Pháp luật Việt Nam về bán hàng đa cấp bấtchính và thực tiễn thực hiện - Pdf 34

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
1. Lý luận chung về bán hàng đa cấp bất chính
1.1. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.2. Bán hàng đa cấp bất chính
2. Quy định của pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính
2.1 Dấu hiệu nhận biết bán hàng đa cấp bất chính
2.2 Xứ lý các hành vi bán hàng đa cấp bất chính
3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính
3.1 Thành tựu đạt được khi thực hiện pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính
3.2 Hạn chế cần khắc phục khi thực hiện pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính
3.3 Kiến nghị nhằm tránh hiện tượng bán hàng đa cấp bất chính
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1


LỜI MỞ ĐẦU
Người Việt Nam chỉ mới làm quen với phương thức bán hàng đã cấp trong vài
năm gần đây. Trong khi đó, các nhà làm luật và những người có trách nhiệm quản lý
kinh tế của chúng ta chỉ quan tâm đến việc điều chỉnh pháp luật sau khi xảy ra hàng
loạt các vụ việc lừa đảo, chiếm dụng vốn liên quan đến các doanh nghiệp bán hàng
đa cấp trên thị trường và gây ra những xáo trộn lớn trong đời sống kinh tế xã hội. Ở
góc độ pháp luật cạnh tranh, hoạt động tiêu thụ hàng hoá bằng mạng lưới đa cấp
được nhìn nhận như một trong các phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để tìm
kiếm, mở rộng vị trí của họ trên thị trường nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Với
đặc thù tiếp cận từ mặt trái, pháp luật cạnh tranh của nhiều nước đã coi hành vi bán
hàng đa cấp là một dạng thuộc đối tượng điều chỉnh của nó khi hành vi mang bản
chất bất chính (không lành mạnh). Vấn đề cần phải làm rõ là phân tích bản chất

- các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác (theo tiêu chí xác định tại khoản 4
Điều 3 Luật cạnh tranh do Chính phủ quy định.)
1.2 Bán hàng đa cấp bất chính
Bán hàng đa cấp bất chính là một trong những hành vi mà theo pháp luật cạnh
tranh Việt Nam bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh (ở phần 1.1). Theo đó,
bán hàng đa cấp được hiểu là một phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hoá đáp ứng
các điều kiện sau đây:
- Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hoá được thực hiện thông qua mạng lưới người tham
gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;

3


- Hàng hoá được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu
dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải địa
điểm bán lẻ thường xuyền của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;
- Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi
ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán
hàng đa cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh
nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.
2.Quy định của pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính
2.1 Dấu hiệu nhận biết bán hàng đa cấp bất chính
Trước ngưỡng cửa nền kinh tế mở rộng và hội nhập với thế giới, dự kiến Việt
Nam sẽ có các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ phân phối, trong đó có phân
ngành dịch vụ bán lẻ dưới hình thức bán hàng đa cấp và trong bối cảnh đó sẽ có
nhiều tập đoàn lớn kinh doanh theo hình thức bán hàng đa cấp của nước ngoài thâm
nhập vào thị trường trong nước theo lộ trình thực hiện cam kết. Việc xác định và
ngăm chặn được hoạt động phi pháp của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất
chính, do vậy, càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải phân biệt được
hoạt động bán hàng đa cấp hợp pháp và bán hàng đa cấp bất hợp pháp thông qua các

trường của sản phẩm, đầu đĩa DVD giá 4,5 triệu đồng, đồng hồ đeo tay 3,5 triệu
đồng, bộ mỹ phẩm 3 triệu đồng, … thông thường, các sản phẩm của các công ty bán
hàng đa cấp bất chính không được quảng cáo và rao bán trong các chợ và siêu thị và
để có thể trở thành thành viên của mạng lưới bán hàng, một điều kiện bắt buộc là
mua sản phẩm của công ty. Sau khi sản phẩm đã được bán cho thành viên đầu tiên,
công ty sẽ không chịu trách nhiệm hoàn lại tiền cũng như không có chính sách bảo
hành gì đối với sản phẩm bán ra. Mục đích của người mua không phải là để sử dụng
mà là để trở thành thành viên của mạng lưới và lôi kéo được những người khác tham

