mặt pháp lí, công ty Vedan đã gây ra thiệt hại cho
người dân các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh ( đều có sông
Thị Vải chảy qua). Và tất nhiên theo quy định của Luật Dân sự và Luật môi trường thì
công ty Vedan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra.
Đây là hành vi gây thiệt hại gián tiếp đối với nhân dân 3 tỉnh, thành phố trên.
Trước hết thiệt hại do công ty Vedan gây ra được xác định bao gồm phạm vi: Huyện
Nhơn Trạch (xã Phước An và Long Thọ); huyện Long Thành (xã Long Phước và Phước
Thái) tỉnh Đồng Nai; tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có: Huyện Tân Thành (xã Mỹ Xuân, Phước
Hòa, Tân Phước và thị trấn Phú Mỹ). Riêng TP. HCM, phạm vi bị ảnh hưởng từ ô nhiễm
sông Thị Vải do Vedan gây ra là khoảng 84ha thuộc xã Thạnh An và vùng canh tác chồng
lấn giữa tỉnh Đồng Nai và TPHCM. Thiệt hại ở đây chính là việc xác định thiệt hại đến
việc nuôi trồng thủy hải sản của người dân và sức khỏe của người dân các huyện trên
trong suốt 14 năm qua.Việc xác định là có thể làm được và các cơ quan chức năng sẽ thực
hiện việc này.
Với những hành vi gây thiệt hại, thì công ty Vedan là chủ thể có trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong vụ việc này. Theo Điều 605 và 616 của BLDS 2005 thì công ty
Vedan sẽ phải thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và thực
hiện bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại xảy ra do hành vi của công ty này.
trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam. Và tất nhiên khi liên quan đến lĩnh vực môi trường
thì việc tranh chấp bồi thường là điều không thể tránh khỏi, bởi đây là lĩnh vực nhạy cảm,
tác động với phạm vi lớn và việc xác định thiệt hại cụ thể còn nhiều khó khăn.
Về phía Hội nông dân 3 tỉnh : họ cho rằng phải phân biệt rõ ràng thế nào là hỗ trợ,
thế nào là đền bù. Đền bù thiệt hại dành cho đối tượng nuôi trồng thủy sản vì họ không
kinh doanh được do nước ô nhiễm; còn hỗ trợ cho những ngư dân chuyên sống trên sông
nước. Như thế họ có yêu cầu đối với Vedan cần có những khoản đền bù và những sự hỗ
trợ đối với người nông dân.
Còn phía Vedan, họ một mực giữ nguyên lập trường chỉ hỗ trợ chứ yêu cầu bồi
thường là không có căn cứ.Trong văn bản gửi Bộ Tài nguyên môi trường, ông Yang Kun
Hsiang, Tổng giám đốc Vedan cho rằng, trong số 894 đơn thư khiếu nại của nông dân mà
công ty nhận được, phần lớn số hộ kinh doanh đã nghỉ từ năm 1998 vẫn nộp đơn yêu cầu
8
đòi bồi thường. Về thiệt hại, cơ sở để đánh giá như chi phí đầu tư, thu nhập thì hầu hết là
do nông dân tự khai, không số liệu cụ thể và chủ yếu do phỏng đoán.Thêm nữa, Công ty
Vedan cũng "bất ngờ" khi có đến hàng nghìn đơn của nông dân khởi kiện. Theo lãnh đạo
Vedan, điều này dẫn đến số liệu trong đơn thư trên là không có cơ sở, kê khống thiệt hại
lên đến hàng trăm tỷ đồng rồi gây áp lực bồi thường với Vedan.
Sự vào cuộc của cơ quan chức năng ở đây là bộ tài nguyên môi trường, họ cho rằng
gây ra thiệt hại là phải bồi thường, tức là nhà nước đang đứng về phía người nông dân.
Chế độ pháp luật nước ta luôn bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của người dân, do đó với
những thiệt hại mà công ty Vedan gây ra cho người dân, nhà nước cũng đang có ý kiến
giải quyết yêu cầu đòi bồi thường của người dân. Tuy nhiên thực tế, nghịch lí đã và đang
tồn tại là việc người nông dân mang đơn kiện Vedan đòi bồi thường thì đơn vị này không
nhận, đem đơn kiện đến tòa thì tòa yêu cầu phải có bằng chứng, chứng minh Vedan gây ra
thiệt hại.
Trước những tình hình thực tế của vụ kiện, tiếng nói của dư luận và cả những dự báo
tác động của vụ việc, bên Vedan đã đưa ra mức bồi thường cho người dân các huyện: Ban
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Việc kiện 1 công ty do hành vi gây ô nhiễm môi trường của rất nhiều nông dân với
phạm vi rộng là không hề đơn giản. Quyền lợi của người dân trong những lá đơn có thể sẽ
không được đảm bảo. Hơn nữa những yêu cầu đặt ra đối với nông dân là không nhỏ đó là
việc cần có những chứng minh thiệt hại cụ thể đi kèm với những lá đơn kiện. Hy vọng
trong thời gian tới người nông dân và công ty Vedan có thể thỏa thuận được mức đền bù
xứng đáng, hợp lí, đảm bảo những quyền lợi của cả 2 bên. Người dân cho rằng Vedan cần
bồi thường thiệt hại với mức cao hơn mà phía công ty đưa ra, tất nhiên Vedan phía phải
bồi thường luôn muốn chi trả 1 khoản tiền ít nhất có thể. Thứ hai nữa, vấn đề bồi thường
trong lĩnh vực môi trường luôn rất rắc rồi bởi việc xác định thiệt hại cụ thể là khó khăn.
Đồng thời đây cũng là vụ kiện về môi trường có quy mô lớn đầu tiên ở nước ta, do đó vấn
đề không dễ có thể giải quyết nhanh chóng.
Nhưng vụ việc tranh chấp này có thể sẽ là một bước ngoặt trong các vụ án môi
trường hiện còn đang “ẩn nấp”, và cũng là bài học cảnh cáo cho những nhà đầu tư trước
khi thực hiện các dự án của mình.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Luật môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà xuât bản Công an nhân dân, Hà Nội - 2006
2. Vụ việc Vedan và những vấn đề pháp lý về cưỡng chế tuân thủ pháp luật môi
trường : Khoá luận tốt nghiệp / Vũ Thị Lương; Người hướng dẫn: TS. Vũ Thu Hạnh, Hà
Nội - 2009
3. Vedan, những bài học từ cưỡng chế và tuân thủ pháp luật môi trường : Khoá luận
tốt nghiệp / Ngô Thị Hoàng Liên; Người hướng dẫn: ThS. Đặng Hoàng Sơn, Hà Nội, 2011
4.Luật môi trường 2005
5. Luật bảo vệ môi trường 2005
6. Bộ luật dân sự 2005