Bài giảng Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng - Pdf 34

1

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG
1.1 Tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng.
Có nhiều định nghĩa và khái niệm về tỷ suất sinh lợi, tỷ suất sinh lợi là khái
niệm được sử dụng cho nhiều tình hình khác nhau trong kinh tế học, nói về những
khoản tiền thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra lãi hay số chi phí đã tiêu
hao để sinh ra lãi. Tỷ suất sinh lợi được biểu hiện bằng: Tỷ suất sinh lợi của vốn, tỷ
suất sinh lợi của giá thành…; Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, khả
năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài
chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ để tạo ra các khoản lợi nhuận
cho doanh nghiệp; “Tỷ số sinh lợi là chỉ số đo lường thu nhập của công ty với các
nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phần” (Trần Trọng
Thơ, 2007, 128).
Từ những nội dung trên tác giả đúc kết tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là:
khoản lãi thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra khoản lãi đó hay chi phí đã
tiêu hao để sinh ra khoản lãi đó. Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng được biểu hiện
bằng: tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu
nhập lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên…
1.2 Các chỉ tiêu đo lƣờng tỷ suất sinh lợi của Ngân hàng
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA
ROA = Lợi nhuận ròng /Tổng tài sản bình quân
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. ROA là
một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý, nó chỉ ra khả năng của hội đồng
quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập
ròng. Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả
hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng. Hiệu


2

năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng
trưởng của các nguồn thu so với mức tăng chi phí.
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên NNIM
NNIM = (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi) /Tài sản sinh lãi
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu
ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân
hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị, và chi phí tổn
thất tín dụng).
Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh
lợi được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau. Để xác định các yếu tố tác động
đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng đa số các tác giả nước ngoài cũng như trong nước
thường đo lường bằng hai chỉ tiêu là lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân
(ROA) và lợi nhuận ròng trên tổng vốn chủ sở hữu bình quân (ROE) vì ưu điểm của
chỉ số ROA và ROE là tương đối đơn giản, dễ tính toán và mang tính tổng quát cao
so với các chỉ số khác. Trong bài luận văn này tác giả sẽ lấy hai chỉ số ROA và
ROE để làm biến phụ thuộc đại diện cho tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng niêm
yết.
1.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lợi
Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thường được đo bằng lợi nhuận ròng trên tổng
tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE), chúng bị tác động bởi
các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố tác động bên trong bao gồm các biến
đặc thù của từng ngân hàng như quy mô ngân hàng, vốn của ngân hàng, dư nợ cho
vay, tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng… Các biến bên ngoài bao gồm các biến vĩ
mô của môi trường kinh tế sẽ tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng như: tốc
độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, thuế, tỷ giá…
1.3.1 Các yếu tố bên trong


4


Đặc thù của các ngân hàng là sử dụng đòn bẩy tài chính cao, và chức năng
chính của ngân hàng là trung gian tài chính đóng vai trò luân chuyển nguồn vốn từ
nơi dư thừa vốn đến nơi thiếu nguồn vốn, vì thế nguồn vốn huy động đóng vai trò
quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Ponce (2012) cho rằng sự gia tăng tiền
gửi của khách hàng sẽ giúp cho ngân hàng chủ động trong việc tìm kiếm nguồn vốn
đầu vào cho ngân hàng từ đó có thể gia tăng dư nợ và đầu tư vào các kênh khác
nhau làm gia tăng tỷ suất sinh lợi của ngân hàng.
1.3.1.4 Dƣ nợ tín dụng
Dư nợ tín dụng cao rõ ràng lợi nhuận thu về từ việc cho vay sẽ cao hơn nếu
kiểm soát rủi ro tín dụng tốt. Sufian và Habibullah (2009) đã nghiên cứu thực
nghiệm tại các ngân hàng của Bangladesh và đã cho thấy rằng mối quan hệ cùng
chiều giữa việc gia tăng dư nợ tín dụng và tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại
Bangladesh. Nghiên cứu còn cho thấy việc gia tăng dư nợ còn có các tác động tích
cực khác là chiếm lĩnh thị phần, gia tăng sự nhận biết của khách hàng về ngân hàng.
Tuy nhiên, trước sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thì việc gia tăng thị phần
phải đi đôi với việc quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả.
1.3.1.5 Rủi ro tín dụng
Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều cho rằng rủi ro tín dụng là một trong
những biến số quan trọng trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất
sinh lợi của ngân hàng. Điển hình là nghiên cứu của Athanasoglou và các cộng sự
(2005) đã cho thấy rằng sự thay đổi của biến rủi ro tín dụng là lý do chính trong
việc giải thích các biến động trong tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, tỷ suất sinh lợi
của ngân hàng sẽ giảm khi rủi ro tín dụng tăng lên. Davydenko (2011) cũng cho
thấy tỷ suất sinh lợi của ngân hàng có mối quan hệ nghịch biến với rủi ro tín dụng.
Mối quan hệ nghịch biến phản ánh điều đó khi danh mục cho vay của các ngân hàng
trở nên rủi ro, các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều hơn làm cho lợi


