1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Staphylococcus aureus (S.aureus) là một trong số các tác nhân gây
nhiễm trùng bệnh viện quan trọng nhất bởi tính đa dạng về bệnh lý và độ nặng
của các nhiễm trùng do vi khuẩn này gây ra. Nó thường gây nên những bệnh
lý nhiễm trùng vết thương, mụt nhọt ngoài da, viêm tai giữa, áp xe các phủ
tạng, viêm phổi, nhiễm trùng huyết, viêm nội tâm mạc, viêm màng não mủ,
viêm cơ xương khớp… Ngoài ra, S. aureus còn gây ngộ độc thức ăn do thực
phẩm bị nhiễm S. aureus tiết ra độc tố ruột [1], [10], [26], [39], [46].
Nhiều nghiên cứu cho thấy các nhiễm trùng do S. aureus có nguồn gốc
từ người lành mang trùng và nhiễm trùng bệnh viện do S. aureus xảy ra trong
thời gian bệnh nhân nằm viện, theo nhiều tác giả, có nguồn vi khuẩn từ nhân
viên y tế, từ bệnh nhân mang trùng và nhiễm trùng …đóng vai trò quan trọng
và đa số các chủng là đề kháng kháng sinh. S. aureus ký sinh trên cơ thể
người dưới vai trò là những vi khuẩn chí, nhiều nhất là ở da đặc biệt là bàn
tay và niêm mạc nhiều nhất là ở niêm mạc mũi. Theo nhiều tác giả cho rằng
có khoảng 20-70% người lành mang S. aureus và tỷ lệ mang S. aureus ở nhân
viên y tế cao hơn những người không phải là nhân viên y tế. S. aureus có khả
năng lây nhiễm sang cho người khác thông qua tiếp xúc da, niêm mạc. Đặc
biệt là S. aureus có ở mũi, chúng sẽ bị đẩy ra ngoài khi hắt hơi làm cho một
số đồ vật thậm chí cả bụi trên sàn nhà và tường cũng bị nhiễm bẩn, những vật
này cung cấp nguồn vi khuẩn cho những người có sức đề kháng yếu [16],
[32], [36], [40], [46].
Hiện tượng S. aureus kháng kháng sinh trở nên khá phổ biến do tình
trạng sử dụng kháng sinh ngày càng nhiều với những kháng sinh có hoạt phổ
rộng, nhiều loại kháng sinh khác nhau và liều luợng không đúng. Theo
Christian Cespedes điều tra, nhận thấy tỷ lệ đề kháng kháng sinh của S.aureus
2
Các vi khuẩn ký sinh trên cơ thể người nói chung đều có khả năng bảo vệ
họ chống lại sự xâm nhập và định vị của các vi khuẩn ngoại sinh nhưng đồng
thời cũng tạo thành ổ chứa vi khuẩn trong các nhiễm trùng của cơ thể [32],
[42], [43].
Chiến lược sử dụng kháng sinh cần phải dựa trên sự hiểu biết về dịch tể
học và tính nhạy cảm với kháng sinh của các vi khuẩn này. Trong số các vi
khuẩn liên quan, S.aureus là một trong số các tác nhân gây nhiễm trùng quan
trọng nhất bởi tính đa dạng về bệnh lý và độ nặng của các nhiễm trùng do vi
khuẩn này gây ra. Nó thường gây nên những bệnh lý nhiễm trùng vết thương,
mụt nhọt ngoài da, viêm tai giữa, áp xe các phủ tạng, viêm phổi, nhiễm trùng
huyết, viêm nội tâm mạc, viêm màng não mủ, viêm cơ xương khớp… Ngoài
ra, S. aureus còn gây ngộ độc thức ăn do thực phẩm bị nhiễm S. aureus tiết ra
độc tố ruột [1], [9], [39].
Tỷ lệ người lành mang S. aureus thay đổi từ 10 - 40%. Người là túc chủ
bình thường của tụ cầu, nhiều người mang S. aureus ở ngoài da, trong mũi
họng, và cả ruột. S. aureus ở da và niêm mạc tạo nên rào cản và nó bị phá hủy
khi có yếu tố thuận lợi như dùng kháng sinh… Các nhiễm trùng do S. aureus
xảy ra khi có tổn thương da và niêm mạc, rối loạn cân bằng vi khuẩn chí, giảm
sức đề kháng của vật chủ… Các nhiễm trùng do S. aureus chiếm vị trí hàng
đầu trong các bệnh nhiễm khuẩn ở nhiều nước kể cả các nước tiên tiến [44].
