Bài giảng quản lý tài nguyên và môi trường nước - Pdf 34

MỤC LỤC
Nội dung
QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC

Trang
5

1. Các khái niệm trong quản lý tài nguyên và môi trường nước

5

1.1. Tài nguyên và môi trường nước

5

1.2. Quản lý tài nguyên và môi trường nước mặt

5

1.3. Quản lý tài nguyên và môi trường nước ngầm
1.4. Quản lý ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên và môi trường nước
2. Tài nguyên nước trên thế giới và Việt Nam
2.1. Khái quát chung về tài nguyên nước trên thế giới
2.2. Khái quát chung về tài nguyên nước ở Việt Nam
2.3. Các vấn đề liên quan đến tài nguyên nước

9
12
12
13
15

4.3.Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước biển ven bờ
4.4. Kiểm soát tài nguyên nước và môi trường
5. Quản lý tài nguyên và môi trường nước
5.1 Chiến lược, chính sách của Việt Nam về quản lý tài nguyên và môi trường nước

5.2. Công cụ pháp lý trong quản lý tài nguyên và môi trường nước
5.3. Các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường nước
5.4. Hoạt động quản lý tài nguyên và môi trường nước ở địa phương

41
41
43
43
44
45

5.5. Xã hội hóa và sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên và môi trường

45

nước

46

6. Quản trị tài nguyên nước

47

6.1. Gia tăng sự cung ứng nước sử dụng


triển bền vững.

2


QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG NƯỚC
1. Các khái niệm trong quản lý tài nguyên và môi trường nước
Tài nguyên nước có tầm quan trọng đặc biệt, là nhu cầu thiết yếu, có vai trò quyết định
sống còn đối với đời sống con người và sinh vật, đối với các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trên hành tinh chúng ta. Nước còn được gọi là “ máu sinh học của trái đất”.
Viện sĩ Xiđorenko khẳng định “Nước là khoáng sản quý hơn tất cả các loại khoáng sản”.
Ở Việt Nam, nhà bác học Lê Quý Đôn khẳng định “Vạn vật không có nước không thể sống
được, mọi việc không có nước không thành được...”. Con người mỗi ngày cần 250 lít nước
cho sinh hoạt, 1500 lít nước cho hoạt động công nghiệp và 2000 lít cho hoạt động nông
nghiệp. Nước chiếm 99% trọng lượng sinh vật sống trong môi trường nước và 44% trọng
lượng cơ thể con người. Để sản xuất một tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn
nước và 1 tấn chất bột cần 1000 tấn nước. Ngoài chức năng tham gia vào chu trình sống
trên, nước còn là chất mang năng lượng (hải triều, thủy năng), chất mang vật liệu và tác
nhân điều hòa khí hậu, thực hiện các chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên. Có thể nói,
sự sống con người và mọi sinh vật trên trái đất phụ thuộc vào nước.
1.1. Tài nguyên và môi trường nước
1. Tài nguyên nước: Bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển.
Tài nguyên nước được đánh giá theo ba đặc trưng cơ bản là: trữ lượng, chất lượng và
động thái.
Trữ lượng nước: là đặc trưng biểu thị mức độ phong phú của tài nguyên nước trên
một lãnh thổ.
Chất lượng nước: là đặc trưng bởi hàm lượng các chất hòa tan trong nước, đáp ứng
yêu cầu của các đối tượng sử dụng nước.
Động thái của nước: được đánh giá bởi sự thay đổi các đặc trưng của nước theo thời
gian và không gian.
Đánh giá tài nguyên nước nhằm mục đích làm rõ các đặc trưng của nước đối với từng

dụng nguồn nước thường được chia làm 2 loại, sử dụng có tiêu hao và sử dụng không có
tiêu hao.
- Sử dụng nước có tiêu hao: là việc sử dụng gây ra hao hụt lượng nước so với ban đầu,
như sử dụng nước tưới cho nong nghiệp, sử dụng trong công nghiệp và sinh hoạt.
- Sử dụng nước không tiêu hao: là hoạt động không làm giảm lượng nước như giao thông
đường thủy, thủy điện, du lịch, giải trí…

