TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN SINH HỌC
ĐẶNG THỊ THANH TRÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA BENZYL ADENINE
(BA), NAPTHALENE ACETIC ACID (NAA)
VÀ KHOÁNG ĐA LƯỢNG MS TRÊN SỰ
NHÂN CHỒI VÀ TẠO RỄ CÂY MUỒNG
HOA PHÁO (Calliandra calothyrsus Meissn.)
IN VITRO
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: SINH HỌC
Cần Thơ, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN SINH HỌC
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành: SINH HỌC
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA BENZYL ADENINE
(BA), NAPTHALENE ACETIC ACID
(NAA) VÀ KHOÁNG ĐA LƯỢNG MS
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
Cần Thơ, ngày.....tháng.....năm 2015
Cán bộ hướng dẫn
TS. Lê Vĩnh Thúc
i
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN SINH HỌC
Sự chấp thuận của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp với đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA BENZYL ADENINE (BA), NAPTHALENE ACETIC
ACID (NAA) VÀ KHOÁNG ĐA LƯỢNG MS TRÊN SỰ NHÂN CHỒI VÀ
TẠO RỄ CÂY MUỒNG HOA PHÁO (Calliandra calothyrsus Meissn.) IN
VITRO.
Do sinh viên Đặng Thị Thanh Trân thực hiện và bảo vệ trước hội đồng chấm
luận văn.
Luận văn tốt nghiệp đã được hội đồng đánh giá ở mức:
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
TS. Lê Vĩnh Thúc đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá
trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp.
-
Chân thành cám ơn thầy Mai Vũ Duy, thầy Nguyễn Bảo Toàn, cô Lê
Hồng Giang đã truyền đạt kiến thức về nuôi cấy mô để em có nên tảng
thực hiện luận văn.
Cố vấn học tập Phan Kim Định đã quan tâm và dìu dắt lớp em hoàn
thành tốt khóa học.
-
Chân thành cám ơn các thầy cô khoa Khoa Học Tự Nhiên đã truyền đạt
kiến thức cho em từ đầu năm đến hôm nay.
Xin chân thành cảm ơn
-
Chị Duyên, Chị Trân, các bạn Dũng, Hà, Lai, các em Hồng Anh, Minh
đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
iv
TIỂU SỬ CÁ NHÂN
I.LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Họ và tên: Đặng Thị Thanh Trân
Ngày sinh: 13/01/1993
khoa Khoa học Tự nhiên
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. iii
LỜI CẢM TẠ ................................................................................................... iv
TIỂU SỬ CÁ NHÂN ......................................................................................... v
MỤC LỤC ........................................................................................................ vi
DANH MỤC BẢNG ....................................................................................... viii
DANH SÁCH HÌNH......................................................................................... ix
DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT .......................................................... x
TÓM LƯỢC...................................................................................................... xi
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... xii
CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU ............................................................. 1
1.1 Giới thiệu sơ lược về cây muồng hoa pháo ................................................ 1
1.1.1 Hệ thống phân loại thực vật............................................................... 1
1.1.2 Nguồn gốc và sự phân bố .................................................................. 1
1.1.3 Đặc điểm sinh học, hình thái ............................................................. 1
1.1.4 Vai trò của muồng hoa pháo trong đời sống ...................................... 3
1.1.5 Thành phần hóa học của muồng hoa pháo......................................... 5
1.2 Nuôi cấy mô và phương pháp vi nhân giống .............................................. 6
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của vi nhân giống ................................................. 7
1.2.2 Các giai đoạn vi nhân giống.............................................................. 8