6


Một mức lãi suất cho vay phù hợp sẽ vừa kích thích nhu cầu vay của khách hàng
vừa mang lại lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng. Nếu lãi suất cho vay quá cao sẽ gây
bất lợi cho khách hàng và cả nền kinh vì thế lãi suất cho vay cũng là một trong
những biến có tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Theo nghiên cứu của
Obamuyi (2013) thì lãi suất cho vay tác động tích cực đến lợi nhuận và tỷ suất sinh
lợi của các ngân hàng tại Nigeria.
1.3.3 Các yếu tố khác
1.3.3.1 Hình thức sở hữu ngân hàng
Hình thức sở hữu ngân hàng là chủ thể nắm quyền sở hữu và điều hành của
ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân. Nghiên cứu của Short (1979) cho thấy
một mối quan hệ nghịch chiều giữa tỷ suất sinh lợi của ngân hàng và quyền sở hữu
của Nhà nước đối với các ngân hàng. Bourke (1989) đã thử nghiệm tác động của
yếu tố sở hữu Nhà nước lên tỷ suất sinh lợi của ngân hàng bằng cách sử dụng một
biến nhị phân đại diện cho quyền sở hữu của Nhà nước, kết quả cho thấy mối quan
hệ ngược chiều với nhau. Kết quả cũng cho thấy rằng chi phí quản lý nhân viên
trong nhóm các ngân hàng quốc doanh là không hiệu quả và năng suất lao động của
các ngân hàng tư nhân là cao hơn so với các ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước.
1.3.3.2 Mức độ tập trung của thị trƣờng ngành ngân hàng
Theo giả thiết cấu trúc – vận hành - hiệu quả (Structure- ConductPerformance) thì các ngân hàng có thể tận dụng sức mạnh thị trường của mình để
kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Vì có lợi thế về sức mạnh trong thị trường nên các
ngân hàng này có thể tăng lãi suất cho vay giảm lãi suất huy động từ đó làm tăng lợi
nhuận lên. Nghiên cứu của Bourke (1989) cho rằng mức độ tập trung trong lĩnh vực
ngân hàng có quan hệ cùng chiều với tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Các ngân hàng
có thể liên kết với nhau tạo ra lợi ích nhóm, lợi ích nhóm có thể gây hại cho khách
hàng và các đối thủ cạnh tranh khác khó có thể tham gia vào thị trường hơn.