4


12. Cân bằng nước: là sự cân bằng của toàn bộ lượng nước đến (mưa, tuyết tan, dòng
chảy đến…) và tất cả lượng nước chảy đi ( dòng chảy ra, bốc hơ, thấm…) khỏi một vùng
được xác định trước nào đó, có tính đến sự thay đổi trữ lượng thực của hệ thống. Cân bằng
nước thường được thực hiện theo một lưu vực, một hồ chứa hay một khu tưới nào đó.
1.2. Quản lý tài nguyên và môi trường nước mặt
1. Nước mặt : là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
2. Hệ thống sông : bao gồm một dòng chính và các phụ lưu nhận nước từ các tiểu lưu vực
rồi chảy ra biển hoặc hồ bằng cửa chính và cửa các chi lưu.
3. Hệ thống hồ: bao gồm các hồ chứa nhân tạo và tự nhiên tham gia vào trữ lượng nước
mặt và có giá trị điều hòa dòng chảy ,cân bằng sinh thái, vận tải thủy, nuôi cá và tạo cảnh
quan môi trường.
4. Lưu vực sông : là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt ,nước dưới đất chảy tự
nhiên vào sông.
5. Quy hoạch lưu vực sông: là quy hoạch về bảo vệ khai thác, sử dụng nguồn nước, phát
triển tài nguyên nước, phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu
vực sông.
6. Lưu lượng nước: là thể tích nước (thường tính bằng m 3) chảy qua một mặt cắt ngang
nào đó trong một đơn vị thời gian (thường tính bằng giây). Lưu lượng nước trong sông thay
đổi theo không gian và thời gian. Do đó, người ta thường dung các giá trị lưu lượng bình
quân theo ngày , tháng, mùa , năm hoặc nhiều năm để biểu thị lưu lượng nước , từ đó tính ra

1.4. Quản lý ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên và môi trường nước
1. Ô nhiễm nguồn nước: là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học, thành phần
sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.
2. Nước thải: là nước được thải ra sau khi sử dụng. Thông thường , nước thải cần phải được
xử lý trước khi thải vào nguồn nước.
3. Đánh giá chất lượng nước: là xác định (định lượng và định tính) các tính chất vật lý, hóa
học và sinh học của nước.
4. Kiểm soát chất lượng nước: là sử dụng các biện pháp kiểm tra, thu nhập, cập nhật các
thông tin về chất lượng nước ở các vị trí được quy định trước và các vị trí bất kỳ để đánh giá
chất lượng nước hiện tại và đề ra các biện pháp quản lý, bảo vệ và xử lý nước.
5. Bảo vệ tài nguyên nước: là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo
đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước.
6. Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước: là vùng phụ cận khu vực lấy nước từ nguồn nước
được quy định phải bảo vệ đề phòng, chống ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt.
6


7. Giấy phép về tài nguyên nước: bao gồm giấy phép thăm dò nước dưới đất, giấy phép
khai thác, sử dụng tài nguyên nước, giấp phép xả nước thải vào nguồn nước và giấy phép về
các hoạt động phải xin phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi.
8. Suy thoái, can kiệt nguồn nước: là sự suy giảm chất lượng và số lượng của nguồn nước.

2. Tài nguyên nước trên thế giới và Việt Nam
2.1. Khái quát chung về tài nguyên nước trên thế giới
Nước là nguồn tài nguyên có hạn, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường,
quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước. Mặt khác, nước cũng có thể gây ra
tai họa cho môi trường.
Tài nguyên nước là một trong những thành phần gắn với mức độ phát triển của xã hội
loài người. Tài nguyên nước đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nước
được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận

