ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
--------------------
LÊ XUÂN HỒNG
GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TRONG LỄ HỘI
Ở TỈNH NAM ĐỊNH VÀ VIỆC PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ẤY
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 60 22 80
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2011
1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục ……………………………………………………………….
1
Mở đầu ………………………………………………………………...
3
30
1.2. Giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam Định …....
38
1.2.1. Đặc điểm của Nam Định và ảnh hưởng của chúng đối với
giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội hiện nay.…………………….
38
1.2.2. Các lễ hội truyền thống và một số giá trị văn hoá truyền
thống trong lễ hội ở Nam Định ………………………………………..
42
1.2.2.1. Các lễ hội truyền thống ở Nam Định …………………….
42
1.2.2.2. Một số giá trị văn hoá truyền thống trong lễ hội ở Nam
Định ……………………………………………………………………
65
Chương 2. Sự biến đổi các giá trị văn hoá truyền thống trong lễ
hội ở Nam Định và giải pháp phát huy các giá trị ấy hiện nay ........
78
truyền thống …………………………………………………………… 105
2.2.2. Xã hội hoá việc tổ chức các lễ hội theo định hướng của
Đảng và sự quản lý của Nhà nước …………………………………….. 109
2.2.3. Nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tổ
chức và quản lý lễ hội …………………………………………………. 113
2.2.4. Hoàn thiện chính sách, quy chế tổ chức lễ hội của địa
phương ………………………………………………………………… 115
2.2.5. Xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương thức tổ chức lễ hội
phù hợp với nội dung của từng lễ hội và điều kiện cụ thể của địa
phương ………………………………………………………………… 118
Kết luận ……………………………………………………………….
121
Danh mục tài liệu tham khảo ………………………………………..
124
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã
hội, Đảng ta khẳng định: Phát triển kinh tế là trọng tâm, công tác xây dựng
Đảng là then chốt; xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước, Đảng ta đã xác định,
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong tám đặc
trưng cơ bản của chế độ xã hội mới mà chúng ta xây dựng. Một trong những
phần lễ, phần hội bị lạm dụng, còn nhiều lễ hội có khuynh hướng thương mại
hoá, không ít hiện tượng thiếu lành mạnh xuất hiện làm phiền lòng du khách
như dịch vụ khấn thuê, xóc thẻ, bán ấn, xem bói, chèo kéo khách tham gia các
trò chơi cá cược, các dạng cờ bạc… điều này đang làm phai mờ, xói mòn
những giá trị văn hoá truyền thống của các lễ hội.
Thực trạng này đòi hỏi các nhà nghiên cứu cần tiếp tục tập trung làm rõ
những vấn đề về mặt lý luận như: giá trị và hệ giá trị văn hoá truyền thống
Việt Nam; các giá trị văn hoá thể hiện trong các lễ hội truyền thống; cơ sở
khoa học, ý nghĩa lịch sử và giá trị văn hoá để khôi phục và tổ chức lễ hội
truyền thống nói chung, của từng vùng, miền và lễ hội cụ thể nói riêng; đặc
biệt là sự biến đổi của các giá trị văn hoá trong lễ hội truyền thống hiện nay...
Những vấn đề lý luận này đã được hàng trăm nhà nghiên cứu quan tâm ở
nhiều góc độ, phạm vi, mức độ khác nhau và đã có hàng trăm ấn phẩm được
xuất bản. Nó cho thấy sự đa dạng, phong phú trong lĩnh vực văn hoá, có nhiều
vấn đề còn đang được tranh luận trong giới nghiên cứu, thậm chí các quan
điểm của các nhà nghiên cứu đôi khi còn trái ngược nhau. Điều này, chứng tỏ
rằng về mặt lý luận vấn đề này vẫn đang còn mang tính cấp thiết.
