Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại công ty cổ phần á long - Pdf 34

ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã mở ra nhiều cơ
hội mới để phát triển cho các Doanh nghiệp Việt Nam nhưng song song với nó cũng là
những thách thức được đặt ra từ chính nền kinh tế thị trường. Muốn vượt qua thách
thức, Doanh nghiệp (DN) bắt buộc phải thay đổi để phù hợp và làm quen, không chỉ
dừng lại ở việc áp dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa
sản phẩm mà còn phải sử dụng các phương pháp để kiếm soát các hoạt động diễn ra
trong Công ty nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình. Trong đó không
thể không nhắc tới kiểm toán nội bộ (KTNB) là một bộ phận quan trọng trong hệ
thống kiểm soát nội bộ của Công ty, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phù hợp,
hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật, quy trình, cơ chế, chuẩn mực kế toán. Tại các nước
phát triển, KTNB đã ra đời từ khá lâu và ngày càng khẳng định được vai trò không thể
thiếu của mình trong DN và Công ty. Tuy nhiên cụm từ “ Kiểm toán nội bộ” mới được
sử dụng ở Việt Nam trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây và đến nay khái niệm KTNB
vẫn còn chưa quen thuộc với nhiều nhà quản lý và chưa được các DN ở Việt Nam hiểu
hết được ý nghĩa, sử dụng có hiệu quả và chú trọng đúng mức.
Hiện nay, tại Công ty Cổ phần Á Long, đã tổ chức và thực hiện nhiệm vụ của
kiểm toán viên nội bộ (KTVNB). Tuy nhiên, do mới thành lập được một thời gian
ngắn nên việc triển khai công tác, xây dựng quy trình, quy định về kiểm toán nội bộ
còn nhiều thiếu sót và bất cập như chưa phân định rõ được chức năng, nhiệm vụ của
kiểm toán viên, việc phân quyền truy cập hệ thống chỉ mang tính hình thức…nên công
tác KTNB còn nhiều hạn chế.
Đề tài “Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nội bộ tại Công ty Cổ phần Á Long”
được em nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác KTNB tại Công ty
Cổ phần Á Long.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

hoạt động sản xuất kinh doanh.
6. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về tổ chức KTNB trong DN
Chương 2: Thực trạng tổ chức KTNB tại Công ty Cổ phần Á Long
Chương 3: Nguyên tắc và giải pháp hoàn thiện tổ chức KTNB tại Công ty Cổ
phần Á Long

Trần Thị Thu

2


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN Á LONG
1.1. Khái niệm kiểm toán nội bộ
1.1.1. Bối cảnh lịch sử của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ xuất hiện là kết quả nảy sinh từ nhu cầu của công tác quản
lý trong tổ chức, đơn vị nhằm thẩm tra, đánh giá những nghiệp vụ phát sinh trong
đơn vị. Khi những nghiệp vụ này ngày càng nhiều và phức tạp thì nhu cầu kia sẽ
phát triển thành đòi hỏi phải thành lập nên nên một bộ phận có chức năng KTNB
chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá và báo cáo lại cho người có thẩm quyền rằng
tài sản của đơn vị được sử dụng đúng hay không, các quy tắc, quy chế trong đơn vị
có được tuân thủ hay không, sổ sách tài chính có được ghi chép đầy đủ hay
không…Ngoài ra bộ phận này còn có trách nhiệm phát hiện ra sai phạm, gian lận.
KTNB còn được coi là sự mở rộng mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của KTV