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vi nhân giống ......................................... 10
1.3. Vai trò của các chất điều hòa sinh trưởng................................................ 12
1.4 Một số kết quả vi nhân giống cây thân gỗ ................................................ 14
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP ...................................... 16
2.1 PHƯƠNG TIỆN ...................................................................................... 16
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Số chồi muồng hoa pháo in vitro gia tăng trung bình (chồi)
trong môi trường có nồng độ BA và NAA khác nhau ở 4 TSKC
21
3.2
Số chồi muồng hoa pháo in vitro gia tăng trung bình (chồi)
trong môi trường có nồng độ BA và NAA khác nhau ở 6 TSKC
23
3.3
Chiều cao muồng hoa pháo in vitro gia tăng trung bình (cm)
trong môi trường có nồng độ BA và NAA khác nhau ở 4 TSKC
3.8
Số rễ muồng hoa pháo in vitro tạo thành trung bình (rễ) trong
môi trường có nồng độ khoáng đa lượng và NAA khác nhau ở 4
TSKC
30
3.9
Chiều dài rễ trung bình (cm) muồng hoa pháo in vitro trong môi
trường có nồng độ khoáng đa lượng và NAA khác nhau ở 2
TSKC
31
3.10
Chiều dài rễ trung bình (cm) muồng hoa pháo in vitro trong môi
trường có nồng độ khoáng đa lượng và NAA khác nhau ở 4
TSKC
32
3.11
Chiều cao chồi muồng hoa pháo in vitro gia tăng trung bình
(cm) trong môi trường có nồng độ khoáng đa lượng và NAA
khác nhau ở 2 TSKC
DANH SÁCH HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
1.1
Lá, hoa và quả của cây muồng hoa pháo
2
2.1
Mẫu chồi muồng hoa pháo in vitro
11
3.1
Chồi muồng hoa pháo in vitro trong môi trường có
nồng độ BA và NAA khác nhau ở 6 TSKC
22
3.2
Mô sẹo ở gốc cụm chồi muồng hoa pháo in vitro ở 6
TSKC
CF
Xơ thô
DM
Vật chất khô
In vitro
Trong ống nghiệm
MS
Murashige and Skoog (1962)
NAA
Napthalene Acetic Acid
NDF
Xơ không tan trong chất rửa trung tính
OM
Chất hữu cơ
TSKC
tạo rễ.
xi
MỞ ĐẦU
Muồng hoa pháo (Calliandra calothyrsus Meissn.) còn được gọi là cây
Keo củi, thuộc họ Fabaceae, có nguồn gốc ở Trung Mỹ và Mexicco, được tìm
thấy ở miền nam Mexico tới miền Trung Panama (MacQueen, 1992). Cây
được nhập nội vào Việt Nam trong những năm gần đây. Cây Muồng hoa pháo
được trồng và sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như: làm củi, làm cây
cảnh, cải tạo đất, làm thức ăn gia súc, sản xuất thứ cấp nhỏ (giấy, bột giấy, mật
hoa, nhựa cánh kiến...). Ở Việt Nam, tuy mới được trồng khảo nghiệm,
nhưng muồng hoa pháo tỏ ra có nhiều triển vọng cho một số vùng trồng để
phủ đất, trồng trong nông lâm kết hợp và làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho gia
súc. Tuy vậy, việc nhân giống cây muồng hoa pháo hiện nay được thực hiện
bằng các phương pháp truyền thống, trong đó phương pháp gieo hạt là phổ
biến. Phương pháp nhân giống bằng hạt, những cây con ở thế hệ sau thường ít
giữ đặc tính của bố mẹ. Bên cạnh đó, cây sản xuất hạt kém, nên việc phát triển
cây muồng hoa pháo hiện nay phải nhập hạt giống từ nước ngoài nên vừa đắt
tiền vừa không chủ động được nguồn giống (Nguyễn Văn Quang, 2011). Ngày
nay, phương pháp nuôi cấy mô đã được áp dụng rộng rãi trên nhiều loài thực
vật. Vì vậy, việc áp dụng phương pháp này để nhân giống cây muồng hoa
pháo, nhằm cung cấp một lượng lớn cây giống trong một thời gian ngắn. Bên
cạnh đó còn đảm bảo về mặt di truyền từ cây mẹ, làm hạ giá thành vận
chuyển, bảo quản cây giống cũng thuận tiện (Nguyễn Đức Thành, 2000). Đề
tài được thực hiện với mục tiêu tìm nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng
(BA, NAA), nồng độ khoáng đa lượng MS thích hợp cho nhân chồi, tạo rễ cây
muồng hoa pháo in vitro nhằm tạo ra cây con với số lượng lớn.
lạnh khá tốt. Trong những vùng khí hậu nhiệt đới ẩm ướt, cây phát triển khá
mạnh và giai đoạn khô hạn cây vẫn có màu xanh. Trong điều kiện khô nặng,
cây chết nhưng lại được phục hồi vào đầu mùa mưa (Wiersum and Rika 1992).
