TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA NGÂN HÀNG
Bài nghiên cứu bộ môn
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH
Chủ đề 1
MỐI QUAN HỆ TƯƠNG TÁC GIỮA THỊ TRƯỜNG
TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG VỐN
Giảng viên phụ trách: PGS.TS. Bùi Kim Yến
Nhóm: 2
TP. Hồ Chí Minh, Tháng 10 năm 2015
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐS
: Bất động sản
DTBB
: Dự trữ bắt buộc
DNXK
: Doanh nghiệp xuất khẩu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
1.1. Khái niệm
Theo điều 9 khoản 2 Luật Ngân hàng Nhà nước quy định: “Thị trường tiền tệ là thị
trường vốn ngắn hạn, nơi phát hành và mua bán các công cụ tài chính có kỳ hạn dưới
1 năm.”
Từ năm 2004, NHNN cho phép sử dụng cả công cụ tài chính dài hạn trong giao dịch
nghiệp vụ thị trường mở.
Các công cụ tài chính ngắn hạn thường được gọi là giấy tờ có giá ngắn hạn.
Các công cụ tài chính ngắn hạn ở Việt Nam bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân
hàng nhà nước, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, hợp đồng mua lại chứng khoán
(Repo), giấy nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.2. Công cụ trên thị trường tiền tệ
• Tín phiếu kho bạc (Treasury Bill)
Là giấy vay nợ ngắn hạn do Kho bạc Nhà nước phát hành có kỳ hạn dưới 1 năm để bù
đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách và là công cụ quan trọng để NHTW điều hành
chính sách tiền tệ.
Đặc điểm của tín phiếu kho bạc:
- Có tính thanh khoản cao
- Được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ
- Là loại tín phiếu chiết khấu, nghĩa là được bán thấp hơn mệnh giá và thanh toán theo
mệnh giá khi đến hạn, chứ không trả lãi trong kỳ.
- Thường được coi là không có rủi ro vì nó được Nhà nước bảo đảm thanh toán và
thời hạn ngắn nên tác động của sự biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ không đáng
kể.
- Thu nhập từ tín phiếu kho bạc (chênh lệch giữa giá mua và giá hoàn trả) không bị
đánh thuế vì chúng không được coi là tài sản vốn.
- Thời hạn tín phiếu kho bạc thường là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm với một hay nhiều mức
- Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh khoản
nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền và người trả tiền.
- Tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ hưởng đúng
hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền.
- Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang người
khác bằng phương pháp ký hậu1, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng
xin chiết khấu hoặc cầm cố, tính chất này khiến thương phiếu trở thành một loại
phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực và mệnh giá thương
phiếu.
• Chứng chỉ tiền gửi (Certificate of Deposit – CDs)
Là công cụ vay nợ do ngân hàng phát hành nhằm huy động vốn trên thị trường với
bản chất tương tự như một khoản tiền gửi có kỳ hạn tại một ngân hàng. Người nắm
giữ chứng chỉ tiền gửi được ngân hàng trả lãi và vốn gốc vào cuối kỳ của chứng chỉ
tiền gửi.
Đặc điểm của chứng chỉ tiền gửi:
4
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
- Thời hạn: từ 1 – 3 tháng, 6 tháng và dài nhất là 5 năm. Thời hạn càng dài thì lãi suất
càng cao.
- Người nắm giữ chứng chỉ tiền gửi có thể không được rút tiền trước hạn (đây là
chứng chỉ không thể mua bán) hoặc được rút tiền trước hạn nhưng phải chịu phạt lãi
suất (đây là chứng chỉ có thể mua bán)
- Có thể được mua bán lại trên thị trường thứ cấp. Nghĩa là nếu người nắm giữ chứng
chỉ cần tiền mặt trước khi đến hạn thì có thể bán lại cho một nhà đầu tư khác.
• Chấp phiếu ngân hàng (Banker’s Acceptances – Bas)
Là hối phiếu được ngân hàng đóng dấu “ACCEPTED” do một công ty phát hành, bảo
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
1.3. Chức năng của thị trường tiền tệ
Thị trường tiền tệ là kênh để ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
nhằm góp phần ổn định nền kinh tế trong nước. Thị trường tiền tệ giúp cho NHTW
thực thi các nghiệp vụ thị trường mở. Thông qua việc mua bán các chứng khoán ngắn
hạn, NHTW điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông nhằm thực thi chính sách thắt
chặt hay nới lỏng tiền tệ để kìm chế lạm phát hay thúc đẩy kinh tế tăng trưởng.