5
Về mặt thực tiễn, từ khi ra đời Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về
Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì ở nước
ta đã tổ chức nhiều chương trình hoạt động văn hoá ở các lĩnh vực, cấp độ,
phạm vi với những tính chất, đặc điểm khác nhau. Hầu hết, các cấp, các
ngành, các địa phương đều có chương trình hành động để triển khai Nghị
quyết, trong đó việc khôi phục và tổ chức lễ hội truyền thống được các địa
phương rất quan tâm thực hiện. Nhưng, qua việc tổ chức lễ hội ở các địa
phương những năm qua đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề đòi hỏi phải tính
toán, cân nhắc kỹ lưỡng, có kế hoạch chi tiết, cụ thể về mở lễ hội. Đây là vấn
động và yêu cầu của việc thực hiện cơ chế thị trường, của mở rộng giao lưu
quốc tế càng thu hút các nhà nghiên cứu quan tâm, nhằm xác định những giá
trị cần được kế thừa và phát huy trong điều kiện mới. Các bài báo, công trình
nghiên cứu đã xây dựng được các quan niệm về giá trị và xác định được hệ
giá trị văn hoá truyền thống dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, tiêu biểu
như: Phẩm An Ninh “Quan niệm về giá trị và hệ giá trị văn hoá” Đề tài
KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà, 2009; Hoàng Chí Bảo “Hệ giá trị văn hoá
truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập”, Tạp chí cộng sản, số 5,
2007; Hà Minh Đức “Giá trị văn hoá, nhận thức và chuyển đổi” Tạp chí Viện
văn học, 2009; Lê Thị Lan “Nội dung và vị thế của giá trị truyền thống Việt Nam
trong giá trị nhân loại” Tạp chí triết học, số 7/2001…
- Những nghiên cứu về bảo tồn, phát huy bản sắc và các giá trị văn hoá
truyền thống trong giai đoạn hiện nay đã được các tác giả phân tích sâu sắc về mối
quan hệ biện chứng giữa bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá; về thực trạng của
việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, từ đó đề ra những giải
pháp nhằm bảo tồn và phát huy hiệu quả bản sắc văn hoá Việt Nam. Điển hình là
7
các công trình, bài viết như: Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên), "Xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2004; Nguyễn Văn Huyên “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc” Tạp chí triết học, số 1, 1999; Lê Thị
Tuyết Ba “Vấn đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam” Tạp chí triết học, số 1, 1999; Dương Phú Hiệp “Quan niệm
về mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển hệ giá trị văn hoá truyền thống với tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại” Đề tài KX.03.14/06-10 TP.HCM-Biên Hoà,
2009; Nguyễn Trọng Chuẩn “Văn hoá Việt Nam và sự phát triển lâu bền của
quốc gia” Tạp chí triết học, số 5, 1998…
nay”, Nhà xuất bản Lao động, năm 2009 đã nghiên cứu về thực trạng công tác
tổ chức quản lý các lễ hội cổ truyền ở vùng Thủ đô Hà Nội, nhằm bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hoá truyền thống chống lại những luồng văn hoá
ngoại lai, làm biến dạng bản sắc văn hoá dân tộc.
- Công trình đồ sộ “Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam” của nhiều tác
giả, Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc và Tạp chí văn hoá nghệ thuật, năm 2000
đã khái quát về lịch sử nghiên cứu lễ hội, nêu lên các tiêu chí phân loại lễ hội
và xây dựng phương pháp tiếp cận về lễ hội cổ truyền. Đồng thời, đem lại cái
nhìn tổng quan về lễ hội cổ truyền thông qua việc nghiên cứu 211 lễ hội tiêu
biểu, với cách sắp xếp và nghiên cứu lễ hội gắn với từng vùng văn hoá, đã có
được ý nghĩa lý luận và thực tiễn nhất định trong việc sưu tầm, nghiên cứu lễ
hội cổ truyền ở Việt Nam hiện nay.