Muồng hoa pháo phát triển trong môi trường gió mùa ở điều kiện khô hạn kéo
dài (30 tháng) ở miền đông bắc Thái Lan (Palmer et al., 1994). Muồng hoa
pháo có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau kể cả đất axit (pH 5.0) và
không phát triển tốt trên đất đá vôi khô cằn. Theo Galang (1988), muồng hoa
pháo không chịu được ngập nước do thiếu oxy.
1
Muồng hoa pháo là loài cây bụi nhiều thân và cành, chiều cao cây 2-12 m
với đường kính thân khoảng 30 cm, vỏ màu nâu đỏ và tán cây rậm rạp. Lá kép
lông chim, cuống khá dài 10-19 cm, có từ 6-20 đôi kép lông chim, 19-20 đôi
lá chét. Lá con phân nhỏ, lá mọc hai phía so le trên cùng một cuống (Palmer et
al., 1994). Cây thường rụng lá vào mùa khô và có khả năng đâm chồi rất mạnh
nếu bị đốn liên tục. Đây là loài phổ biến ở những khu vực có mùa khô từ 4 đến
6 tháng, những nơi có lượng mưa nhỏ hơn 50mm trên 1 tháng. Rễ của cây
muồng hoa pháo phát triển khá mạnh mẽ và có thể đạt chiều dài 3,5 m trong
vòng 6 tháng (Wiersum and Rika, 1992) (Hình 1.1).
(Nguồn:o/key/Forages/Media/Html/Calliandra_calothyrsus.htm)
Hình 1.1: Lá, hoa và quả của cây muồng hoa pháo
Hoa muồng hoa pháo mọc thành chùm, cụm hoa bao gồm một vài hoặc
nhiều đầu hoa, cụm hoa dài 10-30 cm (Palmer et al., 1994). Hoa có nhị đực rất
dài, màu đỏ tươi như xác pháo (nên gọi là muồng hoa pháo). Hoa sặc sỡ, màu
đỏ tía; nhị hoa dài 4-6 cm; đài hoa dài 2 mm; tràng hoa dài 5-6 mm, nhẵn hay
gần như nhẵn (không có lông); lá đài và cánh hoa có màu xanh. Thời gian ra
tươi là khoảng 60% trong khi đó nguyên liệu phơi khô chỉ có 35 - 42%. Hàm
lượng tannin có trong cây là hợp chất ảnh hưởng đến tiêu hóa cũng như lượng
ăn vào của gia súc. Lá của muồng pháo cũng được sử dụng như là thức ăn bổ
sung cho gia cầm (Paterson et al., 2000). Lá và ngọn muồng hoa pháo phơi
khô nghiền thành bột làm thức ăn bổ sung cho gà đẻ trứng, gà thịt tỷ lệ 3-5%
trong 100 g bột cám.
- Làm củi
Gỗ muồng hoa pháo khô nhanh chóng và cháy tốt, sản xuất khoảng 4.600
kcal nhiệt trên mỗi kg củi khô và 7.200 kcal nhiệt trên mỗi kg than. Theo
Yantasath et al. (1985) và Lowry and Macklin (1989), gỗ của muồng hoa pháo
có khối lượng thể tích đạt từ 510-780 kg/m3 và nhiệt lượng tỏa ra khoảng
4.720 kcal/kg. Bên cạnh đó, độ ẩm của muồng hoa pháo thấp hơn so với các
loại gỗ khác. Vì vậy, nó được xem như là một loại củi tốt. Hơn 30.000 ha
muồng hoa pháo trồng làm củi đã được thành lập trên đất công và đất tư ở
Java, Indonesia. Indonesia ước tính một ha muồng hoa pháo có thể sản xuất ra
14 tấn than (NAS, 1983). Sản lượng củi muồng hoa pháo hàng năm dao động
từ 5 đến 20 m 3/ha rừng trồng một tuổi và từ 30 đến 65 m 3/ha rừng trồng 20
tuổi (NAS, 1983).