Thị trường tiền tệ là kênh chuyển giao vốn ngắn hạn tạm thời nhàn rỗi đến nơi thiếu
vốn, có suất sinh lợi cao…
1.4. Đặc điểm của thị trường tiền tệ
Đặc điểm nổi bật nhất của thị trường tiền tệ là các công cụ tài chính có tính thanh
khoản cao, rủi ro thấp. Bởi vì thời hạn ngắn nên những biến động giá các công cụ tài
chính do ảnh hưởng của sự biến động lãi suất thị trường là không đáng kể. Bên cạnh
đó, các công cụ của thị trường tiền tệ thường được phát hành theo dạng được chuẩn
mực hóa cao và thị trường thứ cấp của chúng rất phát triển. thông thường các công cụ
này được đảm bảo bằng tài sản hoặc các dạng đảm bảo khác của người đi vay và vì
vậy các công cụ này được coi là công cụ đầu tư ít rủi ro.
Người mua/cho vay là người tạm thời có nguồn vốn nhàn rỗi. Trọng tâm của thị
trường tiền tệ là cung ứng nguồn vốn ngắn hạn cho nền kinh tế.
1.5. Chủ thể tham gia
- Chủ thể cung ứng nguồn vốn như: Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng thương mại, các
tổ chức tín dụng (công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, khác…)
- Chủ thể có nhu cầu về vốn như: Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp, Chính phủ,
chính quyền địa phương, cá nhân,…
- Chủ thể trung gian môi giới, vừa đi vay và vừa cho vay như Ngân hàng thương mại,
Công ty chuyên môi giới.
Cụ thể vai trò từng chủ thể tham gia trên thị trường như sau:
• Ngân hàng trung ương
Là nơi các ngân hàng hoặc các TCTD vay mượn nhau khoản dự trữ dư thừa bằng nội
tệ và ngoại tệ nhằm bù đắp nhu cầu ngân quỹ tạm thời cho các nghĩa vụ tài chính
thường xuyên.
Thị trường liên ngân hàng gồm có: thị trường nội tệ liên ngân hàng và thị trường
ngoại tệ liên ngân hàng. Trong đó:
- Thị trường nội tệ liên ngân hàng là nơi đáp ứng nhu cầu vốn giữa các NHTM với
nhau thông qua mua bán lượng tín phiếu trong cơ cấu dự trữ bắt buộc theo quy định
của NHTW hoặc các NHTM vay mượn vốn lẫn nhau theo nhu cầu của mỗi ngân
hàng trong từng thời điểm. Lãi suất trên thị trường này là lãi suất thỏa thuận trên cơ sở
lãi suất do NHTW quy định.
- Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là nơi mua bán ngoại tệ giữa các NHTM. Tỷ giá
hối đoái trên thị trường này hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ và trên cơ sở tỷ
giá được lập trên thị trường này, NHTW sẽ quy định tỷ giá chính thức hàng ngày.
Trên cơ sở tỷ giá chính thức, NHTW cho phép các NHTM thực hiện mua bán ngoại tệ
cho các doanh nghiệp với một biên độ dao động nhất định nhằm ổn định thị trường
ngoại hối.
• Thị trường hối đoái
Là nơi diễn ra hoạt động mua bán và trao đổi ngoại tệ thông qua quan hệ cung cầu.
Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng, thông qua thị trường
liên ngân hàng mọi giao dịch mua bán ngoại hối có thể tiến hành trực tiếp với nhau.
Các nghiệp vụ trên thị trường này phần lớn mang tính ngắn hạn. thành viên tham gia
7
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
thị trường hối đoái chủ yếu là NHTM, doanh nghiệp, các nhà môi giới ngoại hối, các
nhà cung cấp dịch vụ tư vấn, các nhà kinh doanh, NHTW. Tham gia thị trường hối
đoái giúp các tổ chức nắm bắt được chung loại và khối lượng ngoại tệ trên thị trường,
8
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
- Trái phiếu đầu tư.
- Trái phiếu ngoại tệ.
- Công trái xây dựng tổ quốc.
• Trái phiếu doanh nghiệp (Corporate Bond)
Là loại trái phiếu do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của
doanh nghiệp phát hành đối với người sở hữu trái phiếu khi đến thời điểm đáo hạn.
Trái phiếu doanh nghiệp điển hình mang lại cho người giữ nó một khoản thanh toán
lãi 2 lần mỗi năm và thanh toán hết mệnh giá khi trái phiếu đến kỳ hạn thanh toán.
Một số trái phiếu doanh nghiệp được gọi là trái phiếu có khả năng chuyển đổi, có đặc
điểm phụ thêm là cho phép người giữ nó chuyển đổi nó thành một số cổ phần vào bất
cứ lúc nào cho tới lúc đến kỳ hạn thanh toán. Đặc điểm này khiến các trái phiếu
chuyển đổi trở nên hấp dẫn hơn đối với những người mua tương lai hơn là những trái
phiếu không có khả năng chuyển đổi, và cho phép doanh nghiệp giảm tiền lãi thanh
toán vì các trái phiếu này có thể tăng thêm giá trị nếu giá trị cổ phiếu tăng lên một
cách đầy đủ. Do tổng số dư của cả trái phiếu chuyển đổi và không chuyển đổi đối với
một doanh nghiệp xác định nào đó là nhỏ, nên chúng gần như không lỏng bằng các
khoán khác, ví dụ như trái phiếu chính phủ Mỹ.
• Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock)
Là loại chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu vốn cổ phần nhưng người nắm giữ không có
quyền biểu quyết. Cổ phiếu ưu đãi hứa trả lãi định kỳ theo một công thức xác định,
nhưng có thể hoãn trả mà không bị phá sản. Khoản cổ tức hoãn trả trong một kỳ sẽ
được tính tích lũy để trả trong những kỳ sau.
Đặc điểm của cổ phiếu ưu đãi:
trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường thứ cấp. Thị
trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng khoán của họ
thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn.
2.4. Chức năng của thị trường vốn
Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán trung và dài hạn do các công ty phát hành, số
tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần
mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, thị
trường vốn đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Thông qua thị trường vốn, chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy
động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế,
phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Thị trường vốn cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ
hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trung dài hạn trên thị trường rất khác
nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho
loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình. Chính vì vậy, thị
trường vốn góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán trung và dài hạn
10
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Nhờ có thị trường vốn, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu
thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản
(khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng
khoán dối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu
tư. Thị trường vốn hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng
nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
• Nhà đầu tư có tổ chức: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ bảo hiểm xã hội,
•
•
•
•
•
•
công ty tài chính,ngân hàng thương mại.
Các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ:
Sở giao dịch chứng khoán
Trung tâm lưu ký chứng khoán
Tổ chức định mức tín nhiệm
Các nhà quản lý thị trường:
Ngân hàng Nhà nước
Bộ Tài chính (Ủy ban chứng khoán)
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi
2.6. Phân loại thị trường vốn
Gồm 3 thị trường bộ phận: thị trường tín dụng trung và dài hạn hay còn gọi là thị
trường thế chấp (Mortgage market), thị trường cho thuê tài chính (Leasing market), và
thị trường chứng khoán (Securities market). Trong đó, TTCK là bộ phận quan trọng
nhất của TTTC trong việc tập trung và huy động những khoản vốn khổng lồ tài trợ
cho các mục đích đầu tư phát triển kinh tế, xã hội của Chính phủ, phát triển sản xuất
tại các doanh nghiệp.
- Thị trường thế chấp (Mortgage market): là thị trường tín dụng trung và dài hạn, tài
trợ cho các doanh nghiệp trong việc mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng đòi
trường giảm, từ đó lãi suất huy động cũng giảm. Điều này sẽ tác động đến những cá
nhân, doanh nghiệp hay tổ chức đi gửi tiền tiết kiệm và khi lãi suất huy động giảm thì
họ sẽ chọn kênh đầu tư có lợi hơn như chứng khoán hay BĐS. Chính vì vậy mà lượng
tiền từ bên TTTT sẽ chuyển qua TTV dẫn đến Index tăng lên.
Tác động đến người đi vay (doanh nghiệp)
Khi lãi suất giảm từ NHTW đến NHTM thì sẽ làm cho mặt bằng lãi suất trên thị
trường giảm, từ đó lãi suất huy động và lãi suất cho vay cũng giảm theo. Điều này
giúp cho các doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận với vốn vay hơn, góp phần làm giảm
chi phí sử dụng vốn, thúc đẩy hoạt động SXKD và làm gia tăng lợi nhuận của họ.
Chính vì vậy mà cổ tức trên mỗi cổ phiếu tăng, giá cổ phiếu cũng tăng và Index trên
TTCK cũng tăng theo.
Những trường hợp khác
- Lãi suất tác động đến giá trái phiếu
Khi lãi suất ngân hàng cao hơn lãi suất trái phiếu thì các NĐT sẽ gửi tiền vào ngân
hàng để hưởng lợi chứ không đầu tư vào trái phiếu. Điều này dẫn đến giá trái phiếu
giảm.
- Lãi suất tác động cùng chiều với giá cổ phiếu
Khi lãi suất giảm, ngoài những trường hợp thông thường làm cho giá cổ phiếu tăng thì
vẫn có những trường hợp làm cho giá cổ phiếu giảm.
Nguyên nhân:
+ Trường hợp cá biệt:
Xuất phát từ những điều kiện của nền kinh tế như khi nền kinh tế đình đốn, tổng cầu
không tăng cho dù lãi suất giảm, dẫn đến giá chứng khoán cũng giảm theo.