- Đề tài khoa học “Lễ hội và các giải pháp quản lý lễ hội trên địa bàn
tỉnh Nam Định” do Sở Văn hoá thông tin tỉnh Nam Định chủ trì, chủ nhiệm
đề tài Nguyễn Văn Bút - Phó Giám đốc Sở VHTT Nam Định, thực hiện năm
2007 là công trình nghiên cứu khá đồ sộ, chuyên sâu về lễ hội của tỉnh Nam
Định. Đề tài đã nghiên cứu, khảo sát các lễ hội ở Nam Định một cách có hệ
9
thống, chọn lọc đưa ra nhận định khách quan về các lễ hội, nghiên cứu, khảo
tả chi tiết các lễ hội điển hình, đề tài cũng đã chỉ ra những mặt tích cực và tồn
tại trong tổ chức và quản lý lễ hội, từ đó khuyến nghị một số giải pháp cụ thể
về tổ chức và quản lý lễ hội ở Nam Định hiện nay.
Các công trình, tác phẩm đã đi sâu về mặt lý luận, phương pháp nghiên
cứu và xây dựng được những quan niệm về giá trị, hệ giá trị văn hoá truyền
thống, đã trình bày hệ thống các lễ hội truyền thống, những giá trị văn hoá của
nhiều lễ hội trên cả nước. Qua đó, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra một số
biến đổi của lễ hội và giá trị văn hoá của lễ hội. Song, việc nghiên cứu dưới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Với mục đích và nhiệm vụ đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối
tượng nghiên cứu là các giá trị văn hoá trong lễ hội truyền thống ở Nam
Định dưới góc độ triết học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Luận văn tập trung nghiên cứu các lễ hội truyền thống tiêu biểu ở Nam
Định do chính quyền và nhân dân địa phương tổ chức trong giai đoạn hiện
nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở lý luận.
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về văn hoá, bản sắc văn hoá, giá trị văn hoá
truyền thống.
11
Luận văn kế thừa kết quả của các công trình, đề tài nghiên cứu liên
quan đến nội dung được đề cập trong luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, làm rõ các vấn đề; đồng thời kết hợp
sử dụng các phương pháp: lịch sử và lôgic; phân tích và tổng hợp; quy nạp và
diễn dịch; điều tra thực tế, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá... nhằm đạt
mục đích và nhiệm vụ mà luận văn đã đề ra.
6. Đóng góp mới về khoa học và ý nghĩa của luận văn.
Luận văn làm rõ một số giá trị văn hoá truyền thống trong các lễ hội ở
Nam Định, phân tích thực trạng sự biến đổi của các giá trị văn hoá ấy; bước
đầu đề xuất một số giải pháp định hướng phát huy hơn nữa các giá trị văn hoá
thuộc thế giới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc
toàn bộ xã hội nói chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản
thân các thuộc tính tự nhiên, mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn)
của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt động sống của con người,
phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các chuẩn
mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu hiện trong
các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và mục
đích. [40, tr 72]
Trong tài liệu Giáo dục giá trị của Bộ giáo dục thể thao Philippin khái
niệm giá trị được hiểu là: Một vật có giá trị khi nó được thừa nhận là có ích và
13
cần có; tiền bạc và nhà cửa có giá trị vì chúng được công nhận là có ích, và
việc mong muốn có được những thứ đó đã ảnh hưởng đến thái độ và hành vi
của con người. Không chỉ có hàng hoá vật chất mà cả lý tưởng và những khái
niệm đều có giá trị như “sự thật”, “lương thiện” và “công lý” [40, tr 73]
V.E.Đaviđôvích thì quan niệm rằng, “giá trị, sự đánh giá, cái được ưa
thích, cái được mong đợi, cái được chờ đợi, nội dung tốt - tất cả những điều
đó nói lên một cái gì đó tích cực đối với con người và đời sống của con
người” [40, tr 73]
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, song cách tiếp cận giá trị từ góc độ
triết học được xem là có tính khái quát nhất.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử, tính
nhận thức được và tính thực tiễn của giá trị. Giá trị là những hiện tượng xã hội
đặc thù và nguồn gốc của mọi giá trị đều từ quá trình lao động sáng tạo của
con người. Giá trị không phải là ý niệm về sự vật hay chuẩn mực chủ quan về
sự vật mà là những hiện tượng xã hội hiện thực có ý nghĩa hiện thực đối với
con người. Song, giá trị bao giờ cũng được xác định trong mối quan hệ giữa
Vì vậy, giá trị là một phạm trù biểu hiện trình độ văn minh, sức sáng tạo và
năng lực vươn lên của con người trong quá trình chinh phục giới tự nhiên, cải
biến xã hội và chính mình.
