Quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Trong tố tụng hình sự thì bị can, bị cáo là đối tượng bị buộc tội bởi cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Họ là những người có quyền lợi và nghĩa vụ bị ảnh hưởng sâu sắc nhất
bởi quyết định của Tòa án khi giải quyết vụ án hình sự. Là những người tham gia tố tụng trong
thế bị động không mang quyền lực nhà nước do nhiều nguyên nhân khác nhau mà quyền của bị
can, bị cáo có thể bị xâm phạm. Để giải quyết được tình trạng bị can, bị cáo bị xâm phạm các
quyền mà pháp luật quy định thì việc NTHTT, bị can, bị cáo biết rõ được các quyền và nghĩa vụ
của bị can, bị cáo là hết sức cần thiết. Do đó việc nghiên cứu một cách tổng thể về quyền và nghĩa
vụ của bị can, bị cáo là hết sức cần thiết. Đó là lý do em chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của bị
can, bị cáo trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện quyền và
nghĩa vụ của bị can, bị cáo”. Do thời gian tìm hiểu và kiến thức còn hạn chế, bài viết của em còn
nhiều thiếu sót mong các thầy cô đóng góp ý kiến để bài viết của em được hoàn thiện hơn, em xin
chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I.

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO.

1. Quyền và nghĩa vụ của bị can.
a. Quyền của bị can.
Quyền của bị can được quy định tại khoản 2 điều 49 BLTTHS năm 2003, theo đó bị can có
những quyền sau:
- Được biết mình bị khởi tố về tội gì: đây là quyền rất quan trọng, quyền đầu tiên và quyền ảnh
hưởng rất lớn tới việc thực hiện các quyền khác của bị can. Bị can là người đã bị khởi tố về hình
sự, mốc xác định tự cách bị can là lúc có quyết định khởi tố bị can đã có sự phê chuẩn của VKS.
Do đó bị can cần được biết mình bị khởi tố về tội gì, theo điều nào của BLHS để từ đó có thể
tiến hành tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa cho mình. Quyền được biết mình bị khởi tố về
tội gì của bị can thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bởi
vì nhà nước có quyền lực trong tay và các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước sử dụng quyền
lực đó để tiến hành các hoạt động tố tụng với bị can, nên bị can cần phải được biết mình bị khởi
tố về tội gì một cách công khai, minh bạch để có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người

để bào chữa là bị can trình bày lời khai của mình. Việc khai báo, trình bày là một quyền chứ
không phải là nghĩa vụ của bị can. Do đó bị can có thể khai báo hoặc không khai báo trước
CQTHTT, NTHTT. Pháp luật không đặt ra trách nhiệm trong trường hợp bị can không khai báo
hoặc khai báo không đúng sự thật. Tuy nhiên bị can được pháp luật khuyến khích khai báo sự
thật một cách thành khẩn để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình. Thực tế hiện nay cho thấy

2


quyền được trinhg bày lời khai của bị can chưa thực sự được bảo đảm. Vẫn còn trường hợp bị
can bị ép buộc phải khai báo hay bị mớm cung, bức cung nhằm hoặc buộc bị can phải thừa nhận
đã thực hiện những hành vi cầu thành tộ phạm theo ý chủ quan của NTHTT.
- Quyền được đưa tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Theo quy định này thì bị can có quyền cung cấp
tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án cũng như những yêu cầu trưng cầu giám định, giám định bổ
sung…
- Quyền được đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch:
Bị can có quyền đề nghị thay đổi NTHTT, NGĐ, NPD nếu có căn cứ rõ ràng cho rằng họ không
thể vô tư trong khi làm nhiệm vụ và việc họ tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng có thể làm
cho vụ án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Quyền này của bị can đã được quy
định tại BLTTHS 1988 và năm 2003 khi xây dựng và ban hành BLTTHS mới thì ta đã kế thừa và
xác định đây là một quyền quan trọng của bị can. Việc đảm bảo thực hiện tốt quyền được đề nghị
thay đổi NTHTT, NGĐ, NPD của bị can góp phần đảm bảo tính công khai minh bạch trong tố
tụng hình sự và đảm bảo nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tham gia tố tụng.
- Quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: Theo đó bị can có quyền dùng
những lý lẽ và chứng cứ để gỡ tội và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình
tham gia tố tụng. Quyền tự bào chữa không phải là một quyền độc lập, tách rời các quyền khác
của bị can mà bào chữa chính là sự tổng hòa các quyền của bị can trong tố tụng hình sự để bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của mình. Quy định này thể hiện sự bình đẳng của bị can với những
NTHTT. Ngoài quyền tự bào chữa bị can còn có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình.
- Quyền được nhận các quyết định và văn bản tố tụng: theo quy định tại điểm g khoản 2