4
Nhiều tác giả đã tiến hành nghiên cứu về sự mang S. aureus và sự lây
truyền của chúng cho trẻ sơ sinh ở các nhà hộ sinh. Đường hô hấp trên và da
của trẻ sơ sinh trở nên nhiễm tụ cầu chỉ trong vòng vài giờ sau khi sinh, các
bệnh như chốc lỡ, viêm kết mạc, nhiễm trùng rốn và thậm chí nhiễm khuẩn
huyết có thể xảy ra [6], [44].
Theo Kluytmans, Avan Belkum có khoảng 20% người mang trùng
ngoài môi trường bệnh viện [26].
1.1.2. Việt nam
Các nghiên cứu theo dõi độ nhạy cảm với kháng sinh của các vi khuẩn
gây bệnh thường gặp đã được tiến hành từ năm 1989 ở một số địa phương [14].
Năm 1992 việc theo dõi tính kháng kháng sinh của vi khuẩn được mở rộng trên
một số vùng khác nhau của đất nước, nhưng chỉ tập trung ở các chủng vi khuẩn
được phân lập ở bệnh nhân mà chưa theo dõi tính kháng thuốc trên các vi
khuẩn được phân lập ở người lành [13], [14]. Trong vài năm trở lại đây, các
nghiên cứu về dịch tễ học và tính kháng thuốc của một số vi khuẩn ở người
lành đã được tiến hành tại một số địa phương và thành phố lớn [5], [13], [16].
Nghiên cứu của Phạm Văn Ca, Nguyễn Thị Kim Hoàng về đánh giá tỷ
lệ mang vi khuẩn có khả năng gây bệnh ở một số địa điểm tại tỉnh Tây Ninh
vào năm 2001 đã cho thấy trên 250 trẻ khoẻ mạnh dưới 5 tuổi, tỷ lệ mang tụ
cầu vàng là 32,7%, còn tại Cần Thơ, tỷ lệ này là 16,8% [7], [8].
Trên đối tượng nhân viên y tế, nghiên cứu tại bệnh viện Trung ương
Huế năm 2004 đã cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế mang S. aureus là 38%.
Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh của nhân viên y tế cao hơn
so với nhân viên ngoài y tế: với penicillin, tỷ lệ kháng ở nhân viên y tế là
96,9% trong khi tỷ lệ kháng ở nhân viên ngoài y tế là 61,7%, ofloxacin là
25,0% so với 0%, erythromycin là 56,2% so với 20,0% [18].
Nghiên cứu tụ cầu vàng kháng methicilin cũng rất được quan tâm.
Trong chương trình giám sát quốc gia về tính kháng thuốc của các vi khuẩn
6
gây bệnh thường gặp năm 2001 cho thấy sự ghi nhận tỷ lệ S. aureus ở trẻ
khoẻ mạnh tại tỉnh Tây Ninh kháng meticillin là 2,4% [7]. Một nghiên cứu ở
nhân viên y tế và nhân viên ngoài môi trường bệnh viện năm 2004 cho thấy tỷ
lệ MRSA ở những người ngoài bệnh viện chiếm 30,0%, trong khi đó ở nhân
aureus làm đục môi trường, để lâu nó có thể lắng cặn. S. aureus có khả năng đề
kháng với nhiệt độ và hoá chất cao hơn các vi khuẩn không có nha bào khác
[10].
S. aureus có nhiều loại kháng nguyên: protein, polysaccharid, acid
teichoic của vách. Sau đây là một số kháng nguyên trên bề mặt tế bào được
quan tâm:
- Acid teichoic: là kháng nguyên ngưng kết chủ yếu của S. aureus, làm tăng
tác dụng hoạt hoá bổ thể, là chất bám dính của S. aureus vào niêm mạc mũi.
Acid này gắn vào polysaccharid vách S. aureus và là kháng nguyên O.