tỉ m3 nước, chiếm 46,23% tổng lượng dòng chảy mặt sản sinh trung bình trong năm của thế
giới (42.650 tỷ m3).
Lượng dòng chảy mặt sản sinh hàng năm và lượng nước bình quân năm theo đầu người
m3/người (số liệu năm 2000) được thể hiện trong bảng 1.
2.2. Khái quát chung về tài nguyên nước ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước vào loại khá trên thế giới, với lượng
mưa trung bình là 1.960 mm và tổng lưu lượng dòng chảy hàng năm là 847 km 3 , trong đó
có đến 60% thu nhận từ các dòng sông liên quốc gia chảy trên lãnh thổ. Nếu tính cả tổng
lượng dòng chảy thì lượng tài nguyên nước bình quân đầu người của nước ta là 10.300
m3/người/năm là khá dồi dào, tuy nhiên nếu chỉ tính phần nước hình thành trên lãnh thổ thì
lượng nước bình quân đầu người của nước ta là 4.146 m 3/người/năm thì Việt Nam nằm mấp
mé chuẩn của quốc gia ít nước. (Theo phân loại của Hội nước Quốc tế, vùng có dưới 4000
m3/người/năm là vùng thiếu nước, dưới 2000 m3/người/năm là vùng căng thẳng về nước).
Về sông, nước ta có 2.360 con sông dài từ 10 km trở lên, có 15 lưu vực sông từ 2.500
km2 trở lên. Có 10 con sông/hệ thống sông với diện tích lưu vực lớn hơn 10.000km 2, là các
lưu vực sông Hồng – Thái Bình, kỳ Cùng – Bắc Giang, Mã, Vũ Gia – Thu Bồn, Cửu Long,
Ba Đống Nai, Srepok và Sê San.
Bảng 6. Lượng dòng chảy mặt sản sinh hàng năm và lượng nước bình quân năm theo đầu
người m3/người.
STT

Tên quốc gia

Tổng lượng dòng chảy Lượng nước bình quân năm
mặt sản sinh trung bình theo đầu người (m3/người)
hàng năm (tỷ m3)
8


1

Nhật Bản
Thái Lan
Australia
New Zealand
Hàn Quốc
Singgapore

4.313
3.505
3.069
2.838
2.812
1.913
922
843
801
580
479
458
430
409
352
327
70
0,6

166.971
87.971
84.670
69.466

và thất mùa nên thường xuyên không cung cấp đủ lương thực để nuôi sống dân của họ.
Trong những thập niên 1970 thảm họa hạn hán đe dọa trên khoảng 24,4 triệu người và
hàng năm đã giết chết hơn 23.000 người, hậu quả này vẫn còn kéo dài đến 1980. Năm 1985
hơn 154 triệu người thuộc 21 quốc gia ở Phi Châu rơi vào nạn đói do hạn hán, thêm vào đó
9


sự gia tăng dân số quá mức và chiến tranh lan rộng, mặt khác còn do việc quản lý và sử
dụng nguồn tài nguyên và phát triển nông nghiệp kém hiệu quả. Ở các nước này, người dân
nghèo phải mất nhiều thời gian để đi tìm nước thường là ở những dòng sông và suối đã bị ô
nhiễm và để có được nước những người phụ nữ và trẻ em phải đi bộ từ 16 km - 25 km một
ngày và chỉ mang được một bình đầy nước trên đường trở về (Miller, 1988 ).
2. Ngập lụt
Ngược lại, ở những quốc gia khác có vũ lượng mưa tương đối lớn thì một lượng lớn
nước mưa nhận được chỉ trong một thời gian ngắn trong năm. Chẳng hạn như ở Ấn Ðộ, 90%
lượng nước mưa tập trung vào giữa tháng 6 đến tháng 9 thường gây nên ngập lụt.
Trong những thập niên 1970, thảm họa lụt lội đã đe dọa trên 15,4 triệu người và hằng
năm giết chết trung bình 4.700 người, làm thiệt hại trung bình 15 tỉ USD, hậu quả này vẫn
còn kéo dài đến năm 1980. Nguyên nhân dẫn đến lụt lội là do con người phá rừng, đốt rừng
để lấy đất canh tác, khai thác quặng mỏ, mở rộng đô thị ... Mặc dù lụt lội được xem là một
thiên tai gây chết người và làm thiệt hại hoa màu, tài sản của người dân nhưng sau các trận
lụt, do sự lắng đọng của phù sa làm tăng thêm độ màu mỡ cho đất (Miller, 1988 ). Ðể ngăn
ngừa và làm giảm sự tàn phá của lụt lội ở những quốc gia nầy, nhiều biện pháp được thực
hiện như xẻn kinh thoát nước, xây đập và hồ chứa nước, trồng cây gây rừng trên các đồi
trọc, giữ lại rừng ở đầu nguồn.
3. Sự úng nước
Ở những vùng có địa hình thấp hoặc nơi có mực nước ngầm quá cao làm cho mặt đất
luôn bị phủ kín bởi một lớp nước tù đọng lâu ngày tạo nên trạng thái úng nước, đất bị úng
nước nên luôn yếm khí.
Trên những vùng đất bị úng nước thường có những thực vật thủy sinh đặc trưng như một