- Cải tạo đất
3
Muồng hoa pháo như là một loài cây cố định nitơ và phát triển gắn với vi
khuẩn Rhizobium. Rễ có thể phát triển trong đất bạc màu vì sự cộng sinh
với Rhizobium và nấm Mycorrhiza (Orwa et al., 2009). Muồng hoa pháo có
vai trò cải thiện tính chất hoá học của đất (Gichuru and Kang, 1989). Theo
Nguyễn Viết Khoa và ctv. (2006), cây muồng hoa pháo mọc nhanh, có bộ rễ
phát triển, có nhiều nốt sần chứa vi khuẩn cố định đạm có tác dụng che phủ,
bảo vệ, cải tạo, tăng mùn và đạm trong đất.
- Nguyên liệu giấy
- Trồng xen canh
Muồng hoa pháo được trồng như một cây xen canh trong các đồn điền
dừa, ngô, chuối và hỗ trợ cho leo đậu (Palmer et al., 1994; Kaho et al., 2007;
Orwa et al., 2009). Tại Sri Lanka, muồng hoa pháo đã được trồng trong vườn
dừa để giảm cỏ dại phát triển, duy trì độ ẩm của đất, cải thiện cấu trúc và độ
phì của đất. Muồng hoa pháo sản xuất khoảng 5 tấn/ha chất khô, cung cấp
nguồn nitơ và phân xanh cho cây dừa. Ngoài việc cung cấp nitơ, lá muồng hoa
pháo phân hủy từ từ tạo một lớp phủ tốt cho việc duy trì độ ẩm của đất và
ngăn chặn cỏ dại phát triển trong mùa khô (Liyanage and Abeysoma, 1996).
- Kiểm soát xói mòn và sạt lở đất
Muồng hoa pháo được trồng trên các sườn đồi dốc ở Nam Sulawesi,
Indonesia, để kiểm soát xói mòn đất và ngăn chặn lở đất. Do cây có thể gieo
trực tiếp và tăng trưởng nhanh chóng. Theo Sebuliba et al. (2012), muồng hoa
pháo được sử dụng để phục hồi các khu vực dễ bị xói mòn và đất nông nghiệp
bạc màu.
1.1.5 Thành phần hóa học của muồng hoa pháo
Muồng hoa pháo chứa tannin, nhựa, glycosides, alkaloid, và saponin.
Theo Võ Anh Thi (2007), muồng hoa pháo có hàm lượng các dưỡng chất:
27,62% DM; 23,29% CP; 22,34% CF; 24,28% ADF; 31,38% NDF. Theo
Maasdrop et al. (1999), phần ăn được của muồng hoa pháo cho gia súc có hàm
lượng ADF, NDF là 49,4% và 63,5%.
Muồng hoa pháo không có thành phần độc hại, mặc dù mức độ tannin
cao (NAS, 1983). Theo Jackson et al. (1996), hàm lượng tannin có trong cây
khoảng 20%.
5
Bảng 1.1: Thành phần hóa học của lá, vỏ quả màu xanh lá cây, hạt và thân cây nhỏ
418
82
707
259
635
ADF
235
51
523
197
494
N
36
5
17.9
5
0
4.6
7.9
4.4
Axit glutamic
12
7
8.5
15.6
5.1
Glycine
5
2
2.1
4
1
3.9
4.7
2.6
Leucine
7
2
6.7
9.0
4.2
Tyrosine
4
1
2.7
6
2
3.9
8.2
3.5
Arginine
6
2
4.0
6.7
3.0
Cystine
1
0
1.0
1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của vi nhân giống
Vi nhân giống là việc nhân đúng kiểu cây (true-to-type) của một kiểu gen
được tuyển chọn bằng cách sử dụng kỹ thuật in vitro. Vi nhân giống thông
thường là phương pháp nhân nhanh và giảm giá thành (Nguyễn Bảo Toàn,
2010).