quy định bị cáo có quyền nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quyền được nhận quyết định đưa
vụ án ra xét xử là một quyền quan trọng của bị cáo, vì việc quyết định đưa vụ án ra xét xử sẽ
khiến người bị buộc tội chuyển từ tư cách bị can sang tư cách bị cáo. Và bị can dựa vào quyết
định đưa vụ án ra xét xử sẽ có thể biết được mình bị đưa ra xét xử vì tội danh gì, thời gian, địa
điểm mở phiên tòa, thẩm phán, thư ký…trên cơ sở đó bị cáo có thể thực hiện được các quyền của
mình như quyền tham gia phiên tòa, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng…
- Quyền được tham gia phiên tòa: đây là quyền vô cùng quan trọng của bị cáo vì phiên tòa
là nơi diễn ra hoạt động thẩm vấn, xét xử công khai. Bán án quyết định của tòa phải dựa trên
những chứng cứ đã thẩm tra được tại phiên tòa. Pháp luật quy định sự có mặt của bị cáo tại phiên
tòa xét xử sẽ đảm bảo cho bị cáo thực hiện tốt việc bảo vệ quyền lợi của mình. Hơn nữa sự có mặt
của bị cáo tại phiên tòa còn thể hiện tính công khai minh bạch khi xét xử, đảm bảo được quyền
bình đẳng trước tòa của bị cáo. Việc bị cáo tham gia phiên tòa vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của bị
cáo.

4


- Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ: cũng giống như bị can, bị cáo có quyền
được giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình để có thể thực hiện tốt nhất các quyền và nghĩa vụ
đó. Khi còn mang tư cách bị can, bị can đã được giải thích về quyền và nghĩa vụ của họ, tuy nhiên
khi chuyển sang tư cách bị cáo, trong giai đoạn tố tụng khác, với tư cách khác, nên quyền và
nghĩa vụ của họ cũng thay đổi và cần được NTHTT giải thích cho họ về các quyền và nghĩa vụ
này. Chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia phiên tòa, nhờ đó
bị cáo có thể nắm được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia phiên tòa. Đối với các bị cáo
lần đầu tiên tham gia phiên tòa xét xử thì việc giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình tại phiên
tòa sẽ làm ổn định trạng thái tâm lý cho bị cáo, từ đó có thể hợp tác với NTHTT trong phiên tòa
một cách chân thực và cởi mở hơn.
- Quyền được yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch
theo quy định của pháp luật: bị cáo có quyền yêu cầu thay đổi NTHTT, người phiên dịch, người
giám định trong các trường hợp pháp luật quy định. Trước khi mở phiên tòa xét xử, việc thay đổi

tòa. Việc thực hiện tối ưu quyền bào chữa của bị cáo trong giai đoạn xét xử có ảnh hưởng lớn đến
kết quả giải quyết của HĐXX. Do đó việc bị cáo thực hiện quyền bào chữa trước HĐXX để
chứng minh mình vô tội hay gỡ tội theo hướng giảm nhẹ TNHS có hiệu quả hơn nhiều so với việc
bị can thực hiện quyền bào chữa của mình trước VKS hay CQĐT. NBC cho bị cáo cần nắm vững
quyền này và thực hiện một cách tốt nhất quyền bào chữa tại phiên tòa.
- Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa: khi KSV trình bày lời buộc tội với những lý lẽ
lập luận và căn cứ của mình để buộc tội bị cáo, thì bị cáo cũng có quyền trình bày những ý kiến
quan điểm của mình về vấn đề mà KSV hoặc Thẩm phán đưa ra. Bị cáo cũng có quyền tranh luận
với KSV. Sau khi KSV đọc bản cáo trạng, bị cáo sẽ trình bày lời bào chữa của mình, bị cáo có thể
tự trình bày lời bào chữa hoặc nhờ NBC trình bày những luận điểm bào chữa cho mình. Ngay cả
khi có NBC chữa thì bị cáo vẫn có quyền bổ sung ý kiến để bào chữa cho mình, BLTTHS 2003
quy định cho bị cáo và NBC cho bị cáo có quyền tranh luận nhiều lần tại phiên tòa chứ không chỉ
một lần. BLTTHS năm 1988 không có quy định này đến BLTTHS 2003 thì đây là sự tiến bộ của
pháp luật, hoàn thiện các quyền của bị cáo tạo điều kiện cho việc bảo vệ quyền lợi của những
người là đối tượng bị buộc tội trong vụ án hình sự.
- Nói lời sau cùng trước khi nghị án: theo quy định tại điều 220 BLTTHS 2003 thì sau khi những
người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm. Chủ tọa phiên tòa sẽ tuyên bố kết thúc phần
tranh luận và bị cáo sẽ được nói lời sau cùng trước khi HĐXX vào phòng nghị án. Quyết định của
HĐXX có ảnh hưởng trực tiếp đến tình mạng, sức khỏe danh dự…của bị cáo nên có ý nghĩa rất
quan trọng. Pháp luật quy định cho bị cáo nói lời sau cùng là tạo điều kiện cơ hội cho bị cáo được