- Protein A: là những protein bao quanh bề mặt vách S. aureus và là một tiêu
chuẩn để xác định S. aureus. 100% các chủng S. aureus có protein này. Các
kháng nguyên này mang tên protein A, vì protein này gắn được phần Fc của
IgG. Điều này dẫn tới làm mất tác dụng của IgG, chủ yếu là mất đi opsonin
hoá, nên làm giảm sự thực bào. Sự gắn Fc của IgG cũng làm mất đi vị trí để bổ
thể có thể gắn trên bề mặt và hoạt hoá theo đường thay đổi, làm giảm tác dụng
bảo vệ cơ thể. Những S. aureus sản sinh nhiều protein A thì tác dụng thực bào
giảm đi rõ rệt. Protein A được ứng dụng vào kỹ thuật đồng ngưng kết để xác
định nhiều loại kháng nguyên vi sinh vật [22], [24],[37].
- Vỏ polysaccharid: Một số ít chủng S. aureus có vỏ và có tính kháng nguyên.
Vỏ của S. aureus tác dụng chống thực bào do vỏ đã che phủ peptidoglycan của
vách, làm cho bổ thể không có chổ bám để hoạt hoá theo con đường tắt [22].
- Kháng nguyên adherin (yếu tố bám): S. aureus có protein bề mặt đặc hiệu,
có tác dụng bám (adherin) vào receptor đặc hiệu tế bào. Adherin có thể là các
protein: laminin, fibronectin, collagen. Sự bám này có liên quan đến sự định
vị của S. aureus trên mô, sự xâm nhập và chống thực bào [22].
8
S. aureus có hệ thống enzym phong phú, các enzym dùng trong chẩn
9
Về cơ chế gây bệnh, độc tố ruột kích thích tạo ra một lượng lớn interleukin I
và II [10].
+ Độc tố gây hội chứng sốc nhiễm độc (Tocxic shock syndrome toxin TSST): độc tố gây sốc nhiễm độc thường gặp ở những phụ nữ có kinh dùng
bông băng dày bẩn hoặc những người bị nhiễm trùng vết thương. Cơ chế gây
sốc của nó tương tự như của nội độc tố [10].
+ Exfoliatin toxin hay epidermolitic toxin: đây là một ngoại độc tố. Nó
gây nên hội chứng phỏng rộp và chốc lở da ở trẻ em. Nó gồm hai loại A và B
và có tính đặc hiệu kháng nguyên riêng biệt. Kháng thể đặc hiệu có tác dụng
trung hoà độc tố này.
+ Alpha toxin: độc tố này gây tan các bạch cầu có nhân đa hình và tiểu
cầu, từ đó gây ra các ổ áp xe, gây hoại tử da và tan máu. Nó gắn trên màng tế
bào và thể hiện các thuộc tính hoạt động bề mặt. Độc tố có tính kháng nguyên
nhưng kháng thể của nó không có tác dụng chống nhiễm khuẩn [22].
+ Độc tố bạch cầu (Leucocidin): Mặc dù một số Staphylolysin chứa
độc tố bạch cầu, nhưng chỉ có một độc tố S. aureus thực sự độc với bạch cầu
gọi là leucocidin, độc tố này gây độc cho bạch cầu người và thỏ và không gây
độc cho bạch cầu các loại động vật khác. Leucocidin bao gồm 2 mảnh F và S.
Nếu tách rời 2 mảnh này thì mất tác dụng gây độc [10].
+ Ngoại độc tố sinh mủ (pyogenic exotoxin): có 3 loại A,B,C đều có
tác dụng gây sinh mủ và tính đặc hiệu kháng nguyên.
+ Dung huyết tố (Staphylolysin)
+ Fibrinolysin (Staphylokinase) là một enzym đặc trưng cho các chủng
gây bệnh ở người, giúp S. aureus phát triển trong các cục máu và gây vỡ các
cục máu này, tạo nên tắc mạch.
1.2.3. Khả năng gây bệnh
- Cơ chế gây bệnh:
11
+ Viêm phổi: do S. aureus ít gặp, nó chỉ xảy ra sau viêm đường hô hấp
do virus (như cúm) hoặc sau nhiễm khuẩn huyết, tuy nhiên viêm phổi tiên
phát thường hay gặp ở trẻ em và người suy yếu.
