ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ ARVVÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊTẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH TỪ THÁNG 12/2005 ĐẾN THÁNG 12/2010 - Pdf 34

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH

-------------******------------

BÁO CÁO HỘI NGHỊ KHCN TUỔI TRẺ CẤP TRƯỜNG
ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ ARV
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
THÁI BÌNH TỪ THÁNG 12/2005 ĐẾN THÁNG 12/2010

Báo cáo viên: SV Phạm Thị Lan lớp YHDPK1B
Cán bộ hướng dẫn: ThS. Phạm Mỹ Ngọc
BSCKII. Vũ Thị Thúy

Thái Bình – 2012


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH

-------------******------------

BÁO CÁO HỘI NGHỊ KHCN TUỔI TRẺ CẤP TRƯỜNG
ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN HIV/AIDS ĐIỀU TRỊ ARV
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
THÁI BÌNH TỪ THÁNG 12/2005 ĐẾN THÁNG 12/2010
Báo cáo viên: SV Phạm Thị Lan lớp YHDPK1B
Cán bộ hướng dẫn: ThS. Phạm Mỹ Ngọc
BSCKII. Vũ Thị Thúy

miễn dịch ở người
Immune Restoration Syndrrome or Disease (Hội
chứng viêm phục hồi miễn dịch)
Lâm sàng
Mycobacterium avium comple
Miễn dịch
Nhiễm trùng cơ hội
Phục hồi miễn dịch
Phòng khám ngoại trú


MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU...............................................................3
1.1. Đặc điểm của nhiễm HIV/AIDS............................................................3
1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS hiện nay.................................................8
1.3. Tình hình điều trị HIV bằng ARV.....................................................13
CHƯƠNG II...................................................................................................19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................................19
2.1. Đối tượng và địa bàn nghiên cứu........................................................19
2.2. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................20
2.3. Đạo đức trong nghiên cứu...................................................................23
2.4. Xử lý số liệu.........................................................................................23
1. Đặc điểm bệnh nhân HIV/AIDS điều trị ARV tại khoa Truyền nhiễm
Bệnh viện Đa khoa Thái Bình...................................................................24
2. Yếu tố liên quan tuân thủ điều trị ARV:................................................29
BÀN LUẬN......................................................................................................32

tàn phá. Không có ai, nhóm xã hội nào mà không chịu ảnh hưởng bởi tác
động của HIV/AIDS. Theo cơ quan UNAIDS của Liên Hợp Quốc công bố
một bản báo cáo về tình hình lây nhiễm bệnh HIV/AIDS, khẳng định số
người nhiễm HIV trên thế giới là đáng báo động khi có hơn 38,6 triệu
người đang mắc căn bệnh này. Mặc dù tỉ lệ nhiễm bệnh đang giảm dần do
mức tăng dân số và nhiều người nhiễm bệnh sống lâu hơn nhờ các loại
thuốc mới, nhưng thực sự con số người nhiễm bệnh vẫn tăng cao, [7], [24]
Việt Nam nằm trong vùng trọng điểm dịch, nhiễm HIV/AIDS đang
ngày càng gia tăng và có chiều hướng lan rộng trong cộng đồng, ngày càng
có nhiều người tử vong vì AIDS, tính đến hết ngày 31 tháng 3/2011, số
trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 185.623 người, số bệnh nhân AIDS
hiện tại là 44.701 người, số người nhiễm HIV đã tử vong do AIDS là 49.912
trường hợp. Từ năm 2000 đến nay số người nhiễm HIV phát hiện mới hàng
năm trung bình khoảng trên 12.000 ca. HIV/AIDS đã lan rộng ra khắp các
tỉnh, thành phố, các quận huyện và xã phường, và có lẽ ít có một đại dịch
nào mà mức lan toả của nó ghê gớm như HIV/AIDS, [1], [14], [15].
Tại Thái Bình, đến ngày 31/3/2011 phát hiện 3.786 người nhiễm HIV
và 860 bệnh nhân AIDS còn sống, số bệnh nhân tử vong do AIDS là 798
người (Nguồn TTPC AIDS Thái Bình). Người nhiễm HIV không chỉ ở
nhóm nguy cơ cao mà đang có xu hướng lây nhiễm ra cộng đồng dân cư
bình thường, nhiều gia đình đã có cả 2 vợ chồng bị chết vì AIDS, tỷ lệ trẻ
mồ côi do AIDS đang gia tăng. Công tác điều trị ARV bắt đầu từ tháng 12
năm 2005 với 30 bệnh nhân. Nhu cầu được tiếp cận với ARV ngày càng
cao. Nguyên tắc tuân thủ theo phác đồ điều trị hết sức nghiêm ngặt đòi hỏi