tục, với sự phát triển đáng ngạc nhiên vào khoảng giữa những năm 1960 đặc biệt ở
những đơn vị yêu cầu phải xem xét xem việc thực hiện các thủ tục có được tôn
trọng hay không. Đội ngũ kiểm toán viên phải xem xét các chứng từ, tài khoản và
tìm ra phương pháp để cải thiện những sai sót được phát hiện. Có ý kiến từ những
kiểm toán viên có tầm nhìn xa rằng những sai sót trên có thể là hậu quả của việc
thiếu minh bạch trong thiết lập các quy định hay hậu quả trong cách điều hành
quản lý. Việc các kiểm toán viên giúp đỡ và tư vấn cho nhà quản lý đã đánh dấu
một bước ngoặt quan trọng cho sự nhìn nhận vai trò quan trọng của kiểm toán viên
nội bộ hơn là vai trò của người chuyên tìm kiếm các sai phạm.
Giai đoạn từ năm 1970-1980 : đây là giai đoạn điển hình cho công việc
đánh giá sự kiểm soát. Trong giai đoạn này trọng tâm của KTNB đã được mở rộng
ra một cách đáng kể cùng với sự thay đổi trong khái niệm kiểm soát. Cụ thể là các
vấn đề xoay quanh các hoạt động nội bộ được đưa ra bàn bạc để đảm bảo mọi nhân
viên có thể nắm bắt được mục tiêu, hoạt động, và khả năng thành công của đơn vị,
tất cả những nhân tố được cung cấp để thực hiện được mong muốn trên thì được
xem là kiểm soát. KTVNB đã không chỉ còn nằm trong giới hạn của công việc kế
toán nữa mà bắt đầu cung cấp các kiến nghị, đề xuất để việc kiểm soát có thể thực
hiện đúng.
Giai đoạn 1980-1990 : Là giai đoạn của việc hình thành báo cáo về hệ
thống kiểm soát nội bộ. Xuất hiện dưới hình thức KTV đưa ra các quan điểm độc
lập về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Các sự thay đổi hay vượt khỏi tổ chức
ở các mức độ đều có thể được báo cáo lên cho hội đồng quản trị và ban kiểm soát.
KTVNB giờ đây còn có nhiệm vụ đưa ra quan điểm kiểm soát ở cấp cao hơn được

Trần Thị Thu

4


ĐH Quốc tế Bắc Hà

cho khách hàng của mình. Khái niệm này cung cấp nguyên nhân cho sự tổn tại của các tổ

Trần Thị Thu

5


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

chức. Giá trị được cung cấp qua sự phát triển của hàng hóa, dịch vụ và sử dụng các
nguồn lực cho việc tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ. Trong quá trình thu thập dữ liệu để
nhận dạng và đánh giá rủi ro, những kiểm toán viên nội bộ phát triển rất đáng kể sự hiểu
biết sâu sắc về các hoạt động và các cơ hội cho việc cải thiện cái có thể là lợi nhuận vô
cùng của các doanh nghiệp. Thông tin có giá trị này có thể dưới dạng tư vấn, lời khuyên,
truyền đạt bằng văn bản hay thông qua tất cả những sản phẩm khác mà những sản phẩm
này có thể được truyền đạt tới sự quản trị thích hợp và điều hành con người.”
Giai đoạn từ 2004 đến nay: Nhiệm vụ của KTNB không chỉ tập trung vào việc tạo
nên thành công ở mục tiêu riêng cho những người được hưởng lợi như cổ đông mà ở
thành công chung còn dành cho tất cả các đối tượng được tác động bằng cách nào đó bởi
kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức đó.
Từ năm 1997 hoạt động KTNB mới trở thành một loại hình kiểm toán chính thức ở
Việt Nam. Tuy hoạt động KTNB còn khá mới mẻ nhưng đã đạt được một số kết quả tốt.
Từ đó, cho thấy KTNB ngày càng có vai trò quan trọng và trở thành một bộ phận không
thể thiếu được trong hệ thống kiểm soát nội bộ của nhiều Công ty.
1.1.3. Định nghĩa kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một loại hình kiểm toán khi được phân chia theo tiêu chí bộ
máy tổ chức. Có nhiều khái niệm khác nhau về KTNB.
Theo “Chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán nội bộ” của Hoa Kỳ đã được Viện kiểm

thông qua đó đưa ra các kiến nghị, tư vấn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
các hệ thống, các quy trình, quy định, góp phần đảm bảo DN hoạt động an toàn, hiệu quả
và đúng pháp luật. Tất cả các hoạt động này được thực hiện bởi một bộ phận do chính DN
tổ chức.
1.1.3.1. Chức năng ,nhiệm vụ và đối tượng của KTNB
Thông tin do KTNB cung cấp là căn cứ, cơ sở quan trọng cho Công ty đưa ra các
quyết định quản lý. Hoạt động của kiểm toán nội bộ được coi là hoạt động cần thiết của
các Công ty trong nền kinh tế thị trường hiện nay nhằm kiểm soát hiệu quả, hiệu năng,
thông tin kinh tế tài chính, phát hiện những khâu yếu, ngăn ngừa sai sót, gian lận trong
quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Đối tượng phục vụ chủ yếu của KTNB là chủ doanh nghiệp, ban quản lý doanh
nghiệp và người lao động. Kiểm toán hoạt động có 3 chức năng đó là kiểm tra, đánh giá
và tư vấn.
Mục tiêu chính của KTNB trong khuôn khổ xem xét định kỳ là kiểm tra các thủ tục
có đủ an toàn và các thông tin tài chính có trung thực, tin cậy hay không, các nghiệp vụ có
hợp thức, tổ chức hoạt động có hiệu quả, cơ cấu có rõ ràng hay không…Điều đó cho thấy

