ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐỒNG NGHĨA
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHẠM NGŨ LÃO
HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐỒNG NGHĨA
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHẠM NGŨ LÃO
HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Từ Đức Văn
i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH-HĐH
CB
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Cán bộ
CBQL
Cán bộ quản lý
ĐH
Đại học
ĐHSP
Đại học sư phạm
ĐNGV
GD
Đội ngũ giáo viên
Giáo dục
GD&ĐT
GDCD
i
ii
iii
vi
vii
1
Lời cảm ơn
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU
ii
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
7
GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.3. Phát triển đội ngũ giáo viên THPT trong bối cảnh đổi mới giáo
7
9
18
Tiểu kết chương 1
35
38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ PHÁT
39
TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG THPT PHẠM NGŨ
LÃO, HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Giới thiệu về trường THPT Phạm Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên,
39
thành phố Hải Phòng
2.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên trường THPT Phạm Ngũ Lão, huyện
46
Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
2.3. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Phạm Ngũ
55
Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
2.3.1. Nhận thức về công tác phát triển đội ngũ giáo viên
2.3.2. Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Phạm Ngũ
56
thông hiện nay
3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CBQL và giáo viên đối
71
với việc phát triển đội ngũ giáo viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục
phổ thông hiện nay
3.2.2. Biện pháp 2: Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên
3.2.3. Biện pháp 3: Tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng hợp lý
73
75
đội ngũ giáo viên hiện nay
3.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá chất lượng
86
đội ngũ giáo viên của nhà trường theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên
3.2.5. Biện pháp 5: Tạo dựng các điều kiện bảo đảm cho giáo viên
90
thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học có hiệu quả
3.2.6. Biện pháp 6: Hoàn thiện chế độ chính sách chăm lo đời sống vật
94
chất, tinh thần cho đội ngũ giáo viên
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
Bảng 2.2.
( Từ năm học 2012-2013 đến năm học 2014-2015)
Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT, đỗ ĐH, kết quả thi HSG
43
46
Bảng 2.3.
( Từ năm học 2012-2013 đến năm học 2014-2015)
Số lượng cán bộ, giáo viên thực tế của nhà trường
47
Bảng 2.4.
( Từ năm học 2012-2013 đến năm học 2014- 2015)
Thống kê trình độ đào tạo của cán bộ, giáo viên
47
Bảng 2.5.
(Từ năm học 2012-2013 đến năm học 2014-2015)
Trình độ đào tạo theo từng bộ môn và số lượng giáo viên
48
54
( Từ năm học 2012-2013 đến năm học 2014- 2015)
Bảng 2.11. Kết quả khảo sát công tác phát triển ĐNGV của nhà trường 56
Bảng 2.12. Kết quả đánh giá xếp loại GV theo chuẩn nghề nghiệp
63
( Từ năm học 2012-2013 đến năm học 2014- 2015)
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát tínhcần thiết của các biện pháp đề xuất
100
Bảng 3.2. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp đề xuất
101
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ - BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.2.
Mười thành tố cấu thành nhà trường
Mối quan hệ giữa các khâu của quá trình phát triển
đội ngũ giáo viên
v
16
37
Biểu đồ 2.1.
So sánh số lượng giáo viên theo độ tuổi của nhà trường
53
trong khu vực, ngang tầm với những nước đang phát triển trên thế giới. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế,
trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và
cán bộ quản lý là khâu then chốt” [18]. Đại hội cũng đã xác định: Chăm lo
xây dựng đội ngũ giáo viên; xã hội hoá giáo dục, đào tạo; khuyến khích các
hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; mở rộng hợp tác
quốc tế và tăng ngân sách cho hoạt động GD&ĐT. Đồng thời, Đại hội cũng
đã chỉ ra các giải pháp cơ bản phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó coi giải
pháp: "xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất
lượng" [18], là tiền đề trong đổi mới GD&ĐT hiện nay. Bởi công tác phát
triển đội ngũ nhà giáo với cơ cấu hợp lý, có chất lượng sẽ là động lực quan
trọng để đổi mới và nâng cao chất lượng GD&ĐT, góp phần quan trọng tạo ra
nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát
triển của xã hội và hội nhập quốc tế.
1
Chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo ngày càng vững mạnh là
việc làm thường xuyên liên tục và trở thành một nhiệm vụ trọng tâm của ngành
giáo dục nói riêng và các cấp ủy đảng, chính quyền nói chung. Nhất là trong giai
đoạn hiện nay đất nước đang bước vào thời kỳ CNH-HĐH, thời kỳ hội nhập quốc
tế, với mục tiêu phấn đấu năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp,
việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo phát triển toàn diện ngang
tầm thời đại càng có ý nghĩa hết sức quan trọng, là yếu tố tiên quyết đảm bảo cho
sự thắng lợi.
Trong GD&ĐT, giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng hiệu quả
của các nhà trường. Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngũ giáo
năng lực của mình để đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của địa phương và của
đất nước.