2
bệnh nhân phải kiên trì và quyết tâm cao, là yếu tố sống còn trong điều trị
ARV ở bệnh nhân HIV/AIDS và quyết định sự thành công của điều trị, [8].
Để góp phần cho công tác chăm sóc và điều trị người nhiễm

HIV có các protein trên vỏ bọc, thu hút mạnh mẽ cơ quan thụ cảm bề
mặt CD4+ ở bên ngoài tế bào T4, kích hoạt các protein khác trên bề mặt
của tế bào, làm ngừng hoạt động ở bên ngoài của tế bào. Các sợị RNA, gen
của virus HIV kết hợp với AND của người, quá trình “sao chép ngược” xảy
ra tạo phiên bản DNA của RNA virus. DNA mới này được gọi là DNA
tiềm virus, DNA của virus được đưa vào trong nhân của tế bào, tổng hợp
và nhân lên tạo ra một virus mới. Những sợi DNA đã nhiễm virus trong
nhân riêng và các enzyme đặc biệt tạo ra 1 sợi nguyên liệu gen bổ sung
được gọi là sứ giả RNA hay mRNA (chỉ thị để tạo ra virus mới). Khi mỗi
một sợi mRNA được xử lý thì một chuỗi các protein tương ứng cũng được


4
tạo ra. Quá trình này tiếp tục cho đến khi sợi mRNA bị biến đổi hoặc
“chuyển” tới các protein bị nhiễm mới cần để tạo ra những virus mới và bắt
đầu với sự tổ hợp của virus mới. Các chuỗi dài protein được cắt bởi
enzyme virus được gọi là protease thành các protein nhỏ hơn. Các protein
này phục vụ một loạt các chức năng, một số trở thành các nguyên tố cấu
trúc của virus mới, trong khi các số khác trở thành các enzyme, giống như
là enzyme sao chép ngược. Mỗi khi các mảnh nhỏ virus mới được tổ hợp
lại, chúng chui ra khỏi tế bào chủ và tạo ra virus mới. Sau đó virus bước
vào giai đoạn trưởng thành. Với sự tổ hợp thành công và trưởng thành,
virus có khả năng lây nhiễm cho 1 tế bào mới. Và mỗi 1 tế bào nhiễm mới
có thể sản sinh ra nhiều virus mới.
1.1.3. Tế bào CD4:
CD4 là tế bào lymphô (tế bào bạch cầu). Các tế bào CD4 đôi khi còn
được gọi là tế bào T. Có 2 loại tế bào T chính: tế bào T-4, còn được gọi là
CD4+, là các tế bào “giúp đỡ”, chúng đi đầu trong việc tấn công chống lại
các bệnh nhiễm trùng. Các tế bào T-8(CD8+), là các tế bào “đàn áp”, nó
kết thúc phản ứng miễn dịch. Các tế bào CD8+ cũng được gọi là các tế bào

lao 37%, HC suy mòn 34%, nhiễm trùng hô hấp 13%, nhiễm nấm
cryptococus 9%, nấm penicillin marnerfei 7%, PCP 5%, nhiễm trùng huyết
4%. Tại PKNT Khoa Truyền nhiễm, BV Bạch Mai 2009 - 2010, Đỗ Duy
Cường thấy NTCH trong 357 bệnh nhân HIV/AIDS có: Lao (23.8%). Nấm
Candida (10.1%); Penicillium marneffei (8.1%); MAC (3.4%; Hội chứng
suy mòn (3.4%; Viêm não do toxoplasma (3.1%; PCP(2.8%);