Trần Thị Thu

7


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

kiểm toán nội bộ không chỉ giới hạn trong bộ phận kế toán và tài chính của doanh nghiệp,
hoạt động KTNB không chỉ đơn thuần là kiểm toán báo cáo tài chính mà còn bao gồm cả
kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ.
a, Chức năng của KTNB

8


ĐH Quốc tế Bắc Hà



Ngành : Kế toán – Kiểm toán

KTNB kiểm tra sự tuân thủ các chính sách, quy chế, quy định, kế hoạch và

thủ tục hiện hành. KTNB kiểm tra toàn bộ các bước trong quá trình hoạt động, kinh
doanh của DN để đánh giá mức độ tuân thủ của DN đối với các quy chế, thủ tục, chính
sách, nghị quyết của Nhà nước và DN mà DN cần tuân theo. Từ đó đánh giá và tham
mưu cho lãnh đạo DN về tính hợp lý và lợi thế của các quy chế và thủ tục kiểm soát
với các chính sách, các kế hoạch hoạt động giúp nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong
các quyết định của nhà quản lý DN đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN.


KTNB kiểm tra các phương thức đảm bảo an toàn cho tài sản của DN. Để

đảm bảo an toàn cho tài sản của DN, KTNB thường kiểm tra sự hiện diện của các tài
sản đó qua việc kiểm kê tài sản thực tế, kiểm tra hệ thống quản lý công nợ, hệ thống
kho bãi, hệ thống phòng cháy chữa cháy…Thông qua việc kiểm tra, KTNB có thể đưa
ra các đề xuất với lãnh đạo DN để hoàn thiện các quy chế kiểm soát, kịp thời có các
giải pháp thực tế để đảm bảo an toàn cho tài sản của DN.


KTNB đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ và hiệu quả hoạt động của các


hoạch; phải đảm bảo tiết kiệm và có lợi; phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và thể lệ tài
chính. Trong quan hệ với tính xác định của thông tin thu thập được, thực trạng của hoạt
động tài chính gồm hai phần: một phần được phản ánh trong tài liệu kế toán và phần còn
lại chưa được phản ánh trong tài liệu này. KTVNB sẽ sử dụng các phương pháp kiểm toán
thích hợp để xác minh và đưa ra những đánh giá về thực trạng hoạt động tài chính của
DN.
Tài liệu kế toán, trước hết là các bảng khai tài chính, là đối tượng trực tiếp và
thường xuyên của mọi cuộc kiểm toán. Trong cơ chế thị trường, tài liệu kế toán không chỉ
là cơ sở để tổng kết các chỉ tiêu ở phạm vi rộng hơn, cũng không chỉ để kiểm tra, lưu trữ
tài liệu và bảo vệ tài sản mà còn là cơ sở cho mọi người quan tâm ra các quyết định về
quản lý, về đầu tư, về thanh toán, phân phối… đồng thời nhu cầu về chất lượng của tài
liệu kế toán cũng tăng lên. Do vậy, đối tượng của kiểm toán thuộc phạm vi tài liệu kế toán
bao gồm: tính hiện thực của các thông tin kế toán; tính hợp pháp của các biểu mẫu, của
trình tự lập và luận chuyển các tài liệu này; tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp
với nội dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh; tính pháp lý trong việc thực hiện các
luật pháp, chuẩn mực và chế độ kinh tế tài chính.
Thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính: trong DN, tài sản biểu hiện dưới nhiều
hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng…
khác nhau, lại được lưu trữ trên nhiều kho, bãi khác nhau do những người khác nhau quản
lý. Cùng với sự phát triển của hoạt động SXKD, quy mô tài sản thay đổi thì sự cách biệt
giữa người sở hữu với người bảo quản và sử dụng tài sản tăng lên, khả năng có sự cách
biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán. Điều này đòi hỏi phải đặt