6


bày tỏ thái độ, nguyện vọng của mình trước khi HĐXX đưa ra những quyết định đối với vụ án.
Khi nói lời sau cùng, bị cáo có quyền trình bày mọi vấn đề liên quan đến vụ án và bày tỏ thái độ
của mình đối với việc buộc tội…pháp luật quy định trong khi bị cáo nói lời sau cùng thì HĐXX
cần phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùng của bị cáo. Nhưng để tránh cho việc trình bày
dài dòng hay không trình bày vấn đề chính thì luật cũng quy định HĐXX có quyền yêu bị cáo
không được trình bày những quan điểm đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị

nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị cáo.
- Quyền khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: khi
nhận thấy các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm
quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì bị cáo có quyền khiếu nại. Đối tượng của khiếu nại là các
quyết định không thuộc đối tượng của kháng cáo như: quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án của Thẩm phán được phân công chủ
tọa phiên tòa…Bị cáo cũng có quyền khiếu nại hành vi của người tiến hành tố tụng nếu các hành
vi đó là trái pháp luật.
Khiếu nại trong giai đoạn xét xử chủ yếu liên quan đến các quyết định, hành vi tố tụng của
Tòa án nên chủ thể giải quyết khiếu nại chủ yếu là Tòa án mà người đại diện là Chánh án. Theo
quy định tại Điều 31 BLTTHS, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Phó chánh
án trước khi khi mở phiên tòa do Chánh án tòa án giải quyết trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại. Nếu bị cáo không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền
tiếp tục khiếu nại với Tòa án cấp trên trực tiếp. Tòa án cấp trên trực tiếp có thẩm quyền và nhiệm
vụ giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải quyết khiếu nại của Tòa án cấp trên là quyết
định cuối cùng và không thể bị khiếu nại.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của chánh án thì do Tòa án cấp trên giải
quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định này là quyết định cuối
cùng, không thể bị khiếu nại tiếp và bị cáo có nghĩa vụ phải chấp hành. Thời hiệu khiếu nại của bị
cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng là có vi phạm pháp luật. Trừ trường do nguyên nhân khách quan mà
người bị kết án không thực hiện cáo. được quyền khiếu nại của của mình thì thời gian gặp trở
ngại đó không được tính vào thời hiệu khiếu nại.
b. Nghĩa vụ của bị cáo.
Khoản 3 điều 50 BLTTHS 2003 quy định: “bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của tòa
án, trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị
truy nã”. Như vậy cũng giống như bị can, bị cáo cũng có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập

8



9


Theo báo cáo tổng kết năm 2010 của ngành tòa án nhân dân thì tòa án nhân dân các cấp và
tòa án quân sự các cấp đã thụ lý 71.680 vụ án, đã giải quyết được 68.381 vụ án đạt 95%. Nhìn
chung các vụ án hình sự đều được giải quyết, xét xử trong thời hạn quy định của pháp luật. Một
số tòa án đã giải quyết trên 95% các vụ án hình sự thụ lý như: các tòa quân sự, tòa án nhân dân
thành phố hà nội…việc giải quyết nhanh chóng, kịp thời và đúng hạn các vụ án hình sự đã góp
phần không nhỏ trong việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong tố tụng
hình sự đặc biệt là bị can, bị cáo.
Đặc biệt là quyền bào chữa của bị can, bị cáo, ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Theo
thống kê của TANDTC thì số vụ án có người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự đã tăng lên đáng kể năm 2007 là 5833 vụ, năm 2008 là 7255 vụ. Sự tham gia của
người bào chữa trong vụ án hình sự sẽ đảm bảo cho đương sự nói chung và bị can, bị cáo nói
riêng có sự đảm bảo tốt nhất về quyền và nghĩa vụ của họ trong tố tụng hình sự.
Như vậy có thể thấy việc đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo như quyền
được nhận các quyết định, văn bản tố tụng, quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào
chữa, quyền tham gia phiên tòa, quyền kháng cáo…hay nghĩa vụ về có mặt theo giấy triệu tập của
CQĐT, VKS, TA đã được những NTHTT đảm bảo thực hiện tương đối tốt trong thời gian vừa
qua.
* Những kết quả đạt được từ phía bị can, bị cáo: Bản thân bị can, bị cáo là những người bị buộc
tội trong tố tụng hình sự. Quyền và lợi ích của họ bị ảnh hưởng nhiều nhất khi tham gia vào quá
trình tố tụng. Do đó họ cũng đã có những hoạt động tích cực trong việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình. Hiện nay, khi công nghệ truyền thông ngày càng phát triển thì bị can, bị cáo
cũng đã hiểu biết hơn về các quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng hình sự. đặc biệt là quyền
bào chữa và nhờ người khác bào chữa đã được bị can, bị cáo thực hiện khá tốt nhằm đảm bảo cho
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, các quyền cơ bản khác như quyền đưa ra tài
liệu, đồ vật, yêu cầu, quyền kháng cáo…đã được bị can, bị cáo thực hiện tương đối tốt góp phần
xác định sự thật khách quan của vụ án.