+ Nhiễm độc thức ăn và viêm ruột cấp: Ngộ độc thức ăn do S. aureus
do ăn uống phải độc tố ruột của S. aureus hoặc do S. aureus vốn cư trú ở
đường ruột chiếm ưu thế về số lượng. Nguyên nhân là sau một thời gian dài
bệnh nhân dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng dẫn đến các vi khuẩn chí bình
thường của đường ruột nhạy cảm kháng sinh bị tiêu diệt và tạo điều kiện
thuận lợi cho S. aureus kháng kháng sinh tăng trưởng về số lượng [10],[24].
+ Nhiễm khuẩn bệnh viện do S. aureus thường hay gặp, nhất là đối với
nhiễm trùng vết mổ và vết bỏng... từ đó dẫn tới nhiễm khuẩn huyết. Các
chủng S. aureus này có khả năng kháng kháng sinh mạnh và phải dùng tới
vancomycin.
+ Hội chứng da phồng rộp: Một số S. aureus tiết độc tố exfoliatin, gây
viêm da hoại tử, ly giải và phồng rộp. Bệnh gặp ở trẻ mới đẻ, tiên lượng xấu.
+ Hội chứng sốc nhiễm độc (toxic shock syndrome): Hội chứng này
thường gặp ở phụ nữ sử dụng bông gạc không sạch khi có kinh nguyệt. Bệnh
khu trú ở âm đạo và căn nguyên là S. aureus [10].
1.3. TÌNH HÌNH KHÁNG KHÁNG SINH CỦA S. AUREUS
Sự kháng lại kháng sinh của S. aureus là một đặc điểm rất đáng lưu ý.
Sự hình thành yếu tố kháng thuốc kháng sinh là một trong những vấn đề quan
trọng nhất của các nghiên cứu về S. aureus. Các chủng S. aureus kháng
penicillin G và các aminopenicillin do chúng sản xuất được men penicillinaza
nhờ gen R plasmid mà nó có thể truyền cho các vi khuẩn khác qua phage hoặc
do sự tiếp hợp giữa các vi khuẩn. Các penicillin M và cephalosporin vẫn còn
hoạt tính và không bị ly giải bởi penicillinaza, ngoại trừ các chủng ở bệnh
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn chọn: Là 73 nhân viên y tế làm việc ở các khoa, phòng
gồm : khoa Nội, khoa Ngoại, khoa Sản, khoa Nhi, khoa Thăm dò chức năng
và khoa Ung bướu của Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế, trong đó:
bác sĩ: 31 người, điều dưỡng và kỹ thuật viên: 32 người, hộ lý: 10 người
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Nhân viên mắc các bệnh viêm nhiễm ở bàn tay
+ Người đang dùng kháng sinh
+ Nhân viên từ chối tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Vi khuẩn
Các chủng S. aureus phân lập được từ bàn tay các nhân viên y tế.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu
- Nghiên cứu trên mẫu: loại mẫu sử dụng: mẫu chùm
- Tất cả nhân viên y tế đang công tác tại các khoa, phòng (khoa Nội,
khoa Ngoại, khoa Sản, khoa Nhi, khoa Thăm dò chức năng và khoa Ung
bướu) của Bệnh Viện Trường Đại Học Y Dược Huế có mặt tại thời điểm
nghiên cứu, đều tạo nên mẫu nghiên cứu.
2.3. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.3.1. Môi trường nuôi cấy, phân lập và xác định vi khuẩn
2.3.1.1. Môi trường nuôi cấy, phân lập [3], [19], [22], [33].
+ Canh thang ống BHI (Brain Heart Infusion):
14
Hấp vô trùng 1210C trong 15 phút.
+ Canh thang glucose 0,2%:
Nước thịt
1000 ml
Bacteriological peptone 5,0 gr
Sodium chloride
5,0 gr
Glucose
2,0 gr
pH= 7,4 +− 0,2
Cân các hoá chất trên, cho vào 1 lít nước thịt, lắc cho tan đều và điều
chỉnh pH bằng dung dịch xút đậm đặc trong khi đun cách thuỷ. Chia nhỏ ra
ống 5 ml để tiệt trùng 1210C trong 15 phút.
+ Thạch máu: Thạch máu cơ sở (Blood Agar Base) hãng Oxoid, Anh được
hấp ướt 1210C trong 30 phút, để nguội 50 0C. Cho máu thỏ tươi vô khuẩn 5%
đã được chống đông bằng natri citrat 3,8 %, lắc nhẹ cho máu và thạch trộn
đều, rồi để nguội 500C, đổ vào các hộp lồng, giữ trong tủ lạnh dùng dần.