b. Nhu cầu oxy sinh học (BOD, mg/l)
Nhu cầu oxy sinh học là hàm lượng oxy hòa tan trong nước bị tiêu thụ do sự oxy hóa sinh
học các chất ô nhiễm hữu cơ, tức là đại lượng dùng để đo lường oxy dung cho các vi sinh
vật tiêu thủy các chất hữu cơ phân hủy sinh học trong môi trường nước. Trị số BOD càng
lớn chứng tỏ nước càng bị ô nhiễm.
c. Nhu cầu oxy hóa học (COD,mg/l)
Nhu cầu oxy hóa học là nhu cầu oxy cần thiết để oxy hóa các chất hóa học có trong
nước. Nước càng bị ô nhiễm thì trị số COD càng lớn.
d. Chất dinh dưỡng ( Nutrient, mg/l)
Khi nước thải chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các hợp chất Nito (nitrates) và các
hợp chất phốt pho (phosphates) thải vào môi trường nước (như sông, hồ) thì sẽ gây ra hiện
tượng phú dưỡng trong nước. Trong điều kiện phú dưỡng các loại cỏ dại và rong rêu trong
11


nước, đặc biệt là tảo độc màu lục, phát triển rất nhanh, tiêu thụ hết oxy hòa tan trong nước,
làm cho các thủy sinh vật bị ngẹt thở và chết.
Các thủy sinh vật chết sẽ phát sinh ngày càng nhiều chất ô nhiễm hữu cơ trong nước,
nước bị ô nhiễm lần thứ hai, càng khan hiếm oxy hơn, thậm chí ở trạng thái yếm khí. Nước
dần dần có màu đen, sủi bọt, các loài rong tảo phát triển mạnh hơn đến mức bùng nổ hàng
loạt gọi là hiện tượng nước “ nở hoa” và bốc mùi hôi thối.
đ. Vi sinh vật
Có rất nhiều loại vi khuẩn , vi trùng gây bệnh trong nước thải , nhất là nước thải từ các
bệnh viện và các lò mổ gia súc, gia cầm , trong đó trực khuẩn là loại vi khuẩn có hại nhất
đối với sức khỏe con người. Người ta thường dùng hàm lượng trực khuẩn feacal coliform
(F.Coli) là chỉ thị cho mức độ nhiễm phân, vì vậy là chỉ thị cho môi trường có nguy cơ bị lây
lan dịch bệnh . Hàm lượng F. Coli có trong nước dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm nước về
mặt vi khuẩn gây bệnh.
e. Các chất độc hại
Các chất độc hại phổ biến trong nước thải bao gồm các hóa chất độc hại và kim loại

nuôi thả cá…
3.3. Ảnh hưởng của ô nhiễm nước đối với sức khỏe con người
a. Một số tạp chất tồn tại trong nước có hại cho sức khỏe
Kim loại: Trong nước có thể tồn tại những kim loại như cadimi, crom, chì, thủy ngân,
asen…Các kim loại này thường bị hấp thụ bởi các chất huyền phù có mặt trong nước thiên
nhiên. Trong một số trường hợp, kim loại có thể tồn tại dưới dạng hợp chất hữu cơ tự nhiên
hoặc có trong nước thải sinh hoạt và công nghiệp.
Theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Việt Nam 1329/2002/BYT/QĐ, tiêu chuẩn cho phép đối với
một số kim loại tồn tại trong nước ăn uống sinh hoạt như sau:
Asen (As) ≤ 0,05 mg/l, Crom (Cr) ≤ 0,05 mg/l , Cadimi (Cd) ≤0,005 mg/l
Chì (Pb) ≤ 0,05 mg/l, Thủy ngân (Hg) ≤ 0,001 mg/l.
Amoni: Sự lo ngại lớn nhất về vấn để amoni là các sản phẩm trung gian của nó như hợp
chất Nitrit và nitrat. Nitrit (NO2-) và nitrat ( NO −3 ) là tác nhân gây ra sự phá hủy hồng cầu ở
trẻ em và gây bệnh ung thư.
Theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế Việt Nam 1329/2002/BYT/QĐ hàm lượng amoni có trong
nước ăn uống sinh hoạt: NH4+ ≤1,5 mg/l.
Sợi Amian: Sợi Amian thường tồn tại trong không khí, khi con người thường xuyên hít
phải sẽ gây ung thư. Tuy nhiên, hiệu ứng ung thư của sợi Amian chứa trong nước uống chưa
có minh chứng trực tiếp, nhưng khi xử lý nước vẫn cần loại bỏ nguyên tố này.