Cũng từ góc độ triết học còn cho thấy, giá trị của mỗi cộng đồng, dân
tộc bao giờ cũng tạo thành một hệ thống các giá trị, chúng nảy sinh, tồn tại,
biến đổi trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau. Trong những hoàn cảnh
lịch sử - xã hội cụ thể của mỗi cộng đồng, dân tộc lại luôn tồn tại hệ giá trị
tổng quát (gồm những giá trị chung nhất, mang tính phổ quát, có vai trò định
hướng đối với mọi hoạt động của cả cộng đồng, dân tộc) và hệ giá trị bộ phận
(là những giá trị được đúc rút trong từng lĩnh vực của đời sống và có vai trò
định hướng trong từng lĩnh vực riêng lẻ ấy)
15
Từ những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu còn tiến hành
phân loại các giá trị dựa trên các tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào sự thoả mãn nhu cầu vật chất hay tinh thần giá trị được
phân thành 3 dạng: giá trị vật chất, giá trị tinh thần và giá trị vật chất - tinh
thần.
- Theo chiều dài lịch sử giá trị được chia thành giá trị truyền thống và
giá trị hiện đại.
- Nhìn từ nhu cầu xã hội, hệ thống giá trị được phân loại dựa vào các
lĩnh vực nhu cầu khác nhau của đời sống con người: giá trị thuộc về mặt sinh
học; giá trị kinh tế; giá trị tri thức; giá trị tâm linh; giá trị chính trị.
Ngoài ra còn có những giá trị chung cho toàn nhân loại, có những giá
trị riêng của một cộng đồng, dân tộc hay của cá nhân; có những giá trị nội
sinh và có những giá trị ngoại nhập…
Đến nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra những
khái niệm khác nhau về giá trị. Mặc dù cách tiếp cận, mục đích và ngôn từ
khuôn mẫu cho mọi hoạt động của con người, vì mỗi cá nhân để hoàn thiện
nhân cách của mình đều cần đối chiếu những mục đích, nhu cầu của mình với
hệ giá trị đã được hình thành.
Như vậy, dưới góc độ triết học giá trị “là một phạm trù triết học dùng
để chỉ ý nghĩa tích cực của các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ… (cả
vật chất lẫn tinh thần) đối với một cá nhân, một cộng đồng, một giai cấp, một
xã hội hay toàn thể nhân loại trong một điều kiện lịch sử cụ thể. Điều đó cũng
có nghĩa là, các sự vật, hiện tượng, quá trình, quan hệ… có thể được coi là có
giá trị khi chúng có khả năng thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần
mang tính tích cực, lành mạnh của con người” [40, tr 75].
17
Văn hoá là một hiện tượng xã hội rất đa dạng, phong phú và phức tạp.
Thuật ngữ “văn hoá” xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ nhân loại. Nó bắt
nguồn từ gốc chữ la tinh “cultura” - có nghĩa là canh tác, nuôi dưỡng, giáo
dục, phát triển, tôn trọng. Các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đã đưa ra
hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hoá, do chỗ khái niệm văn hoá có nội
hàm rất rộng, chứa đựng nhiều sắc thái, nhiều nội dung khác nhau. Trải qua
các thời kỳ lịch sử, khái niệm văn hoá được bổ sung thêm nhiều nội dung
mới. Song, dù tiếp cập văn hoá dưới góc độ nào thì “mọi người đều dễ dàng
đồng ý với nhau rằng văn hoá là cái chỉ có ở con người, ở các cộng đồng
người, ở các dân tộc, không kể là lạc hậu hay tiên tiến” [7, tr 7]. Văn hoá là
phạm trù Người, nó chỉ toàn bộ đời sống con người trong mối quan hệ với
thiên nhiên và quan hệ với nhau trong xã hội, ở đó kết tinh toàn bộ những giá
trị, phương thức sống, năng lực hoạt động và trình độ phát triển của chính con
người. Với nghĩa rộng nhất văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
hoá có các chuẩn mực nhưng không hoàn toàn là một, giữa chúng được phân
biệt với nhau theo tiêu chí thời gian. Giá trị văn hoá có tính lịch sử (gồm các
giá trị do con người sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại) trong khi chuẩn
mực là những giá trị mà con người hướng tới trong hiện tại và tương lai. Như
vậy, “Giá trị văn hoá đối lập với giá trị tự nhiên và bao gồm tất cả các loại giá
trị đạo đức, giá trị kinh tế, giá trị pháp lý, giá trị ký hiệu học, giá trị toán học,
v.v..., vì mọi giá trị và hệ giá trị do con người sáng tạo ra đều thuộc văn hoá
cả rồi” [47, tr 100].