đó của NTHTT đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo và còn làm sai lệch
nghiêm trọng sự thật khách quan của vụ án.
2. Nguyên nhân của thực trạng trên.
* Nguyên nhân từ phía pháp luật: Khi nói đến nguyên nhân khiến cho quyền và nghĩa vụ của
những người tham gia tố tụng nói chung và bị can, bị cáo nói riêng bị ảnh hưởng thì nguyên nhân
đầu tiên được nhắc đến là nguyên nhân từ phía pháp luật. Các quy định của pháp luật được đề ra
nhằm đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng. Nhưng nếu các

11


quy định đó không hợp lý thì sẽ có tác dụng ngược trở lại ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng
của những người tham gia tố tụng và dặc biệt là bị can, bị cáo.
Như ở trên đã phân tích quyền tự bào chữa và nhờ người bào chữa trong tố tụng hình sự có
vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Trong
trường hợp bị can, bị cáo không hiểu biết về pháp luật thì người bào chữa càng có vai trò quan
trọng hơn. Pháp luật đã có những quy định về việc mời người bào chữa cũng như điều kiện để trở
thành người bào chữa cho bị can, bị cáo. Nhưng các quy định về thủ tục xét xử và cấp giấy chứng
nhận người bào chữa lại khá khó khăn và phức tạp. Theo quy định tại khoản 4 điều 56 BLTTH thì
“trong thởi hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa có kèm theo giấy tờ
liên quan đến việc bào chữa cơ quan điều tra…” nhưng rất ít trường hợp Luật sư được cấp giấy
chứng nhận người bào chữa trong thời hạn nói trên. Người bào chữa cũng có khá nhiều quyền và
nghĩa vụ quan trọng trong tố tụng hình sự nhưng cho đến nay lại không hề có một quy định nào
đối với những người THTT để đảm bảo thực hiện quyền của người bào chữa góp phần đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Ngoài ra các quy định về việc đặt tiền hoặc tài sản
có giá trị đảm bảo để thay thế biện pháp tạm giam hay các quy định về thủ tục rút gọn trong tố
tụng hình sự cũng còn nhiều bất cập hạn chế cần phải xem xét, sửa đổi bổ sung tránh ảnh hưởng
đến quyền cảu bị can, bị cáo.
* Nguyên nhân từ phía những người tham gia tố tụng: Việc bị can, bị cáo không hiểu biết về pháp
luật đã gây rất nhiều khó khăn cho việc giải quyết vụ án cũng như tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp

là ở vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo…nơi có điều kiện kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn,
tình hình tội phạm có nhiều phức tạp. Số lượng NTHTT ít, vụ án xảy ra nhiều sẽ khiến những
NTHTT phải ôm đồm cùng lúc giải quyết nhiều vụ án. Do đó chất lượng của công tác điều tra,
truy tố, xét xử sẽ không được cao, ảnh hưởng nhiều đến việc xác minh sự thật vụ án cũng như
quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Ngoài ra, thực tế hiện nay nhiều khi những NTHTT
cố tình làm sai các quy định của pháp luật như bức cung, ép cung…nhằm nhanh chóng giải quyết
vụ án theo ý chí chủ quan của mình. nguyên nhân là do chưa có một chế tài đủ mạnh để đảm bảo
NTHT không vi phạm các quy định của pháp luật, xâm hại đền quyền và lợi ích hợp pháp cảu bị
can, bị cáo.
* Các nguyên nhân khác: Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý là một nguyên nhân có ảnh hưởng
không nhỏ đến công tác điều tra, truy tố xét xử nhằm xác định sự thật vụ án. ở vùng sâu vùng
xa… nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi thì việc điều tra thu thập chứng cứ của các điều tra
viên trở nên rất khó khăn. Nhiều khi những chứng cứ quan trọng không thu thập được do đã bị
hủy hoặc bị ảnh hưởng rất lớn đến việc xác minh sự thật vụ án. Bên cạnh đó, điều kiện đi lại khó
khăn cũng khiến cho công tác tống đạt các quyết định quan trọng liên quan đến quyền lợi và