Vi nhân giống được bắt đầu bằng tách đỉnh chồi hoặc mô phân sinh từ các
cây sau đó khử trùng và đưa vào nuôi cấy ở môi trường mới và qui trình cứ thế
được lặp lại. Ngoài ra, vi nhân giống có thể thực hiện thông qua việc tạo phôi
hoặc tái sinh cây thẳng từ mô sẹo. Phương pháp này cho số lượng lớn cây giống
đồng nhất trong cùng một lúc với khoảng thời gian ngắn, nhưng thường kéo
theo sự biến dị soma (Nguyễn Đức Thành, 2000).
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2010) thì vi nhân giống có những ưu và khuyết
điểm sau:
* Ưu điểm:
- Cây con tạo ra có đặc điểm di truyền giống cây mẹ.
- Nhân giống từ các mẫu cấy rất nhỏ.
- Tạo ra cây sạch bệnh.
- Tạo ra số lượng cây nhiều trong thời gian ngắn.
- Không lệ thuộc vào thời tiết hay mùa vụ.
- Mẫu vật có thể dự trữ lâu dài.
- Không đòi hỏi diện tích nhiều như duy trì cây gốc ngoài đồng ruộng.
- Không tốn chi phí lao động để chăm sóc cây mẹ.
* Khuyết điểm:
- Chi phí đầu tư ban đầu khá tốn kém.
- Để tồn tại trong in vitro, cây cần nhiều năng lượng cung cấp từ bên ngoài
như đường. Cây không tự quang hợp được, mặc dù gần đây vài tác giả đề nghị
nuôi cấy in vitro tự dưỡng.
- Cây in vitro có sức sống yếu hơn cây trồng bên ngoài trong giai đoạn đầu
gibberellin,…) các chất bổ sung khác như nước dừa, nước chiết nấm men, dịch
thủy phân casein,…, kết hợp với các yếu tố nhiệt độ, ánh sáng phù hợp. Tùy
thuộc vào đối tượng nuôi cấy, người ta có thể nhân nhanh bằng cách kích thích
sự hình thành cụm chồi (nhân cụm chồi) hay kích thích sự phát triển của các
chồi nách (vi giâm cành) hoặc thông qua việc tạo cây từ phôi vô tính.
Có 3 phương pháp nhân chồi là phát sinh chồi bất định từ mô sẹo nhận
được từ mô sinh vật nuôi cấy, phát sinh chồi bất định trực tiếp từ mô sinh vật
không thông qua mô sẹo và phương pháp nhân chồi bên (Nguyễn Đức Lượng
và Lê Thị Thuỷ Tiên, 2002). Trong đó phương pháp khá đơn giản để nhân
nhanh số chồi là phương pháp nhân chồi bên. Có lẽ tiềm năng phát triển mạnh
nhất của phương pháp này là áp dụng đối với cây thân gỗ vì khó có thể áp dụng
phương pháp nhân giống bằng cách tạo soma trên loại cây này (Nguyễn Đức
Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên, 2002).
8
Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này chính là kích thích sự tái sinh
chồi từ các mầm ngủ. Mầm ngủ thực chất có cấu tạo không khác đỉnh sinh
trưởng thân. Do tính ưu thế chồi ngọn, các mầm bên ở trạng thái miên trạng và
không phát triển. Do đó, khi các chồi bên được xử lý với chất điều hoà sinh
trưởng sẽ phá vỡ miên trạng và phát triển thành những chồi có lá đầy đủ như
thân chính. Các chồi có thể được tách ra, đưa vào môi trường tạo rễ để tạo
thành cây hoàn chỉnh hay sử dụng cho quá trình nhân giống trở lại (Oluf and
Gregory, 1995).
Chồi được thành lập từ việc kích thích mầm ngủ nên nên số chồi phụ
thuộc vào số mầm ngủ còn sống. Bên cạnh việc sử dụng cytokinin ở nồng độ
cao để loại bỏ ưu thế chồi ngọn, có thể cắt bỏ chồi ngọn hay làm chết chồi ngọn
(George, 1993).
