GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH DIÊN KHÁNH - Pdf 34

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH
DIÊN KHÁNH
Tác giả:

Ths. Nguyễn Văn Bảy

Bộ môn : Tài chính – Ngân hàng
Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn tín dụng vào nền
kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính an toàn và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng
thương mại (NHTM)1. Ngoài ra, việc quản lý vốn nhà nước một cách hiệu quả nhằm đảm bảo
việc thực thi các mục tiêu và chính sách phát triển kinh tế xã hội cũng đang đòi hỏi cần phải
tăng cường công tác quản lý nợ xấu, tránh tình trạng lẵng phí, thất thoát. Tăng cường công tác
quản lý nợ xấu, kiểm soát chất lượng tín dụng cụ thể là hạn chế, kiểm soát đến mức thấp nhất
nợ xấu là mục tiêu hàng đầu trong công tác quản trị tín dụng cũng như điều hành kinh doanh
của các ngân hàng với mục tiêu đảm bảo hoạt động tín dụng an toàn, hiệu quả. Bài viết này
với mục tiêu là tìm hiểu đâu là đối tượng được tiếp cận vốn tín dụng chủ yếu của chi nhánh ,
thực trạng nợ xấu và những nguyên nhân có thể dẫn đến nợ xấu trên cơ sở đưa ra các biện
pháp, chính sách phù hợp trong việc điều tiết các hoạt động tín dụng nhằm đảm bảo được nợ
xấu ở mức an toàn tại Ngân hàng Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn chi nhánh Diên
Khánh.
I. Thực trạng nợ xấu tại ngân hàng NN&PTNN chi nhánh Diên Khánh
Trong quan hệ tín dụng, việc phát sinh nợ xấu là điều không thể tránh khỏi, là hiện
tượng tự nhiên hợp với quy luật phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu
cung cấp vốn của các NHTM cho hoạt động kinh tế càng cao. Do đó, các nhà quản trị càng
phải đẩy mạnh công tác quản trị rủi ro nhằm hạ thấp tỷ lệ nợ xấu và đạt đến một tỷ lệ lý
tưởng cho hoạt động tín dụng. Trong những năm qua tình hình nợ xấu tại chi nhánh đã xử lý
tốt nhờ vào các chính sách và các biện pháp cứng rắn trong thu hồi và quản lý khoản nợ này.
a) Tình hình dư nợ cho vay tại chi nhánh
1


Nợ xấu theo thành phần kinh tế
DN ngoài quốc doanh
3,794 60,3%
1,508
39,8%
1067 33,2%
Hợp tác xã
127
2,2%
156
4,1%
132
4,1%
Hộ gia đình và cá thể sản xuất
2,193 37,5%
2,129
56,1%
2,016 62,7%
Tổng
5,850
100%
3,793
100%
3,215
100%
Tỷ lệ nợ xấu toàn chi nhánh
2,31%
1,71%
1,29%
Nguồn: Báo cáo tài chính của chi nhánh.