8

1.4 Sự cần thiết nghiên cứu tác động của các yếu tố đến tỷ suất sinh lợi của

Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thường được đo bằng lợi nhuận ròng trên tổng
tài sản (ROA) và lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) và chúng bị tác động
bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài. Các yếu tố tác động bên trong bao gồm các
biến đặc thù của từng ngân hàng như quy mô ngân hàng, vốn của ngân hàng, dư nợ
cho vay, tiền gửi khách hàng, rủi ro tín dụng, chi phí… Các biến bên ngoài bao gồm
các biến vĩ mô của môi trường kinh tế sẽ tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân
hàng như: tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, thuế, tỷ giá…
Athanasoglou và các cộng sự (2005) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng ở Hi Lạp trong khoảng thời gian từ 1985 đến
2001, sử dụng phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments).
Kết quả cho thấy rằng quy mô vốn ngân hàng, kinh nghiệm quản lý điều hành, lạm
phát, chu kỳ kinh tế (business cycle) có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của
ngân hàng, trong khi đó rủi ro tín dụng và chi phí quản lý lại có tác động tiêu cực
đối với tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng tại Hi Lạp.
Rajesh và Sakshi (2009) đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh
lợi của các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước, tư nhân và nước ngoài tại Ấn Độ
trong giai đoạn 2001 đến 2007. Sau khi phân tính hồi quy tác giả đưa ra kết luận là
thu nhập bình quân đầu người, chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số giá bán buôn,
xuất khẩu và tỷ giá hối đoái có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lợi của các ngân
hàng tại Ấn Độ. Trong khi đó tiền gửi, quy mô ngân hàng không tác động đến tỷ
suất sinh lợi các ngân hàng thuộc sở hữu của nhà nước và có tác động tích cực đến
các ngân hàng tư nhân và các ngân hàng nước ngoài tại Ấn Độ.
Andreas và Gabrielle (2010) nghiên cứu các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh
lợi của 453 ngân hàng tại Thụy Sĩ trong khoảng thời gian năm 1999 đến 2006.
Nghiên cứu cho thấy rằng ngân hàng có vốn lớn hơn và tỷ lệ tăng trưởng dư nợ tín
dụng nhanh hơn tỷ lệ tăng trưởng tín dụng chung của ngành sẽ có ảnh hưởng tích
cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Độ tuổi (bank age) của ngân hàng thì không
có ảnh hưởng gì đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng tuy nhiên yếu tố vùng miền





11

trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tại các ngân hàng ở Thái Lan tuy nhiên tỷ suất sinh
lợi lại có quan hệ ngược chiều với GDP trên đầu người.
Davydenko (2011) nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng ở
Ukraina. Davydenko sử dụng dữ liệu bảng trong khoảng thời gian từ 2005 đến
2009. Kết quả cho thấy, các ngân hàng bị một cú sốc lớn đánh vào chất lượng các
khoản cho vay đã làm cho các ngân hàng ở Ukraina không có khả năng tái tạo lại
lợi nhuận của họ dựa trên sự tăng trưởng lượng tiền gửi. Thế nên các biến rủi ro tín
dụng, thanh khoản, tiền gửi, lạm phát và biến giả (dummy) ngân hàng nước ngoài
tất cả đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Không chỉ có
các tác động tiêu cực, ông còn phát hiện ra những tác động tích cực đến tỷ suất sinh
lợi của các ngân hàng tại Ukraina đó là vốn, quy mô, tỷ giá và mức độ tập trung
trung của thị trường ngân hàng.
Sufian (2011) đã nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất
sinh lợi của các ngân hàng Hàn Quốc trong suốt giai đoạn 1992 đến 2003 ông ấy đã
tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống ngân hàng của Hàn Quốc. Tính
thanh khoản và các yếu tố vĩ mô đặc biệt là lạm phát có tác động đáng kể tới tỷ suất
sinh lợi của ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh
lợi. Ngoài ra quan sát của tác giả thấy rằng các yếu tố trên ảnh hưởng mạnh đến tỷ
suất sinh lợi trước giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997.
Alper và Anbar (2011) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố
ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của 10 ngân hàng thương mại tại Thổ Nhĩ Kỳ trong
giai đoạn từ năm 2002 đến 2010. Họ đã đi đến kết luận quy mô ngân hàng có ảnh
hưởng tích cực đến tỷ suất sinh lợi, ngân hàng có quy mô càng lớn thì tỷ suất sinh
lợi càng cao. Các biến còn lại như: thanh khoản, tiền gửi, tỷ lệ an toàn vốn và thu
nhập lãi thuần không tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Tuy nhiên, biến
dư nợ tín dụng và các khoản vay dưới chuẩn tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi

khoán thành phố Hồ Chí Mình (HOSE) và Hà Nội (HNX) tại Việt Nam thông qua
việc ước lượng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là tỷ suất lợi nhuận tính trên tài
sản ROA và tỷ suất lợi nhuận tính trên vốn chủ sở hữu ROE với các biến độc lập