Giai đoạn 4: Kéo dài, tạo rễ và tiền thuần dưỡng
1.2.3.1 Môi trường nuôi cấy
Nhu cầu dinh dưỡng cho sự sinh trưởng tối ưu ở các loài là không giống
nhau, ngay cả giữa các bộ phận trong cùng một cơ thể cũng ít nhiều có sự khác
nhau. Do đó, thành phần môi trường nuôi cấy mô thực vật thay đổi tùy theo
loài và bộ phận nuôi cấy. Tuy vậy, tất cả các môi trường nuôi cấy bao giờ
cũng gồm có năm thành phần: Đường, các khoáng đa lượng, các khoáng vi
lượng, các vitamin, các chất điều hòa sinh trưởng. Ngoài ra, người ta còn thêm
một số chất hữu cơ có thành phần hóa học xác định (acid amin, EDTA,...)
hoặc không xác định (nước dừa, dịch chiết nấm men,...).
* Nước
Nước là dung môi quan trọng trong môi trường nuôi cấy. Nước sử dụng
trong nuôi cấy thường là nước cất một lần. Trong một số trường hợp người ta
cũng sử dụng nước cất hai lần hoặc nước khử khoáng (Nguyễn Bảo Toàn,
2010).
* Dinh dưỡng khoáng
Các nguyên tố khoáng đa lượng gồm các nguyên tố được sử dụng ở nồng
độ trên 30 mg/l. Những nguyên tố đó là N, S, P, K, Mg và Ca. Riêng Na và Cl
cũng được sử dụng nhưng chưa rõ vai trò của chúng (Lê Trần Bình và
ctv.,1997). Trong nuôi cấy mô in vitro nguồn nitơ thường được sử dụng dưới
dạng nitrate (NO3-) và ammonium (NH4+) đồng thời cũng sử dụng các dạng
nitơ hữu cơ như acid amin. Các nguyên tố khoáng vi lượng là các nguyên tố
được sử dụng với nồng độ thấp hơn 30 mg/L, đó là các nguyên tố: Fe, Bo, Mn,
I, Mo, Zn, Cu, Ni, Co. Nồng độ khoáng đa lượng và vi lượng trong môi trường
ra rễ thường giảm đi một nửa so với bình thường. Nguyên nhân có lẽ là do nhu
cầu đạm của chồi trong giai đoạn này giảm xuống. Tuy nhiên điều này còn
phụ thuộc vào loài thực vật (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy Tiên, 2002).
Theo Vũ Văn Vụ (1999), giai đoạn ra rễ có thể sử dụng hàm lượng khoáng
MS: 1/2 MS hoặc 1/4 MS tùy theo đối tượng cây trồng. Một số nghiên cứu
cũng cho thấy rằng khi giảm hàm lượng khoáng trong môi trường nuôi cấy
giúp cây ra rễ tốt hơn. Trong nghiên cứu của Fatima and Anis (2012), tỷ lệ ra
định sự hòa tan của khoáng, ảnh hưởng sự hấp thu khoáng trong môi trường,
ảnh hưởng đến sự tạo gel khi hấp thử trùng (Nguyễn Bảo Toàn, 2010). Độ pH
dưới 5,5 làm cho agar khó chuyển sang trạng thái gel, còn pH lớn hơn 6 làm
cho agar có thể rất cứng (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006). Để chỉnh pH môi trường
có thể dùng dung dịch 10% hoặc 1N KOH hoặc NaOH và 1N HCl (Nguyễn
Đức Thành, 2000).
* Các vitamin
Trong môi trường nuôi cấy, đa số mô cấy chưa có cấu trúc để tự tổng
hợp đủ lượng cần thiết nên cần phải bổ sung thêm vitamin từ bên ngoài vào.
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2010), vitamin được sử dụng như là coenzym và chỉ
yêu cầu với lượng rất nhỏ (mg/L). Các vitamin thường được sử dụng nhiều
11