2

Năm 2012
Nợ xấu Tỷ trọng
1008
31,4%
912
28,8%


Nợ nhóm 5
Tổng nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu

4058

69,4% 1958
5850
2,31%

51,6%
3793
1,71%

1295

40,3%
3215
1,29%

Báo cáo tổng kết hoạt động NHNN Việt Nam 2005-2012

3


hàng tư nhân thì mới có khả năng tồn tại cạnh tranh. Làm tiền đề cho điều này, sản phẩm cho
vay hộ gia đình chính là một trong những hoạt động mang rủi ro cao nhất nhưng sẽ là sản
phẩm tín dụng chiến lược nhất để NHNo& PTNT huyện Diên Khánh cạnh tranh với các ngân
hàng khác.
II. Các hạn chế trong công tác quản lý nợ xấu tại chi nhánh
Tuy các năm qua chi nhánh đã có nhiều nổ lực trong công tác khắc phục các rủi ro làm
ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của mình. Tuy nhiên kết quả thu được chưa cao, rủi ro
vẫn lớn, nhất là rủi ro tín dụng mà biểu hiện qua tỷ lệ nợ xấu có giảm nhưng không đáng kể.
Vấn đề này làm cho ngân hàng mất một khoản tương đối lớn để trích lập dự phòng, đồng thời
cũng mất nhiều chi phí và thời gian để khắc phụccác năm qua tình hình cho vay của ngân
hàng liên tục tăng nhưng lợi nhuận thu về lại có khuynh hướng giảm. Vì vậy ngân hàng cần
nổ lực hơn nữa và có nhiều biện pháp tích cực, khả thi hơn nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp
nhất. Các hạn chế về quản lý nợ xấu:
- Áp dụng máy móc quy định tín dụng: Với những món vay chưa đến hạn trả nợ (chưa
hết kỳ hạn nợ) cũng đã tiềm ẩn những yếu tố rủi ro mà trong quá trình kiểm tra, giám sát món
vay đáng ra chi nhánh phải yêu cầu các cán bộ tín dụng phân hạng các khoản dư nợ này để có
biện pháp theo dõi, giám sát với mức độ khác nhau cho từng khoản vay, nhưng thực tế cán bộ
tín dụng chỉ quan tâm phân loại nợ theo những tiêu chí quy định cứng nhắc.
- Chi nhánh không áp dụng triệt để các biện pháp ngăn ngừa các khoản tín dụng có vấn
đề. Chi nhánh cũng tiến hành lập kế hoạch để gặp gỡ với khách hàng, song các kế hoạch chỉ
được lập ra khi nợ đã phát sinh vấn đề. Ngay trong quá trình xuất hiện các dấu hiệu nợ có vấn
đề chi nhánh đôi khi không nắm bắt được nên cũng không có biện pháp ngăn ngừa, khắc phục
cùng với KH nhằm cải thiện tình hình.
- Xử lý nợ xấu còn rất nhiều hạn chế. Xuất phát từ việc phân tích nguyên nhân của nợ có
vấn đề không đầy đủ dẫn đến việc xử lý còn rất nhiều hạn chế, chi nhánh hầu như không có

- Trình độ CBTD còn hạn chế.
Tại chi nhánh là doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện từng bước chuyển đổi với cơ cấu
nhân còn hạn chế: Khả năng thẩm định về khách hàng còn thiếu sót, chủ yếu đề cập đến: yếu
tố pháp lý, chất lượng phương án vay, tài sản đảm bảo… mà chưa thật sự quan tâm đến tình
hình tài chính của khách hàng, chưa thật sự quan tâm đến các thông tin từ bên ngoài như bạn

5


hàng của khách hàng vay vốn để tìm hiểu mức độ uy tín trong quan hệ kinh tế của khách
hàng.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng. Những người làm công tác tín dụng thường đùa với
nhau rằng “cho vay là quyền của ngân hàng, nhưng trả nợ là quyền của khách hàng”. Quả
thật, với vai trò là trung gian tài chính, hoạt động của ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ gặp
nợ xấu mà nguyên nhân một phần là do KH khi mà khả năng quản lý sản xuất kinh doanh của
họ còn nhiều hạn chế. Ngoài ra, nguyên nhân khác là khách hàng thường vay theo các quy
định, chính sách hỗ trợ của Nhà nước nên họ có tâm lý “ không muốn trả nợ cho NH”, bởi vì
nếu không trả hết thì cũng được Nhà nước hỗ trợ một phần, từ suy nghĩ đó gây ra tình trạng
nợ xấu có xu hướng gia tăng với khách hàng vay theo diện chính sách.
- Nguyên nhân khác như chưa có sự phối hơp đồng bộ của các cơ quan chức năng khi
mà NH đưa đơn khởi kiện KH khi xảy ra nợ xấu thì gặp phải bất cập về vấn đề thủ tục, thời
gian làm tình trạng nợ ngày càng xấu đi, phải trích lập quỹ DPRR rất nhiều.
II. Các giải pháp tăng cường quản lý nợ xấu tại chi nhánh
Nhằm quản lý nợ xấu có hiệu quả, ngăn ngừa và hạn chế nợ xấu cũng như chủ động
kiểm soát rủi ro có hiệu quả trong công tác quản lý nợ thì cần có những giải pháp mang tính
tổng thể và lâu dài. Các hướng giải pháp đưa ra đối với chi nhánh nói chung và hệ thống ngân
hành NN&PTNN nói chung đó là:
1. Hoàn thiện mô hình quản lý rủi ro tín dụng.
Việc xây dựng và hoàn thiện mô hình quản lý rủi ro tín dụng nhằm kịp đáp ứng với xu
thế phát triển nển kinh tế nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng trong bối cảnh mở cửa