Trần Thị Thu

10


ĐH Quốc tế Bắc Hà



Trần Thị Thu

11


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

những tồn tại, yếu kém, sơ hở, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của các bộ
phận, các đơn vị đẻ tư vấn cho ban lãnh đạo các biện pháp khắc phục; Kiểm tra, đánh giá
độ tin cậy của các thông tin do kế toán cung cấp thông qua BCTC, đưa ra những kiến
nghị, tư vấn cho lãnh đạo DN về công tác kế toán tài chính, công tác quản lý và điều hành
có hiệu quả.
Kiểm toán hoạt động:: là việc thẩm tra các trình tự và các phương pháp tác nghiệp
ở các bộ phận hoặc đơn vị kiểm toán theo hướng hiệu quả, hiệu lực và tính kinh tế. Các
tác nghiệp không chỉ giới hạn ở lĩnh vực tài chính kế toán mà còn mở rộng sang các lĩnh
vực khác: đánh giá cơ cấu tổ chức, phương pháp sản xuất, nghiệp vụ sử dụng máy tính,
marketing và mọi lĩnh vực quản lý khác nếu cần và có thể thực hiện được.
Kiểm toán hoạt động là nhận định thành tích và hiệu quả, với ba mặt sau: Nhận
định về thành tích và hiệu quả của hệ thống thông tin và phương pháp điều hành; Nhận
định về kết quả sử dụng các nguồn lực; Nhận định về tính chủ động trong xây dựng dự án
và sự tương xứng về điều hành, phát triển. Kết quả của kiểm toán hoạt động không chỉ
củng cố được nền nếp tài chính kế toán mà còn nâng cao được hiệu năng và hiệu quả của
hoạt động quản lý. Trong tổ chức, quá trình cũng như kết quả kiểm toán của kiểm toán
hoạt động khó xác định thành những tiêu chuẩn, biểu mẫu như kiểm toán BCTC. Hơn
nữa, hiệu năng, hiệu quả của nghiệp vụ khó đánh giá khách quan nên trong kiểm toán
hoạt động, KTV thường đưa ra các gợi ý hơn là những tường trình về hiệu quả đã đạt
được để cố vấn cho công tác quản lý của DN.

cũng phân thành kiểm toán kiểm toán phòng ngừa và kiểm toán sau hoạt động.
Kiểm toán phòng ngừa bao gồm các biện pháp phòng ngừa được áp dụng trước khi
một nghiệp vụ phát sinh nhằm đảm bảo cho bộ máy nghiệp vụ hoạt động chuẩn xác và
hợp thức, loại trừ các sai phạm trước hoặc ngay khi chúng xuất hiện.
Kiểm toán sau hoạt động là loại kiểm toán được thực hiện sau khi nghiệp vụ kế
toán đã phát sinh nhằm xem xét mức độ trung thực, chính xác của các nghiệp vụ hoàn
thành đồng thời phát hiện các vi phạm, gian lận.
Hai loại hình kiểm toán trên rất khác nhau nhưng lại hỗ trợ nhau rất hiệu quả: nhờ
kiểm toán sau hoạt động, bộ phận KTNB sẽ rút ra bản chất sai phạm, gian lận có thể xảy
ra từ đó xây dựng các biện pháp cho kiểm toán phòng ngừa, nhờ kiểm toán phòng ngừa,
KTV nội bộ sẽ theo dõi được chặt chẽ hơn các sai phạm phát hiện trong kiểm toán sau
hoạt động.
Nói chung, theo nhiều tiêu thức khác nhau, sẽ có nhiều loại hình KTNB khác nhau,
vấn đề đặt ra là các KTV nội bộ phải xác định lựa chọn hoặc kêt hợp các loại hình kiểm
toán khác nhau để thực hiện nhằm đạt hiệu quả cao trong cuộc KTNB.