13

tiền gửi khách hàng, vốn cổ phần, dư nợ cho vay, dự phòng rủi ro tín dụng và cấp
độ rủi ro là các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết trên cở
sở hệ thống dữ liệu thứ cấp (báo cáo tài chính) thu thập từ 6 ngân hàng giai đoạn
2005 đến 2010 gồm có ngân hàng ACB, Eximbank, Sacombank, Vietcombank,
Vietinbank, SHB. Kết quả ước lượng cho thấy tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng
niêm yết chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tiền gửi khách hàng, cấp độ rủi ro và dư nợ
tín dụng. Biến độc lập tiền gửi khách hàng có mối tương quan thuận với ROA và
ROE điều này khẳng định tiền huy động là một trong những yếu tố quyết định đến
tỷ suất sinh lợi của ngân hàng cao hay thấp. Biến độc lập vốn cổ phần và dự phòng
rủi ro tín dụng không ảnh hưởng đến ROA và ROE, điều này phù hợp với thực tế tại
Việt Nam thì năm 2010 các ngân hàng tăng vốn rất nhanh nhưng lợi nhuận và tỷ
suất sinh lợi thậm chí không cao hơn các năm trước. Biến độc lập dư nợ tín dụng có
quan hệ tương quan nghịch với cả ROA và ROE, điều này cho thấy hoạt động cho
vay của ngân hàng còn tồn tại nhiều yếu kém, tỷ lệ nợ xấu cao. Biến cấp độ rủi ro
ngân hàng không có ý nghĩa thống kê đối với ROA nhưng có có ý nghĩa thống kê và
tương quan thuận với ROE điều này cho thấy ngân hàng đã sử dụng đòn bẩy tài
chính cao để tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông.
Tóm tắt các yếu tố tác động theo các công trình nghiên cứu tại phụ lục
1.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Như các yếu tố đã được tác giả xác định, để đo lường mức độ ảnh hưởng của các
yếu tố nội tại của các ngân hàng và yếu tố vĩ mô lên tỷ suất sinh lợi của các ngân
hàng niêm yết tại Việt Nam, tác giả dự kiến sử dụng mô hình nghiên cứu sau:
TSSLit = α + β1SIZEit + β2CAit + β3DEit + β4LOit + β5PLit + β6GDPit + β7INFit +


GDPit: là tốc độ tăng trưởng GDP tại thời điểm t

-

INFit: là tỷ lệ lạm phát tại thời điểm t

-

LIit: là lãi suất cho vay tại thời điểm t

-

α: là tung độ gốc

-

β: là hệ số tương quan

-

ε it: là sai số hồi quy

Biến phụ thuộc là: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA và tỷ suất sinh lợi
trên vốn chủ sở hữu ROE
Biến độc lập là: Quy mô ngân hàng SIZE, quy mô vốn chủ sở hữu CA, tiền
gửi khách hàng DE, dư nợ tín dụng LO, rủi ro tín dụng PL, tốc độ tăng trưởng GDP,
tỷ lệ lạm phát INF và lãi suất cho vay LI.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Nam (Eximbank - EIB), ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank STB), ngân hàng TMCP Á Châu (ACB), ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB).
Ngoài ra các ngân hàng niêm yết còn có ngân hàng TMCP Quốc Dân (trước kia là
ngân hàng TMCP Nam Việt - NVB) quy mô của ngân hàng này khá nhỏ so với các
ngân hàng trên nên tác giả sẽ không đề cập đến ngân hàng này. Ngân hàng thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV chuyển đổi từ Ngân hàng Đầu tư
và Phát triển Việt Nam 100% vốn Nhà nước thành ngân hàng TMCP vào ngày
23/4/2012 và đến ngày 24/1/2014 cổ phiếu ngân hàng này mới được niêm yết, bài
luận văn của tác giả thực hiện trong giai đoạn từ năm 2007 – 2013 nên tác giả sẽ
không đưa ngân hàng BIDV vào bài luận văn.