các ứng dụng trong quản lý rủi ro tín dụng cho mình trên nhiều phương diện như tính toán đo
lường rủi ro tín dụng bao gồm: EL- Tổn thất dự kiến và UL- Tổn thất ngoài dự kiến. Như
vậy, việc đo lường rủi ro tín dụng đã được lượng hóa thành hai thước đo rất cụ thể là EL và
UL. Ở đây cần lưu ý rằng trái với quan điểm sai lầm xảy ra khá phổ biến cho rằng chỉ EL mới
phản ánh rủi ro tín dụng thì trong tư duy quản trị rủi ro hiện đại chỉ ra rằng chính ULmới thực
sự là thước đo rủi ro tín dụng. Điều này có thể được lý giải như sau: Kinh doanh tín dụng
không bao giờ có thể tránh khỏi bị tổn thất, EL là thước đo phản ánh chi kinh doanh trung
bình mà mọi ngân hàng đều phải trả trong hoạt động của mình, nếu chi phí đó (tổn thất) là có
thể dự đoán được và được bù đắp bởi dự phòng rủi ro thì không còn gây rủi ro cho ngân hàng
7


nữa. Khi đó, UL-những tổn thất ngoài dự kiến mới là mối tiềm ẩn cần phải tính toán. Chính vì
xuất phát từ quan điểm trên mà hiệp ước Basel II đã yêu cầu các ngân hàng phải duy trì một
mức vốn tối thiểu cần thiết để phòng vệ các tình huống tổn thất dự kiến quá lớn và không thể
bù đắp bằng nguồn vốn dự phòng hiện thời.
Như vậy, phương pháp đo lường rủi ro định lượng sẽ góp phần đảm bảo an toàn cho
hoạt động ngân hàng cũng như mang lại sự tiến bộ vượt bậc về phương thức quản lý rủi ro tín
dụng hơn so với phương pháp đo lường rủi ro định tính.
Hiện nay có trên 75%3 các NHTM Việt Nam áp dụng phương pháp đo lường rủi ro định
tính truyền thống, các ngân hàng này hầu hết chưa hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội
bộ theo tiêu chuẩn Basel II. Chỉ có một số ít, chưa tới 25% các NHTM đang trong quá trình
triển khai bổ sung phương pháp đo lường rủi ro định lượng vào việc đo lường và ước lượng
rủi ro.
b) Về mô hình quản lý rủi ro
Các NHTM Việt Nam hiện nay đang áp dụng hai mô hình quản lý rủi ro theo phương
thức sau:
- Mô hình quản lý rủi ro tín dụng tập trung: Dựa trên nguyên tắc tập trung tại một
bộ phận trong đó quyền quyết định tập trung tại trung ương, hội sở. Mô hình này ra đời dựa
trên nguyên tắc chính là tách biệt giữa ba chức năng: Chức năng kinh doanh,chức năng quản

kép. Còn lại 77% vẫn áp dụng theo mô hình kiểm soát đơn, chủ yếu dựa vào hệ thống kiểm
tra kiểm soát nội bộ của chính ngân hang mà ít có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan kiểm
toán hay các cổ động.
Vì vậy, với những yêu cầu của mô hình hình quản lý rủi ro tín dụng trong bối cảnh mới
thì việc xây dựng một mô hình quản lý rủi ro tín dụng dạng tổng thể kết hợp giữa ba cách
thức: Sử dụng phương pháp rủi ro định lượng kết hợp định tính vào trong đánh giá rủi ro và
tổn thất rủi ro, tổ chức quản lý rủi ro tập trung với hệ thống kiểm soát kép. Tuy nhiên để vận
hành mô hình tổng thể này cần thực hiện các điều kiện áp dụng như sau:
+ Điều kiện về năng lực tài chính: Mô hình đòi hỏi tiềm lực tài chính đủ mạnh để đầu
tư vào hệ thống công nghệ, kiện toàn bộ phận kiểm soát nội bộ của ngân hàng, đồng thời
thuê kiểm toán bên ngoài và thực hiện niêm yết công khai trên thị trường.
+ Điều kiện công nghệ và hệ thống thông tin quản lý: Cần có nền tảng công nghệ vững
chắc, hệ thống lưu trữ dữ liệu hoàn chỉnh và hệ thống thông tin quản lý tập trung để có thể
tính toán được rủi ro. Nhoài ra cũng cần có hệ thống thông tin nội bộ cũng như hệ thống báo
cáo chính xác, kịp thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị rủi ro và phân loại nợ đối với
khách hàng.
9