Trần Thị Thu

13


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

d, Phân loại KTNB theo chu kỳ kiểm toán
Theo tính chu kỳ của kiểm toán thì KTNB được chia thành kiểm toán thường
xuyên, kiểm toán định kỳ và kiểm toán bất thường.
Kiểm toán thường xuyên là việc thực hiện thẩm tra, theo dõi soát xét liên tục các
hoạt động kế toán, hoạt động quản lý, kinh doanh một cách thường xuyên để đảm bảo


Để thiết lập bộ máy kiểm toán nội bộ mang lại hiệu quả thì phải xem xét đến tiêu
chuẩn về quy mô, phạm vi hoạt động và phân cấp quản lý của tổ chức muốn thiết lập bộ
máy kiểm toán nội bộ
Tiêu chuẩn về quy mô: Trong thực tế, rất ít các DN nhỏ và vừa có bộ KTNB, trong
khi các DN có quy mô lớn lại rất cần đến bộ phận này để nâng cao chất lượng của hệ
thống kiểm soát nội bộ tại DN. Quy mô của DN được xem xét trên các số liệu về tài sản,
số vốn hoạt động, số lượng nhân viên, doanh thu…DN có quy mô càng lớn thì đòi hỏi bộ
máy KTNB phải làm việc càng nhiều, khối lượng công việc và độ phức tạp cũng tăng qua
từng nghiệp vụ nên số lượng nhân viên trong bộ máy kiểm toán nội bộ cũng nhiều thêm.
Tùy thuộc vào các yêu cầu khách quan như đặc điểm kinh tế, các quy định pháp lý của
Nhà nước, các yêu cầu về chất lượng kiểm toán viên, mô hình tổ chức hoạt động mà xác
định ra số nhân viên phù hợp trong bộ máy.
Tiêu chuẩn về phạm vi hoạt động: phạm vi hoạt động hay sự chia cắt về mặt địa lý
là một trong những nhân tố không thể thiếu khi xem xét tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ
trong DN. Ví dụ như Tập đoàn Kinh Đô có trụ sở chính ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng
các nhà máy, văn phòng, công ty con lại ở nhiều địa điểm khác nhau như Hưng Yên hay
Bình Dương…Với các DN có đặc điểm này thì việc bố trí tổ chức bộ máy KTNB luôn đòi
hỏi đến tính hợp lý trong việc kiểm toán các đơn vị trực thuộc làm sao đảm bảo được chất
lượng, hiệu quả và tiết kiệm của các cuộc kiểm toán. Nhiều doanh nghiệp để thuận tiện
cho công tác kiểm toán và tiết kiệm chi phí DN sẽ tổ chức bộ máy kế toán theo kiểu phân
tán với việc xây dựng đội ngũ kiểm toán viên ngay tại đơn vị trực thuộc để phụ trách công
tác kiểm toán ở các khu vực được phân công.
Tiêu chuẩn về phân cấp quản lý: Mức độ phân cấp quản lý trong DN ảnh hưởng
rất lớn tới quyết định tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ tại DN. Do quyền quyết định đều
nằm trong tay nhà quản lý, phân cấp quản lý chỉ có thể thực hiện được khi các mục tiêu,
thủ tục và hệ thống hành chính rõ ràng, thông qua một số phương pháp kiểm tra dựa trên
tiêu chuẩn kết quả và hiệu năng. Trong nhiều trường hợp sẽ xuất hiện các rủi ro, sai sót
thông tin quản lý trong hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Mức độ của các rủi



Ban kiểm soát

Kiểm toán nội bộ

Nhưng hiện nay có ít nhất 3 quan điểm khác nhau về vấn đề này đó là:

Trần Thị Thu

16


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

Tại Việt Nam ở nhiều Công ty chức năng của ban kiểm soát khá mờ nhạt, có công
ty chỉ dựng lên ban kiểm soát để cho đủ ban bệ và tuân thủ quy định của pháp luật nên
dẫn đến mô hình biến tấu thứ nhất:
Mô hình 1.2: Mô hình biến tấu thứ nhất
Ban kiểm soát

Hội đồng quản trị

Tổng giám đốc

Kiểm toán nội bộ

Mô hình này được áp dụng khi Tổng giám đốc là người do Hội đồng quản trị thuê
về điều hành. KTNB làm việc cho Hội đồng quản trị, báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản

bộ

Mô hình 1.4: Mô hình biến tấu thứ 3
Ban kiểm soát

Hội đồng quản trị

Tổng giám đốc

Giám đốc các công
ty con

Các bộ phận
chuyên môn

Giám đốc tài chính

Kiểm toán nội
bộ

Như vậy tuỳ từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà vị trí của KTNB trong Công ty,
Tổng công ty, Tập đoàn sẽ khác nhau, khi đó mô tả công việc đối với KTVNB cũng khác