13


nghĩa vụ của bị can, bị cáo cũng trở nên khó khăn hơn gây ảnh hưởng đến việc thực hiện các
quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động ở
vùng sâu vùng xa các hoạt động điều tra truy tố xét xử còn gặp nhiều khó khăn do thiếu các điều
kiện cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động ảnh hưởng không nhỏ đến việc xác định sự thật khách
quan của vụ án, không đảm bảo tốt được quyền và nghĩa vụ cảu bị can, bị cáo trong quá trình giải
quyết vụ án.
3. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện
quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo.
Thứ nhất, cần sửa đổi bổ sung một số quy định của pháp luật chưa phù hợp với tình hình
hiện nay. Ví dụ như quy đinh của pháp luật về thời điểm xác định tư cách bị can cho người bị
khởi tố. hiện nay chưa có một quy định cụ thể nào về việc xác định thời điểm người bị khởi tố có

Toà án chỉ có thể vượt quá giới hạn truy tố của VKS nếu không làm bất lợi cho bị cáo, không ảnh
hưởng đến quyền bào chữa của bị cáo. Hiện nay, theo Điều 196 BLTTHS “Toà án chỉ xét xử
những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét
xử. Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS truy tố trong cùng một điều
luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”.
Thứ hai, nâng cao kiến thức pháp luật của những người tham gia tố tụng đặc biệt là bị can,
bị cáo: những người tham gia tố tụng đặc biệt là bị can, bị cáo là những người có quyền và lợi ích
hợp pháp bị ảnh hưởng nhiều nhất trong tố tụng hình sự. Nhưng nhiều khi do không hiểu biết về
pháp luật mà chính bản thân họ đã không thực hiện các quyền của mình và tự mình đánh mất
những quyền và lợi ích hợp pháp mà mình được hưởng. Do vậy, cần thường xuyên tuyên truyền,
nâng cao kiến thức pháp luật cho người dân. Và đối với những người đã là bị can, bị cáo thì cần
những NTHTT phải đảm bảo thực hiện đúng trách nhiệm thông báo cụ thể về các quyền và nghĩa
vụ của bị can, bị cáo cho họ biết.
Thứ ba, nâng cao số lượng và chất lượng đội ngũ những người tiến hành tố tụng: Chúng ta
cần có các biện pháp nhằm nâng cao số lượng vầ chất lượng đội ngũ những NTHTT, tăng cường
công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, lối sống và trách nhiệm cho những
NTHTT đặc biệt là các cán bộ, công chức ngành TAND. Xây dựng phương án đào tạo nguồn cán
bộ, thẩm phán cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Làm tốt công tác đào tạo nghiệp vụ xét
xử đề tạo nguồn bổ nhiệm thẩm phán. Chú trọng làm tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử và
hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.
Thứ tư, một số giải pháp khác: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, thực
hiện trợ giúp pháp lý cho người dân thông qua các trung tâm tư vấn pháp luật. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn và hoạt động quản lý của các CQTHTT. Tăng

15


cường kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, điều kiện làm việc cho nhưng NTHTT. Xây dựng đề án
cải tiến chế độ tiền lương, kịp thời nghiên cứu, sửa đổi bổ sung chế độ tiền lương. Như vậy sẽ
đảm bảo cho NTHTT có điều kiện tốt nhất để thực hiện công tác, nhiệm vụ được giao góp phần

TH.S Chu Thị Trang Ngân, hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự về quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế đảm bảo thực hiện,
Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng quốc hội, số 18(155), tháng 9/2009, Tr 37 –
46.

16


5.

Nguyễn Khắc Quang, Bất cập về thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của bị
can, bị cáo trong thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12/2010, Tr 53
– 59, 64.

6.

http://tholaw.wordpress.com/2010/05/02/hoan-thien-cac-quy-dinh-cua-boluat-to-tung-hinh-su-ve-quyen-nghia-vu-cua-bi-can-bi-can/.

7.

www.google.com

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status