13


Thuốc trừ sâu và sản phẩm y tế thực vật: Các loại này được dùng trong nông nghiệp để
chống sâu bệnh thực vật. Rất nhiều loại trong số này tồn tại rất bền và tích tụ trong thực
phẩm do được tưới nước đã bị ô nhiễm. Khi con người thường xuyên sử dụng thực phẩm bị
nhiễm độc, có thể chất độc sẽ chuyển hóa trong cơ thể hoặc sẽ xảy ra hiệu ứng ung thư.
Chất phóng xạ: Khi con người sử dụng các sản phẩm có chứa chất phóng xạ, sẽ gây hậu
quả nghiêm trọng cho cả thế hệ, làm xuất hiện các u ác tính hoặc hiệu ứng đột biến ảnh
hưởng đến nòi giống sau này.

mặt ngày càng trở nên rõ rệt. Đặc trưng của nước thải đô thị là hàm lượng cặn lơ lửng (SS) ,
COD, BOD5, tổng nitơ, tổng phốt pho và chỉ số coliform lớn. Hầu hết nước thải đô thị đều
chưa được xử lý, thải trực tiếp ra hệ thống sông, suối, mương thoát nước. Tính đến đầu năm
2005, khu vực đô thị và KCN mỗi ngày thải khoảng 3.110.000m 3 nước thải sinh hoạt và
nước thải sản xuất xả trực tiếp vào nguồn nước mặt. Trong số 76 KCN và KCX đang hoạt
động chỉ có 16 trạm xử lý nước thải tập trung hoạt động với công suất 41.800m 3/ngày. Công
nghệ xử lý nước thải chủ yếu là sinh học hoặc hóa học kết hợp với sinh học. Lượng nước
thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường còn rất thấp (4,26%).
Lượng nước thải rỉ tại các bãi chứa rác hoặc chôn lấp rác không lớn nhưng có hàm
lượng các chất ô nhiễm như COD, tổng nitơ, tổng phốt pho và kim loại nặng rất cao, nước
có độ màu lớn. Khi xả vào môi trường, nước rỉ rác thường gây ô nhiễm trầm trọng cho các
khu vực nước mặt cũng như khu vực nước ngầm xung quanh. Đến nay chưa có bãi chôn lấp
rác nào có hệ thống xử lý nước rỉ rác đảm bảo tiêu chuẩn môi trường hiện hành.
Hiện cả nước có khoảng hơn 1000 bệnh viện và trung tâm y tế (tính đến cấp huyện), mỗi
ngày thải ra hàng trăm ngàn m 3 nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn môi
trường. Đây là nguồn thải chứa nhiều thành phần nguy hiểm nghiêm trọng cho môi trường.
Ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu vực nông
thôn. Hàng năm, lượng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng trong nông nghiệp
khoảng 0,5÷3,5kg/ha/vụ , lượng hóa chất BVTV và phân khoáng trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp dư thừa gây phú dưỡng hoặc nhiễm độc nước.
Hoạt động của làng nghề tạo tên một lượng chất thải (nước thải và chất thải rắn) xả vào
môi trường một cách thiếu quy hoạch và không được xử lý gây ô nhiễm trầm trọng nguồn
nước tại nhiều điểm, đặc biệt là các làng nghề sản xuất giấy, giết mổ gia súc, dệt, nhuộm…
Hoạt động nuôi tôm trên các vùng biển thiếu quy hoạch và không có biện pháp xử lý
chất thải nên lượng nước thải ra môi trường là rất lớn.
b. Ô nhiễm môi trường nước ngầm