Giá trị văn hoá biểu hiện ở nhiều loại giá trị khác, bởi lẽ bên cạnh giá
trị đặc thù của mỗi lĩnh vực còn có những chuẩn mực chung để điều chỉnh
hành vi, định hướng hoạt động của con người trong việc ứng xử với môi
trường, ứng xử với xã hội và chính mình, nhờ đó con người thoả mãn được
19
nhu cầu trong lĩnh vực nhất định để góp phần vươn tới sự hoàn thiện. Nói
cách khác giá trị văn hoá là một “thấu kính” phản chiếu mọi chiều cạnh của
đời sống xã hội, nó có trong toàn bộ các quan hệ của con người với tự nhiên,
với xã hội. Cho nên, văn hoá và giá trị văn hoá là những gì còn đọng lại sau
khi người ta đã quên đi những cái khác và nó là cái khiến con người theo đuổi
không mệt mỏi. Cái còn lại, cái khiến con người theo đuổi chính là cái tinh
tuý - cái thăng hoa bản chất - linh hồn xã hội, làm cho chúng trở thành bản sắc
của dân tộc, đặc trưng của xã hội, diện mạo Người của mỗi cá nhân.
Giá trị văn hoá là hạt nhân, là cái tinh tuý nhất chứa đựng trong các
hiện tượng văn hoá. Giá trị văn hoá do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra
trong lịch sử, biểu hiện năng lực sáng tạo, năng lực lựa chọn của con người và
một khi hệ giá trị văn hoá được hình thành thì nó lại có vai trò định hướng
cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong xã hội ấy.
Đối với mỗi cộng đồng dân tộc, giá trị văn hoá là một thuộc tính cơ bản
bản sắc văn hoá của dân tộc ấy.
Truyền thống là một từ Hán - Việt, được sử dụng khá phổ biến trong
tiếng Việt hiện nay. Khái niệm này đã có nhiều định nghĩa khác nhau. Khi nói
đến truyền thống người ta thường nghĩ ngay đến những thói quen, tục lệ được
lặp lại nhiều lần và được truyền qua nhiều thế hệ. “Đó là những yếu tố của di
tồn văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục,
tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người trong
lịch sử và đã trở thành ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được
lưu giữ lâu dài” [8, tr 9]. Theo quan điểm này, cái được gọi là truyền thống
chỉ khi nào nó trở thành một bộ phận thiết yếu, bảo tồn và có khả năng phát
triển cuộc sống của chúng ta. Truyền thống có thể được xem xét trên ba khía
cạnh: “truyền thống như là một phần của cuộc sống, truyền thống như là
21
phương tiện để bảo tồn cuộc sống và truyền thống như là sức mạnh định
hướng phát triển cuộc sống” [8, tr 24].