Là giáo viên THPT, tôi nhận thức được tầm quan trọng của công tác
phát triển đội ngũ giáo viên giảng dạy trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện
nay. Bằng tâm huyết và sự trăn trở về công tác phát triển đội ngũ giáo viên
giảng dạy ở các trường THPT thành phố Hải Phòng nói chung và ở trường
THPT Phạm Ngũ Lão nói riêng nên chúng tôi đã chọn đề tài “Phát triển đội
ngũ giáo viên Trường trung học phổ thông Phạm Ngũ Lão, Huyện Thủy
Nguyên, Thành phố Hải Phòng trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông
hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, từ đó đề xuất các biện pháp phát triển
đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông Phạm Ngũ Lão, huyện Thủy
Nguyên, thành phố Hải Phòng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường phổ thông trong giai
đoạn đổi mới giáo dục hiện nay.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Đội ngũ giáo viên trường trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới
giáo dục hiện nay.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT Phạm Ngũ Lão, huyện Thủy
Nguyên, thành phố Hải Phòng.
4. Giả thuyết khoa học
Việc phát triển đội ngũ giáo viên là việc làm quan trọng thường xuyên
trong quản lý nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho hoạt động phát triển đội
ngũ giáo viên ở các trường THPT trong thành phố Hải Phòng và trên cả
nước.
8. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài tôi lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể
sau:
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp phân tích và tổng hợp các tài liệu, sách, báo, văn bản
Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tạp chí khoa học có
liên quan đến quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên Phổ thông
nói chung, giáo viên THPT nói riêng.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát các nhóm là các bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh để
thu thập các số liệu, sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp
đàm thoại, phỏng vấn, phương pháp khảo sát, phương pháp hỏi ý kiến chuyên
gia, ...
8.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
Tham khảo các bản báo cáo tổng kết năm học, kế hoạch năm học của các
trường, của ngành giáo dục và một số báo cáo hội thảo về công tác phát triển đội
ngũ giáo viên.
5
Tổng kết kinh nghiệm của các cán bộ quản lý và bản thân về vấn đề quản
lý phát triển đội ngũ giáo viên trong thời gian qua. Từ đó đề xuất biện pháp phát
triển đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay.
8.4. Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel và các công thức về thống kê toán học để xử lý
- Tuyển chọn công nhân một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành
nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành.
- Người quản lý hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm
bảo chắc rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng
đắn.
- Phải chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lý có bộ phận
lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lý
khoa học, còn người công nhân có nhiệm vụ thực thi công tác theo đúng kế
hoạch đó.
Trong bối cảnh những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội diễn ra
trong các thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX, một trào lưu - một học thuyết trong
quản lý đã ra đời; đó là quan điểm hành vi, hay với tên gọi khác, quan điểm
quan hệ con người. Học thuyết này giúp người quản lý ứng xử có hiệu quả
7
hơn với những khía cạnh con người, khía cạnh nhân bản trong một tổ chức.
Thay vì quá chú trọng đến chức năng của người quản lý, thuyết này gắng
hướng dẫn cách (how) người quản lý thực hiện cái (what) họ phải làm; tức là
họ phải làm thế nào để lãnh đạo, hướng dẫn người dưới quyền và giao tiếp với
những người dưới quyền ra sao.
Ở nước ngoài những nhà nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý
giáo dục, nhất là ở các nhà trường phổ thông đã được quan tâm từ rất sớm.
Ngay từ thế kỷ XVII, nhà sư phạm lỗi lạc J.A. Cômenxki (1592 - 1670) khi
đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường - một tài sản quý báu còn tồn tại
đến ngày nay đã tạo cơ sở ra đời của vấn đề quan trọng hàng đầu trong quản
lý giáo dục là " tổ chức hệ thống giáo dục" trên quy mô toàn xã hội.
Trong những năm gần đây ở Việt Nam đã dịch và giới thiệu nhiều công
trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phương Tây về quản lý giáo dục
lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu vừa tăng
quy mô vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
- Chuẩn hoá đội ngũ về các mặt: Vững vàng về chính trị; Gương mẫu
về đạo đức; Trong sạch về lối sống; Có trí tuệ, kiến thức và năng lực thực
tiễn; Gắn bó với nhân dân.
Trong những năm gần đây, nhiều đề án, giải pháp về quản lý phát
triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng:
- “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” (QĐ số 711/2012/QĐTTg ngày 13 tháng 06 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)
- Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010” (QĐ số 09/2005/QĐ- TTg ngày 11
tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ).
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Hoạt động quản lý xuất hiện rất sớm từ khi con người biết hợp sức lại
với nhau để thực hiện một mục đích nào đó. Từ thời thượng cổ, trung cổ đến
thời hiện đại, trải qua hàng nghìn năm lịch sử phát triển hoạt động quản lý đã
có những phát triển và trở thành bộ môn khoa học quản lý. Có nhiều quan
niệm khác nhau về khái niệm quản lý. Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu:
9
C.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một
sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận
động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. [12, tr.180]
Theo Frederick Wins TayLor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là biết
chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn
kiến”. [31, tr.25].
Từ những quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể rút ra
nhận xét sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng những định nghĩa trên đều
thể hiện được bản chất của hoạt động quản lý đó là hoạt động quản lý nhằm
cho hệ thống vận động theo mục tiêu đã đặt ra, tiến đến trạng thái có chất
lượng mới.
Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản
lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định
của công tác quản lý. Chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức
năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch
định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, kiểm tra để thực hiện các mục
tiêu quản lý.
Trong quản lý có hai bộ phận khăng khít, đó là chủ thể quản lý và
khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là cá nhân hay một nhóm người có
chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt
tới mục tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ
trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục
tiêu chung.
Những quan niệm trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều
gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều
kiện) sau :
+ Có (ít nhất một) chủ thể quản lý và đối tượng quản lý tiếp nhận các
tác động của chủ thể quản lý và các khách thể có quan hệ gián tiếp với chủ thể
quản lý.
11
+ Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng quản lý
và chủ thể quản lý.
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường:
“Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối
hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu
cầu xã hội hiện nay” [20].
“Quản lý giáo dục, quản lý trường học có thể là một chuỗi tác động
hợp lý (có mục đích, tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư
phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực
lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác,
phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình
này vận hành tới việc hoàn thành những mục đích dự kiến” [20].
Theo các tác giả Bùi Minh Hiền - Vũ Ngọc Hải - Đặng Quốc Bảo thì:
“Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý mang
quyền lực nhà nước (các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục), chủ yếu
bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”.
[24, tr.114-115].
Theo Đặng Xuân Hải, Nguyễn Sỹ Thư: Quản lí nhà nước về giáo dục
là: “Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với
các hoạt động giáo dục và đào tạo do các cơ quan có trách nhiệm về quản lí
giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức
năng nhiệm vụ theo quy định của nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp
GD&ĐT, duy trì kỉ cương, thỏa mãn nhu cầu được GD&ĐT của nhân dân,
thực hiện mục tiêu GD&ĐT của nhà nước”. [23, tr. 6]
Những khái niệm trên về QLGD tuy có những cách diễn đạt khác nhau
nhưng tựu trung lại có thể hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù
hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đối tượng quản
lý nhằm đưa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và toàn bộ hệ thống giáo dục
đạt tới mục tiêu.
Trong QLGD, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy QLGD từ
trung ương đến cơ sở. Còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở
“Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội
thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát
14
triển xã hội”. [5, tr. 3]
Nhà trường là tổ chức GD cơ sở mang tính nhà nước, xã hội, là nơi trực
tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là cơ quan GD chuyên biệt, có đội ngũ
các nhà giáo có trình độ được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc,
phương pháp GD phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương tiện kĩ thuật phục
vụ cho GD, mục đích GD của nhà trường phù hợp với xu thế phát triển của
xã hội và thời đại.
*Quản lí nhà trường
Có nhiều tác giả quan niệm về nhà trường khác nhau.
Theo tác giả Bùi Trọng Tuân: “Quản lý nhà trường bao gồm quản lý
bên trong nhà trường (nghĩa là quản lý các thành tố mục đích, nội dung,
phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học, đội ngũ giáo viên, cán bộ,
tập thể học sinh, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, các thành tố này quan hệ
qua lại với nhau, tất cả đều thực hiện chức năng giáo dục) và quản lý mối
quan hệ giữa nhà trường với môi trường xã hội bên ngoài nhà trường”.[27]
Tác giả Đặng Quốc Bảo khi nghiên cứu về quản lý nhà trường quan
niệm: “Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa
có tính kinh tế trong đó nhà trường trung học phải xác định sứ mệnh là đào
tạo học sinh trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông
hành đi vào đời là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật nghề
nghiệp và giấy thông hành kinh doanh”.[4, tr16]
Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lí giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục , mục tiêu đào tạo
NT
Mô
Q
N
P
B
Sơ đồ 1.1. Mười thành tố cấu thành nhà trường [5]
Chú thích: NT- Nhà trường; Th - Thầy; Tr - Trò; M - Mục tiêu;
Đ - Điều kiện đào tạo; H - Hình thức tổ chức đào tạo; Q - Quy chế đào tạo; N
- Nội dung đào tạo; P - Phương pháp dạy học; B - Bộ máy đào tạo; Mô- Môi
trường đào tạo.
Xét riêng một nhà trường, thì chủ thể quản lý gồm có: chủ thể bên trong,
chủ thể bên trên và chủ thể bên ngoài. Chủ thể quản lý bên trong trường là Ban
Giám hiệu (Hiệu trưởng, Hiệu phó CM); và các Tổ trưởng CM. Đối tượng quản
lí gồm có 3 nhóm: nhóm nhân tố cơ bản cấu thành trí thức bao gồm: mục tiêu
GD, nội dung GD, phương pháp GD; nhóm nhân tố động lực bao gồm Thầy
16
và Trò, Thầy là lực lượng đào tạo, Trò là đối tượng đào tạo; và nhóm nhân tố
gắn kết: gồm hình thức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, bộ
máy đào tạo, quy chế đào tạo.
Như vậy, quản lí nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế
hoạch của chủ thế quản lí lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động
của nhà trường theo nguyên lí GD nhằm đạt mục tiêu GD. Do vậy, công tác