+ Thạch Chapman: Công thức như sau:
Thạch thường
1000ml
Đường mannit
Được pha chế theo công thức chuẩn gồm [21].
* Dung dịch tím tinh thể có:
Crystal violet
10 g
Methyl alcohol 96%
500 ml
Iodine crystals
6g
Nước cất
800 ml
Potassium iodide
12 g
* Dung dịch lugol:
* Dung dịch cồn tẩy màu: Cồn ethylic
96%
* Dung dịch fuchsin 0,1 % dùng nhuộm Gram được chế từ thuốc nhuộm
carbol fuchsin của Ziehl như sau:
chỗ tối trong nhiệt độ phòng và có thể sử dụng được trong vòng 6 tháng. Độ
đục này tương ứng với khoảng 108 vi khuẩn trong 1 ml.
2.3.1.4. Dụng cụ
Dĩa petri, ống nghiệm, pipet vô khuẩn hoặc ống hút, que tăm bông vô
khuẩn, găng tay vô khuẩn.
2.3.1.5. Chủng vi khuẩn chuẩn quốc tế
Chủng chuẩn được sử dụng để kiểm tra chất lượng kháng sinh đồ là: S.
aureus ATCC 25923.
2.4. KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU
2.4.1. Cách thức lấy mẫu nghiệm [2]
Lấy bệnh phẩm ở tay tại 3 điểm: đầu ngón trỏ, kẻ ngón trỏ và ngón
giữa, lòng bàn tay.
Sau khi lấy bệnh phẩm từ tay nhân viên, đem cấy trực tiếp vào môi
trường thạch dinh dưỡng, ủ ấm 370C trong 24 giờ.
17
2.4.2. Quy trình nuôi cấy phân lập S. aureus
- Sau 24 giờ, từ môi trường nuôi cấy, xác định khuẩn lạc nghi ngờ là tụ cầu
dựa vào hình thể bên ngoài: là những khuẩn lạc S (tròn, lồi, nhẵn, bóng,
đường kính 1- 2 mm), nhuộm gram để nhận biết hình thể, tính chất bắt màu.
- Sau khi xác định được là cầu khuẩn gram dương, trích biệt và xác định tụ
cầu gây bệnh theo thường quy xét nghiệm của phòng thí nghiệm.
+ Các tính chất sinh vật học để xác định S. aureus:
* Cầu khuẩn gram dương xếp, thành từng đám
* Tạo catalaza
* Tạo coagulaza
* Lên men đường mannit
nếu kết quả vẫn không thay đổi thì kết luận âm tính thực sự.
* Cả 3 ống đều đông: kết luận huyết tương đã hỏng
* Cả 3 ống đều không đông: S. aureus mẫu hoặc huyết tương đã hỏng hoặc
cả hai.
- Thử nghiệm lên men đường mannit: cấy S. aureus vào một ống thạch
chapman, ủ ở 37oC, 18 - 24 giờ sau đọc kết quả. Nếu màu của môi trường
chuyển sang vàng là thử nghiệm dương tính.
Về lý thuyết thì phải làm thêm nhiều thử nghiệm nữa mới có thể khẳng
định được vai trò gây bệnh của S. aureus, song hai thử nghiệm này là quan
trọng nhất và thực tế hàng ngày hai thử nghiệm này là phổ biến nhất.
2.4.4. Kỹ thuật xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh
Xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn đối với kháng sinh bằng kỹ thuật
khoanh giấy kháng sinh khuyếch tán trong thạch (Kirby - Bauer)
2.4.4.1. Nguyên lý:
Dùng khoanh giấy có đường kính và độ dày nhất định, vô trùng đã tẩm
sẵn kháng sinh với một nồng độ nhất định (dựa vào hiệu lực của từng kháng
sinh), đặt lên một đĩa môi trường đã nuôi cấy vi khuẩn. Nồng độ vi khuẩn
19
cũng đã được qui định trước. Để tủ ấm cho vi khuẩn mọc và đo đường kính
vòng ức chế vi khuẩn xung quanh khoanh giấy kháng sinh, dựa vào đó xác
định mức độ nhạy cảm của vi khuẩn được thử với kháng sinh đó [3].