17

Bảng 2.1: Tóm tắt một số thông tin về các ngân hàng niêm yết

Tên Ngân
Hàng

Sàn
Niêm
Yết

Ngày Niêm
Yết

Tổng Tài
Sản
31/12/2013
(tỷ VNĐ)



180,432

11,256

Eximbank

HOSE

27/10/2009

169,913

12,355

Sacombank

HOSE

12/7/2006

161,377

12,425

ACB

HNX

16/07/2009


Biểu đồ 2.1: Tăng trƣởng GDP và của các khu vực kinh tế

Nguồn: Tổng cục thống kê
Với tốc độ tăng trưởng GDP khá cao 8,46% vào năm 2007 bước qua năm
2008, kinh tế thế giới trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất kể từ cuộc suy
thoái năm 1929. Nền kinh tế Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, với tăng trưởng GDP chậm lại chỉ còn 6,31% năm 2008.
Mặc dù giảm thêm xuống mức 5,32% vào năm 2009, nền kinh tế Việt Nam vẫn là
nền kinh tế phục hồi tốt nhất trong khu vực. Nền kinh tế Việt Nam đã mạnh lên và
tiếp tục tạo ấn tượng so với các nước châu Á trong năm 2010, với tỷ lệ tăng trưởng
GDP đạt 6,78% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nền kinh tế sau đó đã tăng
trưởng chậm lại ở mức 5,89% năm 2011, 5,1% năm 2012 và 5,42% năm 2013.
Đóng góp chính cho mức tăng của GDP vẫn đến từ khu vực dịch vụ trong khi khu
vực công nghiệp và xây dựng ghi nhận mức tăng 5,43% thấp hơn mức 5,75% của
năm 2012, còn lại là nông nghiệp. Dấu hiệu thoát đáy của nền kinh tế đã trở nên rõ
ràng với sự phục hồi tốt của lĩnh vực sản xuất.


19

Biểu đồ 2.2: Tăng trƣởng GDP và Lạm phát

Tăng trƣởng GDP và Lạm phát
25%
23,12%
18,58%

20%



5,10%

5,42%

2012

2013

0%
2007

2010

2011

Nguồn: Tổng cục thống kê
Tỷ lệ lạm phát tăng rất nhanh từ 8,3% vào năm 2007 lên 23,12% vào năm
2008 do cuộc khủng hoảng giá lương thực và giá dầu toàn cầu gây ra lạm phát cao ở
Việt Nam. Trước tình hình lạm phát ở mức cao năm 2008, NHNN đã thực hiện
chính sách tiền tệ thắt chặt trong sáu tháng đầu năm. Tuy nhiên, việc thắt chặt tiền
tệ không thể kéo dài trước nguy cơ kinh tế suy thoái do chịu ảnh hưởng từ cuộc
khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu. Từ tháng 09/2008, NHNN đã thực hiện
chính sách tiền tệ linh hoạt hơn bao gồm việc cắt giảm lãi suất huy động. Lãi suất
cơ bản, lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn giảm xuống chỉ còn 8,5%, 7,5%,
và 9,5% vào cuối năm 2008. Lãi suất cho vay cao nhất giảm xuống chỉ còn 12,75%
và lãi suất huy động cũng hạ xuống quanh mức 8%/năm. Ngoài ra, chính phủ đã
tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 143 nghìn tỷ đồng, một phần trong gói kích
thích này đã được sử dụng trong chương trình hỗ trợ lãi suất cho vay. Chương trình


21

Bảng 2.2 Tóm tắt các văn bản pháp luật quan trọng
VĂN BẢN

NỘI DUNG

Luật 46/2010/QH12

Luật ngân hàng nhà nước Việt Nam

Luật 47/2010/QH12

Luật Các tổ chức tín dụng

Nghị định 59/2009/NĐ-CP

Quy định về tổ chức và hoạt động của ngân hàng
thương mại
Quy định về tổ chức và hoạt động của chi nhánh

Nghị định 22/2006/NĐ-CP

ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân
hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ
chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam.

Nghị định 05/2010/NĐ-CP
Quyết định 254/QĐ-TTg
Nghị định 141-2006-NĐ-CP

nghiệp vụ thị trường mở ban hành theo Quyết định
01/2007/QĐ-NHNN ngày 05/01/2007.