CMV

(1.7%); VMN do Cryptococcus (1.1%).
Nhiễm trùng cơ hội trong thời kỳ có liệu pháp kháng virus hoạt
tính cao (HAART): Ở các nước phát triển phương Tây, rất nhiều nhiễm
trùng cơ hội nay đã rất hiếm. Tỷ lệ mới mắc CMV và MAC đã giảm chỉ
còn 1/10 so với tỷ lệ trước khi có HAART. Liệu pháp kháng virus hoạt tính
cao còn làm thay đổi diễn biến của các nhiễm trùng cơ hội. Nếu như trước
đây thời gian sống sau khi có bệnh chỉ điểm AIDS đầu tiên rất ít khi quá 3


6
năm thì nay rất nhiều bệnh nhân đã sống tới 10 năm hoặc hơn. Nghiên cứu
của Hoffmann - 2007 đã cho thấy: tỷ lệ sống trên 5 năm sau khi mắc
toxoplasma não là 8% vào năm 1990-1993, tăng lên 29% năm 1994-1996
và 78% từ 1997, [21]. Mặc dù đã có những tiến bộ, hiện vẫn chưa có
phương pháp điều trị thỏa đáng cho các bệnh như PML (bệnh não chất
trắng đa ổ tiến triển) hay cryptosporidiosis, và kháng thuốc sẽ ngày càng
nghiêm trọng đối với các bệnh nhiễm trùng khác. Liệu pháp kháng virus
hoạt tính cao không phải lúc nào cũng cải thiện tình trạng ngay lập tức mà
thậm chí còn làm mọi việc thêm phức tạp do diễn biến không điển hình của
bệnh khi có HAART cũng như do phục hồi miễn dịch.
*Các ngưỡng CD4 quan trọng mà trên ngưỡng đó một số bệnh chỉ

- Nhiễm nấm Candida miệng tái diễn.
- Bạch sản dạng lông ở miệng.
- Lao phổi.
- Nhiễm trùng nặng do vi khuẩn (viêm phổi, viêm mủ màng phổi, viêm đa
cơ mủ, nhiễm trùng xương khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết).
- Viêm loét miệng hoại tử cấp, viêm lợi hoặc viêm quanh răng.
- Thiếu máu (Hb< 80g/L), giảm bạch cầu trung tính (< 0.5x109/L), và/hoặc
giảm tiểu cầu mạn tính (< 50x109/L) không rõ nguyên nhân.
Giai đoạn lâm sàng 4: Triệu chứng nặng
- Hội chứng suy mòn do HIV (sút cân >10% trọng lượng cơ thể, kèm theo
sốt kéo dài trên 1 tháng hoặc tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng không rõ
nguyên nhân).
- Viêm phổi do Pneumocystis jiroveci (PCP).
- Nhiễm Herpes simplex mạn tính (ở môi miệng, cơ quan sinh dục, quanh
hậu môn, kéo dài hơn 1 tháng, hoặc bất cứ đâu trong nội tạng).
- Nhiễm Candida thực quản (hoặc ở khí quản, phế quản hoặc phổi).
- Lao ngoài phổi.
- Sarcoma Kaposi.
- Bệnh do Cytomegalovirus (CMV) ở võng mạc hoặc ở các cơ quan khác.
- Bệnh do Toxoplasma ở hệ thần kinh trung ương.