Trần Thị Thu

18


ĐH Quốc tế Bắc Hà


Trần Thị Thu

19


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

người đứng đầu bộ phận KTNB phải được quyền tự do báo cáo kết quả kiểm toán với Ban
kiểm soát của HĐQT mới có kết quả cao nhất.
Mô hình tổ chức
Tùy thuộc vào quy mô cũng như độ phân tán chia cắt về địa lý, định chế tài chính
mà doanh nghiệp đi đến lựa chọn bộ hình kiểm toán nội bộ thích hợp. Hiện tại có 3 mô
hình cơ bản đó là mô hình tập trung, mô hình phân tán và mô hình kết hợp.
Mô hình tập trung: là cách tổ chức theo đó doanh nghiệp sẽ đặt ban KTNB tập
trung tại văn phòng, trụ sở chính của mình. Phòng/ban KTNB sẽ phụ trách toàn bộ hoạt
động KTNB trong toàn doanh nghiệp và chịu sự điều hành trực tiếp từ TGĐ.
Ưu điểm của mô hình này là gọn nhẹ, mang tính tập trung cao. Mô hình này có
hiệu quả cao nhất đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn nhưng các đơn vị trực thuộc,
bộ phận trực thuộc lại tập trung trên một địa bàn nhất định hoặc tương đôi gần nhau,
không khó khăn trong việc đi lại, tiết kiệm chi phí, thời gian khi tiến hành hoạt động kiểm
toán. Nhưng mô hình trên lại không phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn và các
đơn vị trực thuộc phân bố không tập trung về mặt địa lý hoặc bị chia cắt xa hơn do bộ
máy KTNB được tổ chức tập trung tại trụ sở chính của DN thì khó khăn cho các kiểm
toán viên trong việc di chuyển từ trụ sở chính tới các đơn vị ở xa, bên cạnh đó các kiểm
toán viên cũng khó có thể theo dõi sát tình hình thực tế của đơn vị trực thuộc do không
phải lúc nào cũng đi đến mọi nơi để kiểm toán được. Ngoài ra còn có rủi ro, sai sót trong
việc cung cấp thông tin từ các đơn vị trực thuộc là không thể tránh khỏi. Tổ chức theo mô
hình này DN phải bỏ ra chi phí không nhỏ cho việc ăn ở, đi lại cho kiểm toán viên khi họ

hoán đổi vị trí cho nhau để phát huy tối đa tính khách quan. Nhưng nhược điểm của hình
thức này vẫn là tốn một lượng chi phí công tác, KTV sau một thời gian làm việc được
hoán đổi có thể chưa kịp bắt nhập với môi trường làm việc của đơn vị trực thuộc khác…
Dù DN tổ chức bộ máy KTNB theo mô hình nào, DN cũng phải đảm bảo cho bộ
phận KTNB có một vị trí độc lập, hoạt động khách quan, chỉ chịu sự điều hành của lãnh
đạo cao nhất trong DN.
1.2.4. Cơ cấu bộ máy kiểm toán nội bộ
Bộ phận KTNB có thể tổ chức thành một phòng/ ban KTNB. Người đứng đầu bộ
phận này được gọi là trưởng phòng / ban KTNB hoặc kiểm toán trưởng. Tiếp đến là phó
phòng/ban KTNB (nếu có), nhóm trưởng KTNB và KTVNB. Số lượng KTVNB phụ
thuộc vào quy mô kinh doanh, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, địa bàn hoạt động,
số lượng các đơn vị thành viên, tính chất phức tập của công việc số lượng nhân viên, yêu
cầu quản lý và trình độ năng lực của các KTVNB. Bộ phận KTNB phải được tổ chức độc
lập với các bộ phận quản lý và điều hành kinh doanh trong DN (kể cả phòng kế toán – tài
chính), chịu sự chỉ đạo trực tiếp của TGĐ DN. Theo yêu cầu của bộ phận KTNB, TGĐ

Trần Thị Thu

21


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

DN có thể chọn chuyên gia thuộc lĩnh vực chuyên môn đặc biệt trong doanh nghiệp hoặc
thuê chuyên gia bên ngoài tư vấn (nếu cần) tham gia vào nhiệm vụ tư vấn để KTV đưa ra
được các xác định đối với một số nội dung hoặc toàn bộ cuộc kiểm toán.
1.2.5. Xây dựng quy chế kiểm toán nội bộ
Bộ phận KTNB thường xuyên yêu cầu được xác định trách nhiệm và quyền hạn