Xuất phát từ nội tại của doanh nghiệp như kinh doanh không hiệu quả, hoạt động
không đúng mục đích, quản trị điều hành yếu kém dẫn đến việc SXKD thua lỗ kém
hiệu quả nên cho dù lãi suất giảm thì những doanh nghiệp dạng này cũng không thể tận
dụng được cơ hội để phát triển. Chính vì vậy mà giá cổ phiếu của họ trên TTCK cũng
sẽ giảm theo.
hoặc Index thị trường giảm nhưng vẫn có doanh nghiệp phát triển và giá cổ phiếu của
họ tăng.
Lãi suất trên TTTT tác động đến giá trái phiếu gần như là trực tiếp và ngược chiều.
Tuy nhiên, lãi suất tác động đến giá cổ phiếu là không trực tiếp (vì nó tác động gián
tiếp thông qua hoạt động SXKD) và không luôn luôn là một chiều.
3.1.2. Tỷ giá
Tác động đến những doanh nghiệp xuất khẩu
Khi tỷ giá tăng (VND mất giá) sẽ giúp cho các DNXK gia tăng doanh thu của mình và
thúc đẩy hoạt động XK nhiều hơn cũng như nguồn lợi nhuận đem về nhiều hơn.
Những NĐT cổ phiếu trên TTCK khi nhìn vào tình hình hoạt động SXKD của doanh
14
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
nghiệp tốt sẽ thực hiện mua việc cổ phiếu và qua đó làm tăng giá cổ phiếu của doanh
nghiệp.
Tác động đến những doanh nghiệp nhập khẩu
Khi tỷ giá tăng (VND mất giá) sẽ làm giá thành nguyên vật liệu nhập khẩu tăng lên,
qua đó làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp và làm giảm nguồn lợi nhuận của họ.
Điều này sẽ gián tiếp làm ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp, do đó
làm giảm giá cổ phiếu của họ trên TTCK.
Tác động đến những doanh nghiệp có vay nợ nước ngoài
Khi tỷ giá tăng (VND mất giá) sẽ làm gia tăng gánh nặng nợ cho các doanh nghiệp
thực hiện việc vay nợ nước ngoài vì khi đó họ phải trả chi phí tài chính nhiều hơn, qua
đó làm giảm lợi nhuận cũng như gián tiếp làm giảm giá trị vốn hóa của doanh nghiệp
trên thị trường và điều này sẽ làm giảm giá cổ phiếu của doanh nghiệp.
buộc các Ngân hàng phải tăng lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay.
3.2.2. Sự phát triển của TTCK tác động đến nghiệp vụ thị trường mở của NHTW và
quy mô vốn trên thị trường tiền tệ
Với sự phát triển của TTCK là tăng cầu về chứng khoán làm cầu tiền giảm, người dân
không có nhu cầu mua các giấy tờ có giá trên thị trường mở mà thay vào đó họ muốn
đổi những giấy tờ có giá sang chứng khoán. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc NHTW
bán trái phiếu trên thị trường mở làm cho giá trái phiếu giảm, dẫn đến lãi suất tăng.
Điều này làm cho quy mô vốn trên thị trường tiền tệ bị giảm khi khả năng cho vay của
Ngân hàng bị giảm sút.
3.2.3. Rủi ro mà TTTT gánh chịu từ biến động của TTCK
Đối với những thị trường tài chính phát triển, giữa TTCK và TTTT như hai bình thông
nhau, thể hiện ở việc giá chứng khoán tăng thì lãi suất trên thị trường tiền tệ sẽ giảm,
và giá chứng khoán giảm thì lãi suất sẽ tăng. Bên cạnh đó rủi ro thị trường là rất lớn
như việc rút tiền hàng loạt xảy ra ở các NHTM do bị tung tin thất thiệt, ngân hàng bị
kiểm soát đặc biệt, cũng như sự biến động tỷ giá trong thời gian qua…cho thấy sự non
yếu của TTTT. Điều này làm cho dự trữ của các ngân hàng đột ngột giảm, tình trạng
thiếu vốn xảy ra, làm giảm khả năng ứng phó với các tình huống xấu khi xuất hiện tình
trạng không đủ vốn để hoạt động. Đây là rủi ro lớn nhất mà TTTT gánh chịu khi có sự
biến động trên TTCK.
16
Mối quan hệ tương tác giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn
PHỤ LỤC
Ký hậu thương phiếu là hình thức để chuyển nhượng thương phiếu. Người hưởng lợi
muốn chuyển nhượng thương phiếu cho người khác thì phải ký vào mặt sau của tờ
thương phiếu rồi chuyển thương phiếu cho người đó.
Ý nghĩa pháp lý:
5. Các công cụ trên thị trường vốn, , truy cập ngày 27/09/2015.
18