8
- Bệnh lý não do HIV.
- Bệnh do Cryptococcus ngoài phổi bao gồm viêm màng não.
- Bệnh do Mycobacteria avium complex (MAC) lan toả.
- Bệnh lý não chất trắng đa ổ tiến triển (Progessive multifocal leuko
encephalopathy - PML).
- Tiêu chảy mạn tính do Cryptosporidia.
- Tiêu chảy mạn tính do Isospora

khiếp nhất thế giới. Quốc gia bị ảnh hưởng nhất là nước Swaziland bé nhỏ
nơi một phần ba người lớn bị nhiễm vi rút HIV. Tuy nhiên Kenya và
Zimbabwe được báo cáo là con số nhiễm HIV tại đây đã có giảm bớt. Nam
Phi vẫn là nước có số người nhiễm HIV cao nhất tại Châu Phi: 5,5 triệu
người lớn mang virus HIV. Ấn Độ đã vượt qua Nam Phi để trở thành quốc
gia có nhiều người sống chung với HIV nhất thế giới. Số ca có HIV ở quốc
gia đông dân thứ nhì hành tinh hiện chiếm 2/3 tổng số ca nhiễm loại virus
chết người này trên toàn Châu Á.
Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đại dịch HIV/AIDS vẫn tiếp
tục gia tăng và tàn phá nặng nề. Theo dự báo mỗi năm sẽ có thêm khoảng
500.000 trường hợp mới nhiễm HIV nếu các quốc gia không tăng cường
các hoạt động nhằm ngăn chặn sự lây lan của loại vi rút này. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng HIV/AIDS tại khu vực: Nạn đói nghèo
trình độ dân trí thấp, di dân tự do, sự gia tăng tệ nạn xã hội làm HIV tăng
cao, [23].
1.2.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam.
Việt nam là nước có số người nhiễm HIV khá cao, tình hình nhiễm
HIV/AIDS đang ngày càng gia tăng và có chiều hướng lan rộng trong cộng
đồng. Bộ Y tế, theo báo cáo của các địa phương, tính đến ngày 30/9/2011, cả
nước hiện có 193.350 người nhiễm HIV/AIDS được báo cáo đang còn sống,
trong đó có 47.030 người đã chuyển qua giai đoạn AIDS. Trong 9 tháng đầu
năm 2011, số trường hợp nhiễm HIV mới được phát hiện và được báo cáo là
9.121; số người nhiễm HIV chuyển qua giai đoạn AIDS là 3.723 và 1.394


10
trường hợp tử vong do AIDS. Quý I năm 2011 toàn quốc báo cáo xét
nghiệm phát hiện mới 2.120 trường hợp nhiễm HIV, số trường hợp AIDS
được phát hiện là 1.114 trường hợp và 435 trường hợp tử vong do AIDS, [1]
Tỷ suất người hiện nhiễm HIV trên 100.000 dân tính chung cho cả

tuổi chiếm gần 3% (Theo VAAC)
Cục Phòng chống AIDS Việt Nam và công bố nghiên cứu các yếu tố
dịch tể học ở người nhiễm HIV/AIDS được phát hiện tại Việt Nam giai
đoạn 1993-2009 do TS. Nguyễn Thanh Long - Cục Trưởng Cục Phòng
chống AIDS và các cộng sự thực hiện. Tính đến thời điểm nghiên cứu, toàn
quốc đã phát hiện 186.930 trường hợp nhiễm HIV trong đó đã có 42.447
trường hợp tử vong do AIDS. Có 98% số huyện, 71% số xã đã phát hiện ra
các trường hợp nhiễm HIV. Số người nhiễm HIV hiện còn sống vẫn tập
trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố trọng điểm, đứng đầu là Tp. Hồ Chí
Minh với 37.585 trường hợp (chiếm 26% toàn quốc), tiếp theo là Hà Nội
(14.419 trường hợp), Hải Phòng (6.288 trường hợp), Sơn La (5.098 trường
hợp), Thái Nguyên (4.531 trường hợp), An Giang (3.617 trường hợp),
Nghệ An (3.370 trường hợp), Bà Rịa Vũng Tàu (3.231 trường hợp). Những
tỉnh có số bệnh nhân AIDS hiện còn sống cao nhất bao gồm: Tp.Hồ Chí
Minh (13.652 trường hợp), Hà Nội (2.010 trường hợp), Hải Phòng (1.970
trường hợp). Nghiên cứu trên 188.299 người nhiễm HIV thấy 73.849 bệnh
nhân AIDS và 42.593 trường hợp tử vong do AIDS.
Kết quả cho thấy nhiễm HIV trong nam giới gấp 4 lần nữ giới.
Cách thức lây truyền:
Nguy cơ do bị xuyên da: 0.32%
Do trao đổi bơm kim tiêm bẩn: 0.67%
Nguy cơ lây truyền qua tình dục:
- Nguy cơ theo kiểu quan hệ tình dục:
Dương vật-hậu môn (người nhận): 0.3-3.0%
Dương vật-hậu môn (người phóng tinh): 0.01- 0.18%
Dương vật-âm đạo (nữ): 0.05- 0.15%
Dương vật-âm đạo (nam): 0.03- 0.09%