Các nhà nghiên cứu đồng ý với nhau rằng: truyền thống là cái được
hình thành dần dần qua hoạt động lịch sử của con người, sau khi được hình
thành nó có tính ổn định tương đối; truyền thống bắt nguồn từ lịch sử nhưng
không phải mọi cái thuộc lịch sử đều là truyền thống. Do điều kiện lịch sử xã hội luôn vận động, biến đổi nên những truyền thống được hình thành ở đó
cũng không thể bất biến. Mỗi khi hoàn cảnh lịch sử - xã hội thay đổi thì cũng
có những sự biến đổi của truyền thống, vừa kế thừa và loại bỏ, vừa bổ sung và
phát triển. Quá trình ấy, truyền thống vẫn giữ lại những yếu tố nhân lõi bên
trong của nó. Song phải thừa nhận rằng, tính trội của truyền thống là bền
vững, bảo thủ, chậm thay đổi so với hoàn cảnh lịch sử - xã hội. Vì vậy, trong
mỗi thời điểm nhất định thì truyền thống bao giờ cũng mang tính hai mặt: mặt
tích cực và mặt tiêu cực. Có những truyền thống tích cực tạo ra sức mạnh cho
dân tộc, song lại có những truyền thống tiêu cực cản trở sự phát triển của của
mặt tiêu cực, có thể thúc đẩy và có thể kìm hãm sự phát triển xã hội. Còn giá
trị thì lại bao gồm các giá trị cũ được tạo ra trong lịch sử và các giá trị mới
được tạo ra trong hiện tại. Do vậy, giá trị truyền thống không bao gồm tất cả
mọi truyền thống và mọi giá trị. Nói cách khác, không thể đồng nhất truyền
thống hoặc giá trị với giá trị truyền thống. Khi nói đến giá trị truyền thống là
chỉ nói tới những truyền thống tốt đẹp “tạo nên các giá trị và bản sắc riêng cần
phải được duy trì, bảo tồn và phát triển”, nghĩa là “những truyền thống nào đã
có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt bởi thời gian, đã có sự chọn
lọc, sự phân định và sự khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng
đồng trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [8, tr 10].
Để thẩm định một giá trị truyền thống nào đó đương nhiên không thể
23
dựa vào ý muốn chủ quan, duy ý chí của một ai đó. Sự thẩm định đó trước hết
phải dựa trên cơ sở khách quan, tức là phải xuất phát từ cội nguồn lịch sử đã
qua, từ những đòi hỏi của thực tiễn, trên nền tảng kinh tế, xã hội, khoa học,
công nghệ và đời sống tinh thần của con người tại thời điểm thẩm định. Bên
cạnh sự thẩm định khách quan thì vai trò tích cực của nhân tố chủ quan nhằm
bảo vệ các chân giá trị và ngăn chặn các phản giá trị của truyền thống cũng
hết sức quan trọng. Chỉ những truyền thống nào được thẩm định như vậy mới
trở thành giá trị truyền thống, nó sẽ tồn tại và phát huy tác dụng lâu dài. Cũng
cần phải phân biệt những giá trị truyền thống với những giá trị nhất thời, có
tác dụng trong phạm vi hẹp; với các giá trị đang phai nhạt dần hoặc đã lỗi thời
và với cả những cái đang hình thành. Phân biệt được điều này mới thấy rõ to
lớn của những giá trị truyền thống.
Giá trị truyền thống của một cộng đồng, dân tộc không phải tự nhiên
sẵn có, mà đó là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa được chắt lọc, cô đúc nên từ tất
cả các di sản truyền thống trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc. “Toàn bộ
của văn hoá. Qua hai quan điểm này, chúng ta thấy có điểm tương đồng trong
sự phân biệt giữa văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá đó là văn hoá
truyền thống là chỉ cái toàn bộ, cái chứa đựng còn truyền thống văn hoá là cái
bộ phận, cái được chứa đựng.
Ngoài ra, mỗi khái niệm văn hoá truyền thống và truyền thống văn hoá
cũng được các nhà nghiên cứu sử dụng nhằm phản ánh những nội dung lý
luận và thực tiễn khác nhau:
- Văn hoá truyền thống là khái niệm được dùng trước hêt để phân biệt
với cái được gọi là văn hoá mới, văn hoá hiện đại và thường để chỉ toàn bộ hệ
thống, cấu trúc văn hóa của những xã hội nông nghiệp hoặc tiền công nghiệp.
Văn hoá truyền thống với tính cách là danh từ, mang tính chất định danh
nhằm xác định về một nền văn hóa, một cấu trúc văn hoá được hình thành
25