15



liền, làm mặn hóa các tầng nước ngầm vùng ven biển. Do sự phá rừng, giảm diện tích cây
16


xanh trong lục địa,dẫn đến làm suy giảm nguồn cấp nước cho nước ngầm, làm giảm áp lực
của các tầng nước ngầm ở vùng hạ lưu, cũng dẫn đến sự ngập mặn vào sâu trong đất liền.
c. Ô nhiễm nguồn nước biển ven bờ.
Tại các vùng ven biển hiện tượng xâm nhập mặn là khá phổ biến. Do chế độ khai
thác không hợp lý, lượng nước khai thác vượt quá khả năng cung cấp của tầng chứa nước
làm nước mặn xâm nhập vào phá hỏng tầng chứa nước ngọt. Trong không ít trường hợp do
khoan giếng tùy tiện, không chấp hành đúng các quy định thi công khoan giếng, đã tạo ra
các cửa sổ địa chất, tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập vào cả vùng rộng lớn. Những
hiện tượng trên đã xảy ra không ít đô thị như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Thanh
Hóa, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang,TP.Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Minh Hải,
Kiên Giang.
d. Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
Hiện nay, cả nước có khoảng 2.017 làng nghề, trong đó, khu vực đồng bằng sông Hồng
có 866 làng nghề chiếm trên 70%, nhiều nhất là các tỉnh Hà Tây 409 làng, Thanh Hóa 201
làng, Thái Bình 187 làng, Bắc Ninh 59 làng… Quá trình phát triển nhanh chóng của các
làng nghề đã và đang gây ra các tác động tiêu cựa đối với môi trường không khí, nước, đất
và sức khỏe người dân.
Đối với môi trường làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, đây là loại hình làng nghề
cổ xưa nhất ở Việt Nam với trên 300 làng nghề nằm rải rác trong cả nước. Sự phát triển làng
nghề chế biến nông sản thực phẩm diễn ra tự phát, thiếu quy hoạch. Phương tiện sản xuất
yếu kém, lạc hậu. Tâm lý và thói quen là sản xuất nhỏ khép kín, không đổi mới trang thiết bị
và công nghệ sản xuất nen tốn nhiều nguyên liệu thô, đồng thời thải trực tiếp ra môi trường
một lượng chất thải lớn, đặc biệt là nước thải giàu chất hữu cơ và dễ phân hủy sinh học.
Trong quá trình sản xuất và tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại và nguy hiễm, người dân làng
nghề này hay mắc phải các bệnh về tai, mũi, họng, hô hấp và tiêu hóa; các bệnh ngoài da,
mắt, phụ khoa ở phụ nữ vả bệnh rối loạn thần kinh do nghề nghiệp.

chuẩn thải bắt buộc áp dụng thay cho TCVN 5945 : 1995.
4.2.Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước ngầm
Các tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm giới hạn những nồng độ cho phép của một chất
nào đó trong nước ngầm. Tiêu chuẩn có thể là giới hạn nồng độ duy nhất cho toàn nguồn
nước ngầm hoặc các nồng độ khác nhau tùy theo việc sử dụng nguồn nước ngầm này.
Tiêu chuẩn TCVN 5944: 1995 quy định giới hạn các thông số và nồng độ cho phép của
các chất ô nhiễm trong nước ngầm. Tiêu chuẩn này được áp dụng để đánh giá chất lượng