12

13
Nghiên cứu 05 năm trở lại đây cho thấy nhóm tuổi 20-39 chiếm trên
80% số người nhiễm HIV, trong đó tỷ lệ nhiễm HIV nhóm 20-29 tuổi cao
nhất (52,1%). Vẫn theo các số liệu của Bộ Y tế, các bệnh nhân HIV ở Việt
Nam đang có dấu hiệu trẻ hoá với việc số người có HIV trong độ tuổi từ 20
tới 39 tăng từ 15% lên 89% trong tổng số.
1.2.3. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Thái Bình
Tại Thái Bình, ca nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện năm 1996, đến
nay, cuộc chiến với HIV/AIDS của Thái Bình kéo dài được 15 năm. Tình
hình dịch HIV/AIDS chưa được khống chế mạnh, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố
nguy cơ. Tình hình tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, toàn tỉnh vẫn còn
trên 4000 người nghiện ma túy và hàng trăm người hoạt động mại dâm, vì
vậy dịch đã không chỉ còn tập trung trong những nhóm đối tượng nguy cơ
cao mà đang có xu hướng lây nhanh trong cộng đồng dân cư. Tính đến
ngày 30/11/2011, Thái Bình đã phát hiện 3985 người nhiễm HIV/AIDS, số
người nhiễm HIV hiện còn sống và quản lý được là 2220 trên 88.11% số xã
phường phát hiện người nhiễm HIV, số phụ nữ nhiễm HIV là 828, số bệnh
nhân AIDS tử vong là 813 người.
Thuốc kháng virus HIV bắt đầu được triển khai điều trị cho người
nhiễm HIV/AIDS tại Thái Bình từ năm 2005. Thời gian đầu triển khai điều
trị tình hình cung ứng thuốc gặp nhiều khó khăn, chỉ đáp ứng được một phần
nhỏ nhu cầu số người cần điều trị, cả tỉnh chỉ có 30 bệnh nhân được điều trị
ARV. Đến nay, thuốc kháng virus đã đáp ứng đủ nhu cầu điều trị cho người
nhiễm. Hiện phòng khám ngoại trú đang quản lý 525 người lớn nhiễm
HIV/AIDS đang được chăm sóc và điều trị. Tiếp tục nâng cao số người được
điều trị ARV, mục tiêu của Phòng khám ngoại trú Life-Gap Bệnh viện đa
khoa tỉnh là có ít nhất 80% số người nhiễm HIV được điều trị ARV
1.3. Tình hình điều trị HIV bằng ARV
1.3.1. Tình hình trên thế giới