22

Thông tư 13/2010/TT-

Thông tư quy định tỷ lệ an toàn trong hoạt động

NHNN

của các tổ chức tín dụng

Quyết định 493/2005/QĐNHNN

Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng

Quyết định 780/QĐ-NHNN

Quy định về phân loại nợ với nợ được điều chỉnh
kỳ hạn, gia hạn nợ
Quy định về phân loại tài sản có, mức trích,

Thông tư 02/2013/TT-

phương pháp lập và sử dụng dự phòng rủi ro của


dụng

Thông tư 09/2014/TT-

Sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số

NHNN

02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013
Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ các văn bản của NHNN

Theo nghị định 141/2006/NĐ-CP, hết năm 2008 các ngân hàng thương mại cổ
phần phải đạt mức vốn điều lệ tương đương mức vốn pháp định được quy định tại
nghị định này là 1.000 tỷ đồng và hết 2010 là 3.000 tỷ đồng. Tuy nhiên mới chỉ tới


23

gần 10 đơn vị mới đạt mức vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng vào cuối 2009, muộn hơn một
năm so với quy định tại Nghị định 141.
Nghị định 10/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 141/2006/NĐ-CP, quy định mức
vốn điều lệ cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đến hết ngày 31/12/2011 là
3.000 tỷ đồng. Đến tháng 2 năm 2011, vốn điều lệ của các ngân hàng đã dần thấy có
biến chuyển tăng trên hoặc ở mức 3.000 tỷ đồng. Việc phải tăng vốn điều lệ trong
thời gian quá ngắn khiến các tổ chức tín dụng gặp khá nhiều khó khăn trong việc
tăng vốn.
Quyết định số 254/QĐ-TTg về đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng
giai đoạn 2011 – 2015. Qua đó NHNN tiến hàng đánh giá, xác định thực trạng hoạt
động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các TCTD để phân loại, xác định các TCTD
yếu kém; trên cơ sở đó, ưu tiên xử lý trước phù hợp với nguồn lực, bảo đảm cơ cấu

đời sẽ phơi bày thực chất hơn thực trạng nợ xấu, nợ xấu nhiều ngân hàng có thể
tăng lên 10%, 20%, thậm chí cao hơn. Các ngân hàng phải dồn nguồn dự phòng lớn
để xử lý nợ xấu, có thể thua lỗ, làm tăng chi phí và gây sức ép đối với lãi suất…
Nhưng NHNN đã ban hành Thông tư 09 sửa đổi Thông tư 02 về phân loại nợ và
trích lập dự phòng rủi ro, lùi một số điều khoản trong Thông tư 02. Việc lùi thời hạn
hiệu lực đối với những quy định này sẽ làm giảm và trì hoãn áp lực về nợ xấu đối
với các ngân hàng, qua đó, giúp các TCTD có thêm thời gian để điều chỉnh hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ của mình theo hướng áp dụng từng bước các quy định
trong thông tư 02 trước đây, đồng thời tránh được cú sốc về nợ xấu tăng đột biến và
lợi nhuận kế toán sụt giảm mạnh. Trong năm 2013, để tránh sự thay đổi đột ngột về
nợ xấu khi áp dụng thông tư 02, các ngân hàng đã tăng dần trích lập dự phòng, nâng
dần tỷ lệ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng/Tổng dư nợ để cải thiện nguồn tiền để
đối phó và xử lý nợ xấu sau này. Đồng thời, tích cực sử dụng nguồn dự phòng để xử
lý nợ xấu và bán nợ xấu cho VAMC.
2.2.3 Tăng Trƣởng Tín Dụng


25

Biểu đồ 2.3: Tốc độ tăng trƣởng tín dụng

Tốc Độ Tăng Trƣởng Tín Dụng
60%
51,4%

50%
37,7%

40%


Nam gấp ba đến bốn lần tốc độ tăng trưởng GDP. Nói một cách khác, tín dụng đã
tăng trưởng quá nóng và đó là một tín hiệu không tốt trong việc điều hành của
NHNN. Tốc độ tăng trưởng trong ba năm gần đây đã giảm đáng kể. Tín dụng năm
2012 tăng trưởng ở mức thấp kỷ lục, đây là lần đầu tiên kể từ năm 1992, mức tăng
trưởng tín dụng ở một chữ số. Nguyên nhân tín dụng tăng thấp là cầu yếu, khả năng
tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hàng tồn kho cao nên nhiều doanh nghiệp không đủ
điều kiện vay vốn, các tổ chức tín dụng phải kiểm soát chặt chẽ tín dụng nhằm ngăn
chặn nợ xấu...
2.2.4 Lãi Suất Cho Vay và Huy Động



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status