+ Điều kiện nhân sự: Cần đào tạo đội ngũ chuyên gia về quản lý rủi ro một cách bài
bản, đội ngũ kiểm soát nội bộ có bề dày knh nghiệm. Nhân viên tham gia đo lượng rủi ro tín
dụng cần am hiểu về hệ thống tài chính, có kiến thực cơ bản và nâng cao về quản ttrị rủi ro,
am hiểu các nguyên tắc của Basel II và III, có kiến thức kinh tế lượng. Thêm vào đó cần tham
khảo và tìm hiểu sự hỗ trợ của các chuyên gia kiểm toán và các cơ quan tư vấn bên ngoài,
+ Điều kiện về thị trường: Đòi hỏi thị trường tài chính phát triển, tiếp cận được các
chuẩn mực quốc tế như Basel II và III. Các chủ thể tham gia thị trường một cách bình đẳng,
cạnh tranh lành mạnh.
2. Tạo cơ chế phối hợp giữa các chủ thể trong việc cấp tín dụng cho các hộ gia đình.
Qua phân tích cho thấy đối tượng tiếp cận vốn tín dụng tại chi nhánh chủ yếu là hộ gia
đình và cá thể sản xuất. Rõ ràng sản phẩm cho vay hộ gia đình và cá thể sản xuất nhằm phát

chiến binh, hội làm vườn chính là cầu nối, là kênh dẫn tín dụng đến với từng hộ gia đình. Đây
cũng là những chủ thể hàng ngày hàng giờ theo sát các hoạt động sản xuất của nông dân, biết
được hoàn cảnh kinh tế, nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của từng hộ gia đình, đôn đốc tốt
nhất các hộ gia đình trả nợ đúng hạn giúp cho chính sách tín dụng đến các hộ nhanh hơn, thiết
thực hơn qua đó ngân hàng thu hồi vốn tốt hơn. Đặc biệt, một thông tin đáng tin cậy nhất về
khách hàng là từ kết quả kiểm toán, nhưng đối với khách hàng nhỏ lẻ như hộ sản xuất thì hoạt
động của kiểm toán không phát huy tác dụng. Chính vì vây, việc thiết lập cơ chế kinh tế, hành
chính phù hợp để khuyến khích tổ chức này hoạt động hiệu quả cần có cơ chế, chính sách
khuyến khích gắn liền với lợi ích kinh tế và vật chất. Gắn chặt lợi ích của người nông dân, lợi
ích của ngân hàng và lợi ích của các tổ chức đoàn thể xã hội.
- Vai trò tiên phong đối với khách hàng:
Thực tế cho thấy hộ gia đình là một trong những đối tượng chính và chủ yếu trong
tổng dư nợ cho vay của chi nhánh. Tuy nhiên, việc chăm sóc khách hàng vẫn chưa được ngân
hàng coi trọng. Cần có những chương trình hành động cụ thể để thông qua đó ngân hàng cùng
đồng hành với người nông dân trong hoạt động sản xuất và kinh doanh, cùng thấu hiểu tính
chất, đặc điểm của sản xuất nông nghiệp. Biết được người nông dân họ cần gì, thiếu gì để
ngân hàng có thể hỗ trợ kịp thời, tránh những chuyện đã rồi, khiến người nông dân rơi vào
tình cảnh khốn khó.
III. Kết luận

11


Lành mạnh hóa tài chính các NHTM là một trong những trọng tâm lớn trong tiến trình
tái cơ cấu hệ thống NHTM. Điều này không những nhằm vợt qua khủng hoảng mà còn là một
xu thế tất yếu của hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung phát triển
một cách bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tê. Hoạt đọng kinh doanh ngân hàng gắn
liền với rủi ro, bởi vậy nợ xấu là một thực tế khách quan trong hoạt động tín dung của các
NHTM. Với những ý nghĩa như vậy, bài viết này nhằm đưa ra một số gợi ý nhằm tăng cường
công tác quản lý nợ xấu trên quan điểm phát triển bền vững, phù hợp với yêu cầu quốc tế và

.

7.

Tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với sự ổn định kinh tế vĩ mô.
ThS. Nguyễn Thị Minh Quế. ĐHKT Quốc Dân.

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status