được sử dụng thuốc còn thấp. Chính vì vậy cần có nhiều hơn nữa những


15
can thiệp truyyền thông giáo dục cho cộng đồng về ARV đặc biệt kiểm soát
và tư vấn hỗ trợ cho những bệnh nhân HIV [29]
Kết quả nghiên cứu của Samayoa năm 2009 tại thành phố Guatemala
cho biết từ tháng 1 năm 1997 đến tháng 6 năm 2006 toàn bộ 536 phụ nữ
mang thai bị nhiễm HIV đang ký tại bệnh viện có 295 bệnh nhân chưa xác
định rõ, 173 là có nguy cơ cao và 57 (33%) có dương tính với HIV. Hầu
hết những bệnh nhân này được điều trị ARV ngay rừ thời gian trước sinh,
trong sinh (trong thủ thuật mổ đẻ) và sau khi sinh. Sau khi so sánh với tỷ lệ
phụ nữ không được can thiệp dùng thuốc ARV theo đúng phác đồ thì tỷ lệ
trẻ bị HIV dương tính thấp hơn. Như vậy trong nhi khoa cần có sự giúp đỡ
về chương trình giảm nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con đặc biệt là
phương pháp điều trị ARV [30]
Một sự phân tích hồi cứu của tác giảo Soler Claudin năm 2009 tại
Mexico Nhật Bản cho kết quả về tác dụng điều trị ARV từ năm 2001 đến
năm 2006 của bệnh nhân HIV/AIDS có 5146 bệnh nhân đã trải qua quá trình
điều trị ARV đã có 74% bệnh nhân vẫn sống và sinh hoạt bình thường đến
thời điểm 2009, 12,2% bỏ cuộc và 13,9% đã chết. Như vậy có sự gia tăng
bệnh nhân điều trị theo phác đồ điều trị ARV và hiệu quả đã chứng minh
rằng ARV là một thuốc hàng đầu tính đến thời điểm hiện nay cho HIV [31].
Để điều tra sự thịnh hành của việc điều trị HIV bằng ARV so với việc
sử dụng thuốc điều trị thông thường ở những bệnh nhân HIV/AIDS tại Kano
phía Tây bắc Nigeria và đánh giá thái độ của những bệnh nhân này về pháp
điều trị ARV. Trong tổng số 430 bệnh nhân điều trị ARV thì có 67,2% là phụ
nữ, 32,8% nam giới, 29% không có bằng cấp và 10,5% có bằng đại học, sau
đại học. Có 63,8% đã kết hôn, 39,8% ít nhất có quan hệ tình dục với 2 người
trở lên và có 27,5% đã được điều trị bằng các thuốc khác trước khi điều trị

miễn cưỡng không tiết lộ ra tình trạng HIV của mình [35]. Bên cạnh đó
bệnh nhân cũng cần được hướng dẫn về sự quan trọng của việc điều trị, sử
dụng ARV. Đây là một biện pháp nhằm tăng hiệu quả của sử dụng ARV
trong điều trị HIV [37].
1.3.2. Tình hình kháng thuốc ARV tại Việt Nam:


17
Theo báo cáo của Cục Phòng, chống HIV/AIDS Việt Nam, sau một
vài năm điều trị thuốc ARV, có khoảng 5- 10% thất bại điều trị với phác đồ
bậc 1 đòi hỏi người bệnh phải chuyển sang điều trị phác đồ bậc 2. Điều này
đồng nghĩa với khả năng đáp ứng điều trị với thuốc kém hơn, chi phí điều
trị cao hơn.
Theo Nguyễn Hữu Chí và cộng sự: Thời gian điều trị ARV cho đến
khi được xác định là thất bại điều trị trung binh l 34 tháng [3]. Thời gian
này rất thay đổi, trên thực tế có thể ngắn hơn do nhiều bệnh nhân được điều
trị trong các năm trước (khoảng 1997- 2004) chưa có phác đồ điều trị ARV
cụ thể; những bệnh nhân này tuy có tình trạng miễn dịch không được cải
thiện (CD4 thấp kéo dài) nhưng vẫn được tiếp tục dùng thuốc ARV như cũ
hoặc bệnh nhân không tham gia các dự án về điều trị ARV cũng không có
thuốc ARV bậc 2 để thay thế.
Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 248 bệnh nhân thất
bại từ 6-12/07 dựa vào tiêu chuẩn LS/MD: VL không phát hiện được ở 100
bệnh nhân (42%); 136 bệnh nhân có kết quả genotype: 121 (89%) có ≥1
đột biến; 116 (96%) có đột biến NRTI; 107 (88%) có đột biến NNRTI; 83
(72%) có ≥ 1 TAM; 57 (49%) ≥ 3 TAMs; 9 (8%) có Q151M.
1.3.3. Vấn đề tuân thủ điều trị ARV tại Việt Nam
Người bệnh cần uống thuốc đầy đủ và đúng giờ theo hướng dẫn của
bác sỹ, đảm bảo khoảng cách đều giữa các lần uống thuốc. Với những
thuốc uống mỗi lần một ngày, cần uống thuốc đúng vào một giờ quy định.