18


nước ngầm của một khu vực xác định. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này ban hành từ năm 1995, cần
có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
Ngoài ra, còn có các quy định không được phép thải nước thải vào nguồn nước ngầm và
các quy định trong khai thác nguồn nước ngầm đảm bảo không làm ô nhiễm nguồn nước
ngầm như Quyết định số 05/2003/QĐ- BTNMT của Bộ trưởng Bộ tài nguyên và Môi trường
ban hành quy định về cấp phép thăm dò, khai thác và hành nghề khoan nước dưới đất.
4.3.Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước biển ven bờ
Chất lượng nước biển ven bờ có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế xã hội ở nước ta.
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5943: 1995 quy định giới hạn các thông số và nồng độ cho
phép các chất ô nhiễm trong nước biển ven bờ và dùng để đánh giá chất lượng nước của các
vùng biển ven bờ. Theo tiêu chuẩn này ,nước biển ven bờ được phân thành 3 loại: nước bãi
tắm, nước nuôi thủy sản và nước cho mục đích khác.
Tuy nhiên, cũng như TCVN 5944: 1995, tiêu chuẩn này ban hành từ năm 1995, cần có sự
điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
5. Kiểm soát tài nguyên nước và môi trường
5.1. Mục tiêu của công tác kiểm soát sử dụng nước
Việc kiểm soát sử dụng nước nhằm mục tiêu:
Giới hạn mức khai thác nguồn nước (nước ngầm dưới đất, nước mặt sông hồ) phải ở mức
tụ phục hồi của nguồn nước;

qua.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường nước trong lưu
vực sông cụ thể như sau:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm:
Công khai thông tin các nguồn thải ra sông;
Kiểm soát nguồn thải vào nước sông và xử lý các trường hợp vi phạm tiêu chuẩn môi
trường;
Phối hợp với cơ quan hữu quan trong việc xác định đối tượng gây thiệt hại về môi
trường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường trong trường hợp đối tượng bị thiệt
hại thuộc các địa phương khác trên lưu vực.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên thượng nguồn dòng sông có trách nhiệm phối hợp với Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh trên hạ nguồn dòng sông trong việc điều tra phát hiện nguồn gây ô
nhiễm nước sông và áp dụng các biện pháp xử lý.

20


Trường hợp có thiệt hại về môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra thiệt hại
có trách nhiệm phối hợp với cơ quan hữu quan để tổ chức việc điều tra, đánh giá về mức độ
thiệt hại và yêu cầu các đối tượng gây thiệt hại phải bồi thường.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi phát sinh nguồn thải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp
cưỡng chế buộc đối tượng gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn phải thực hiện nghĩa vụ
khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Tổ chúc bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông:
Việc điều phối hoạt động bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông nằm trên địa bàn
nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện theo quy định của Thủ tướng
Chính phủ
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo
vệ môi trường nước của lưu vực sông.
Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện quy định của Thủ tướng

sung các tiêu chuẩn mới có thể thực hiện sớm hơn.
Tiêu chuẩn môi trường quốc gia phải được công bố rộng rãi để tổ chức, cá nhân biết và
thực hiện.
Yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh :
Tiêu chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh quy định giá trị giới hạn cho phép của
các thông số môi trường phù hợp với mục đích sử dụng thành phần môi trường, bao gồm:
Giá trị tối thiểu của các thông số môi trường bảo đảm sự sống và phát triển bình thường
của con người và sinh vật;
Giá trị tối đa cho phép của các thông số môi trường có hại để không gây ảnh hưởng xấu
đến sự sống và phát triển bình thường của con người và sinh vật.
Thông số môi trường quy định trong tiêu chuẩn về chất lượng môi trường phải chỉ dẫn cụ
thể các phương pháp chuẩn về đo đạc, lấy mẫu, phân tích để xác định thông số đó.
Yêu cầu đối với tiêu chuẩn về chất thải:
Tiêu chuẩn về chất thải phải quy định cụ thể giá trị tối đa các thông số ô nhiễm của chất
thải bảo đảm không gây hại cho con người và sinh vật.
Thông số ô nhiễm của chất thải được xác định căn cứ vào tính chất độc hại, khối lượng
chất thải phát sinh và sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải.
Thông số ô nhiễm quy định trong tiêu chuẩn về chất thải phải có chỉ dẫn cụ thể các
phương pháp chuẩn về lấy mẫu, đo đạc và phân tích để xác định thông số đó.
Phối hợp kiểm soát
Phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng giữa các cơ quan chuyên môn và các cấp chính quyền
địa phương trong quản lý môi trường nước, phân công và phân trách nhiệm rõ rang, tiến
22