2.4.4.2. Các bước tiến hành:
- Chuẩn bị môi trường: Môi trường được chuẩn bị theo hướng dẫn của
từng hãng sản xuất bằng cách cân chính xác lượng thạch Mueller - Hinton khô
và hoà tan vào trong nước cất trung tính, kiểm tra pH trước khi hấp tiệt khuẩn.
Trong khi hấp, tránh để môi trường ở nhiệt độ cao và thời gian dài hơn sự cần
thiết, vì điều đó sẽ làm giảm khả năng đệm và thay đổi pH của môi trường.
mm. Để dĩa thạch ở nhiệt độ phòng khoảng 30 phút cho kháng sinh khuyếch
tán, rồi để môi trường trong tủ ấm 350C qua đêm.
- Đọc kết quả: Dùng thước chia mm đo đường kính vùng ức chế, dựa
vào tiêu chuẩn của từng hãng sản xuất khoanh giấy kháng sinh, ta có mức độ
nhạy cảm, trung gian và đề kháng của vi khuẩn (xem bảng)
2.5. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007
2.6. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học dựa trên chương
trình xử lý số liệu thống kê Epi info 6.04 và chương trình Whonet để phân
tích kết quả xét nghiệm [13].
21
Bảng 2.1. Tiêu chuẩn cho phép của Staphylococcus aureus với các
kháng sinh (đường kính vùng ức chế)- theo NCCLS-1998[3].
Nồng độ
trong khoanh
Penicillin(P)
Cephalothin(CE)
Ceftazidim(CAZ)
Ceftriaxon(CRO)
Gentamycin(GM)
Augmentin(AMC)
Oxacillin(OX)
Erythromycin(E)
Ciprofloxacin(CIP)
≤ 12
≤ 13
≤ 10
≤ 13
≤ 15
≤ 10
≤ 9
≤ 14
≤ 14
≤ 17
≤ 12
Trung gian
(I)
15-17
15-17
14-20
13-14
14-17
11-12
14-22
16-20
11-15
10-11
15-17
15-18
18-20
13-17
Nhạycảm
Gentamicin
Norfloxacin
Penicillin
Tobramycin
Tri/ Sulfa
Vancomycin
30
10
30
30
30
30
30
30
15
10
10
10 (U.I)
10
25
30
S. aureus
ATCC 25923
20 - 26
27 - 35
25 - 31
kỹ thuật viên
Hộ lý
Tổng
Số lượng
31
32
Tỷ lệ (%)
42,5
43,8
10
73
13,7
100
Nhận xét: Điều tra trên 73 đối tượng, trong đó bác sĩ 31 người, chiếm
Biểu đồ 3.1. Tỷ lê
tỷ lệ 42,5%, hộ lý 10 người chiếm 13,7%. Nhóm đối tượng chiếm tỷ lệ cao
nhất là điều dưỡng và kỹ thuật viên 32 người chiếm tỷ lệ 43,8%.
Bảng 3.2. Tỷ lệ phân bố đối tượng nghiên cứu theo bàn tay
Tay
Tay phải
Tay trái
Tổng
Số lượng
45
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ mang S. aureus chung
Nhận xét: Qua bảng 3.3 và biểu đồ 3.2 cho thấy, trong tổng số 73 nhân
viên y tế, có 46 người nhiễm S. aureus, chiếm tỷ lệ 63,0%.
3.1.3. Phân loại tỷ lệ mang S. aureus theo nghề nghiệp
Bảng 3.4. Tỷ lệ mang S. aureus theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp
Bác sĩ
ĐD&KTV
Hộ lý
Tổng
Số lượng S. aureus(+)
19
21
6
46
Tỷ lệ(%)
41,3
45,7
13,0
100
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ mang S. aureus theo nghề nghiệp
24
Nhận xét: Tỷ lệ mang S.aureus chung là 63,0%, trong đó điều dưỡng và
kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ 45,7%, tiếp đến là bác sĩ chiếm tỷ lệ 41,3%, thấp
Tổng số Coagulaza
chủng
(+)
Số chủng
Tỷ lệ(%)
46
63,0
46
100
(+)
Sắc tố
vàng
(+)
Deoxy
ribo
nucleaza
(+)
34
73,9
29
63,0