Các yếu tố hỗ trợ tuân thủ điều trị: Chất lượng thông tin do cán bộ y
tế cung cấp, mối quan hệ với xã hội.


19

CHƯƠNG II.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Là những bệnh nhân HIV/AIDS được điều trị ARV tại phòng khám
ngoại trú từ 12/2005 đến 31/12/2010.
- Người hỗ trợ điều trị thường xuyên cho bệnh nhân HIV/AIDS được
điều trị ARV tại phòng khám.
- Hồ sơ bệnh án, sổ điều trị ARV, sổ lưu trữ bệnh nhân HIV/AIDS
tại phòng khám ngoại trú từ 12/2005 đến 12/2010.
• Tiêu chuẩn đủ điều kiện điều trị ARV
- Tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm: Dựa vào giai đoạn lâm sàng và số
lượng tế bào CD4. Nếu có xét nghiệm CD4, chỉ định điều trị ARV khi:
+ Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 4, không phụ thuộc số lượng tế bào
CD4
+ Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 3 với CD4 < 350 TB/mm 3
+ Người nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng 1, 2 với CD4 < 250 TB/mm3
Nếu không được làm xét nghiệm CD4, chỉ định điều trị ARV khi người
nhiễm HIV ở giai đoạn lâm sàng 3, 4.
- Tiêu chuẩn tuân thủ và sẵn sàng điều trị:
+ Thể hiện sự hiểu biết về HIV/AIDS và điều trị ARV bao gồm cách sử
dụng thuốc, các tác dụng phụ thường gặp, hướng xử trí và tầm quan trọng
của việc tuân thủ điều trị.
+ Thể hiện sự tuân thủ điều trị: Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn,tái khám

HIV/AIDS được điều trị ngày càng tăng đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu
điều trị của bệnh nhân. Hiện phòng khám ngoại trú đang quản lý 525 người
lớn nhiễm HIV/AIDS đang được chăm sóc và điều trị.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2008 đến 1/2012
- Thời gian thu thập số liệu theo dõi bệnh nhân: từ T1/2008 – T6/2011.
- Thời gian xử lý phân tích thông tin từ T7/2011 đến T1/2012
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp nghiên cứu thuần tập (cả hồi cứu và tiến cứu).
+ Nghiên cứu hồi cứu từ 2005- 2007 qua thống kê từ hồ sơ bệnh án
và sổ lưu trữ bệnh nhân.
+ Tiến cứu từ 2008- 2010: qua theo dõi dọc bệnh nhân.
2.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu
- Mẫu nghiên cứu được lấy theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ, tích lũy
theo các năm. Chọn tất cả những bệnh nhân đủ thông tin được điều trị ARV
từ 12/2005 - 12/2010.
- Số liệu được thu thập từ bệnh án, sổ điều trị ARV, sổ lưu trữ bệnh nhân và
phiếu phỏng vấn, theo dõi bệnh nhân.
2.2.3. Cách thức thu thập thông tin
- Bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán sẽ được thu thập thông tin vào bảng
phiếu soạn sẵn đã được điều tra thử nghiệm. Thông tin được thu thập qua 2
giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Qua hồ sơ bệnh án và sổ lưu trữ bệnh nhân: Thu thập
thông tin vào bảng phiếu soạn sẵn về các đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status