hành kiểm tra sự tuân thủ các quy định và các tiêu chuẩn về môi trường đối với tất cả các
nguồn thải gây ô nhiễm môi trường nước. Tùy theo tình hình cụ thể ở mỗi địa phương mà bổ
sung thêm hoặc chi tiết hóa các quy định về bảo vệ môi trường nước.
Trong nhiều trường hợp giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường các dòng sông, các thủy
vực cần có sự phối hợp giữa các địa phương với nhau, giữa các tỉnh, thành trong khu vực,

sát;
Vận hành thường xuyên.
Chủ quản lý hệ thống xử lý nước thải phải thực hiện quan trắc định kỳ nước thải trước và
sau khi xử lý. Số liệu quan trắc được lưu giữ làm căn cứ để kiểm tra, giám sát hoạt động của
hệ thống xử lý nước thải.
Tùy theo tính chất ô nhiễm và khối lượng nước thải khác nhau mà cần chọn lựa công
nghệ thích hợp. Thông thường ,hệ thống công nghệ xử lý nước thải bao gồm kỹ thuật xử lý
bậc 1, bậc 2 và bậc 3, trong một số trường hợp cần đến kỹ thuật xử lý bậc 4. Xử lý bậc 1 và
bậc 2 (xử lý cơ học và sinh học) chủ yếu là tập trung vào việc giảm ô nhiễm cặn, vi khuẩn
và khử các chất hữu cơ dễ phân hủy. Xử lý bậc 3 thường là bước xử lý hóa học để khử phốt
pho. Trong một số trường hợp cần xử lý bậc 4 là bước tinh lọc để giảm thiểu triệt để các
chất ô nhiễm dinh dưỡng trước khi nước thải chảy vào nguồn nước mặt. Bảng 7 giới thiệu
một số phương pháp xử lý nước thải thông dụng trên thế giới .

5.3. Kiểm soát tài nguyên và môi trường nước ngầm
Để quản lý và bảo vệ nguồn nước ngầm cần thực hiện một số biện pháp sau đây:
Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn cho phép các chất chứa trong nước ngầm .
Quan trắc chất lượng và trữ lượng nước ngầm định kỳ
Kiểm soát khai thác nước ngầm.
Nghiêm cấm việc xả chất thải độc hại, nước thải vào nước ngầm.
Kiểm soát sử dụng đất.
Trợ cấp kinh phí cho hoạt động bảo vệ nước ngầm khỏi sự ô nhiễm.
a. Các biện pháp quản lý nước ngầm
- Kiểm soát chất lượng nước ngầm: Tùy theo yêu cầu sử dụng nước ngầm mà đặt ra các
tiêu chuẩn các chất ô nhiễm tối đa cho phép chứa trong nước ngầm. Định kỳ tiến hành quan
trắc chất lượng và lưu lượng nước ngầm, nếu phát hiện thấy nước ngầm bị suy thoái về lưu
lượng và chất lượng thì kịp thời tìm ra nghuyên nhân và kịp thời áp dụng các biện pháp bảo
vệ nước ngầm.
- Kiểm soát chất lượng nước ngầm: Để bảo vệ nguồn nước ngầm cần thiết lập sự kiểm
soát khai thác nước ngầm rất chặt chẽ. Bất cứ sự khai thác nước ngầm nào đều cần phải có

5

Lọc nhỏ giọt Amoniăc

6

Nitrat hóa

7

Hấp thụ cacbon hoạt tính

8

Khử nito sau khi nitrat hóa

9

Trao đổi ion

10

Oxy hóa hóa học (thí dụ dùng
Cl2)

11

Tách triết

12

0,02-0,35
0,10-0,25
0,7-0,95
0,10-0,25
0,65-0,95
0,40-0,80
0,50-0,65
0,10-0,60
0,85-0,95
0,8-0,95
0,50-0,70
0,70-0,95

Khử ni tơ

0,70-0,90

0,80-0,95
0,40-0,95
0,40-0,70

Khử BOD5( thí dụ protein)
Khử ni tơ
Khử phốt pho
Khử kim loại nặng
Oxy hóa các chất độc hại
(như CN-N2)

0,20-0,40
0,80-0,95


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status