Ngành : Kế toán – Kiểm toán

Quyền hạn của bộ phận KTNB trong DN:
- Được trang bị đầy đủ các nguồn lực cần thiết, chủ động thực hiện các nhiệm vụ
của mình theo kế hoạch đã được phê duyệt.
- Được cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu, hồ sơ cần thiết cho công
tác KTNB.
- Được tiếp cận, xem xét tất cả các quy trình nghiệp vụ, các tài sản và tiếp cận,
phỏng vấn tất cả các cán bộ, nhân viên trong DN khi thực hiện KTNB.
- Được giám sát, đánh giá, theo dõi các hoạt động sửa chữa, khắc phục, hoàn thiện
của các đơn vị, bộ phận đối với các vấn đề mà KTVNB đã ghi nhận và có khuyến nghị.
Trách nhiệm của bộ phận KTNB:
- Bảo mật tài liệu, thông tin theo đúng quy định pháp luật hiện hành.
- Chịu trách nhiệm trước lãnh đạo DN về kết quả công việc KTNB, về những đánh
giá, kết luận, kiến nghị, đề xuất trong các báo cáo KTNB.
- Theo dõi kết quả thực hiện các kiến nghị sau KTNB của các đơn vị, bộ phận
trong DN.
1.2.6. Tiêu chuẩn của kiểm toán viên nội bộ
Theo Quyết định 832/TC- QĐ-CĐKT- ban hành Quy chế kiểm toán nội bộ của Bộ
tài chính thì người được bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ làm KTVNB phải có đủ các
tiêu chuẩn sau:
• Có phẩm chất trung thực, khách quan, chưa có tiền án và chưa bị kỷ luật từ mức
cảnh cáo trở lên do sai phạm trong quản lý kinh tế, tài chính, kế toán.
• Đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành kinh tế, tài chính, kế toán hoặc quản trị kinh
doanh.
• Đã công tác thực tế trong lĩnh vực quản lý tài chính, kế toán từ 5 năm trở lên trong
đó có ít nhất 3 năm làm việc tại doanh nghiệp nơi được giao nhiệm vụ kiểm toán
viên.
• Đã qua huấn luyện nghiệp vụ kiểm toán, KTNB theo nội dung chương trình thống

Kế hoạch KTNB năm bao gồm các định hướng cơ bản, nội dung trọng tâm và
phương pháp tiếp cận chung của các cuộc KTNB trong năm. Bản kế hoạch này được lập
trên cơ sở đánh giá các thông tin tổng quát về tình hình hoạt động và môi trường kinh
doanh của các bộ phận, các nghiệp vụ trong DN. Bộ phận hay nghiệp vụ nào có mức độ
rủi ro cao hơn sẽ được đưa vào lịch KTNB năm. Bản kế hoạch KTNB năm giúp KTV nội
bộ dự tínhvà tổng hợp được khối lượng công việc cần thực hiện, thời gian hoàn thành và
nhân lực cần thiết đối với các cuộc KTNB trong năm, nó là cơ sở để lập kế hoạch KTNB
chi tiết, là cơ sở chỉ đạo thực hiện và soát xét kết quả các cuộc KTNB trong năm. Kế

Trần Thị Thu

24


ĐH Quốc tế Bắc Hà

Ngành : Kế toán – Kiểm toán

hoạch KTNB năm do người phụ trách bộ phận KTNB lập và trình ban lãnh đạo DN
duyệt. Để lập kế hoạch KTNB năm cần phải:
- Xác định mục tiêu KTNB: là xác định những vấn đề cần đạt được sau khi công
việc KTNB trong năm hoàn thành. Để xác định được mục tiêu của KTNB cần phải nghiên
cứu các yếu tố: Yêu cầu quản lý, năng lực của nhân viên, nguồn lực và thời gian sẵn có,
tính chất cấp bách của công việc, các cách tiếp cận. Mục tiêu được xây dựng không phải
cho mọi hoàn cảnh, khi có những điều kiện thay đổi, các mục tiêu cần phải được đánh giá
lại với những chỉnh sửa thích hợp.
- Xác định nội dung KTNB của năm: là các công việc lớn mà KTNB cần phải thực
hiện theo từng loại hình KTNB của năm.
- Xác định phạm vi KTNB của năm: là giới hạn về không gian và thời gian của đối
tượng kiểm toán.Công việc KTNB phải thực hiện theo trọng tâm của từng nội dung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status