5


gia và hưởng hoa hồng trên chính việc tham gia của những người đó. Với việc giá
thành sản phẩm cao hơn rất nhiều với giá thành trên thực tế, doanh nghiệp bán hàng
đa cấp sẽ thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ mà không cần quan tâm nhiều
lắm tới năng suất lao động và chất lượng sản phẩm mà mình bán ra.
Dấu hiệu cuối cùng, một doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính sẽ không
minh bạch về địa điểm đặt trụ sở chính, không có con dấu và không đăng ký hoạt
động kinh doanh với các cơ quan có trách nhiệm, hoặc có đăng ký trụ sở chính
nhưng lại không đăng ký kinh doanh cho các chi nhánh mới mở. Ở Việt Nam, nhiều
công ty bán hàng đa cấp chuyển địa bàn hoạt động sang các tỉnh vùng sâu, vùng xa,
nơi người dân (chủ yếu là nông dân) ít có điều kiện tiếp cận với các thông tin mới và
dễ bị “lôi kéo” tham gia vào mạng lưới bán hàng. Các công ty bán hàng đa cấp cũng
thường tổ chức các buổi tuyên truyền, quảng bá sản phẩm và hình thức bán hàng thu
hút một số lượng người rất đông đến xem, dễ gây mất ổn định trật tự xã hội. Trên
các tờ rơi, tờ quảng cáo của các công ty này cũng không đóng dấu của công ty, việc
chi trả tiền hoa hồng cho các thành viên cũng không kèm theo các hoá đơn, chứng từ
hợp lệ.
2.2 Xử lý các hành vi bán hàng đa cấp bất chính
* Doanh nghiệp bán hàng đa cấp sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến

thuộc trung ương trở lên.
Ngoài việc bị phạt tiền, doanh nghiệp bán hàng đa cấp bất chính còn có thể bị
áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả
bao gồm:
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm
cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm;
- Buộc cải chính công khai.
3.Thực tiễn thực hiện pháp luật về bán hàng đa cấp bất chính
3.1 Thành tựu đạt được khi thực hiện pháp luật bán hàng đa cấp bất chính

7


Vào những năm 1999-2000, bán hàng đa cấp bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam
với một vài công ty hoạt động nhỏ lẻ. Từ khi Luật Cạnh tranh ra đời vào cuối năm
2004 và Nghị định 110/NĐ-CP được ban hành vào năm 2005, bán hàng đa cấp đã
được công nhận là mô hình kinh doanh hợp pháp tại Việt Nam, chịu sự quản lý bởi
luật pháp.
Theo báo cáo của các Sở Công Thương, tính đến tháng 6.2011, tại Việt Nam
có 63 công ty bán hàng đa cấp đã được trao giấy phép hoạt động. Trong số đó, có 20
doanh nghiệp (DN) hiện nay đã tạm ngừng, chấm dứt hoạt động bán hàng đa cấp. Số
lượng người tham gia vào hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam tính đến nay đã
trên 1 triệu người, doanh thu đạt từ 614 tỉ đồng năm 2006 lên 2.799 tỉ năm 2010, gấp
4 lần trong thời gian 4 năm hoạt động.
Theo báo cáo từ các DN bán hàng đa cấp, trong những năm qua, các công ty
đã đóng góp vào ngân sách Nhà nước đạt trên 1.200 tỉ đồng, thuế thu nhập cá nhân
đạt trên 170 tỉ đồng.
Tuy nhiên, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích cho các công ty bán hàng đa cấp
hợp pháp cũng như loại bỏ các hoạt động bán hàng đa cấp bất chính tại Việt Nam,
đòi hỏi cần thiết phải có một tổ chức ngành nghề hoạt động chuyên nghiệp, đại diện

điều kiện được pháp luật đặt ra cho việc cấp giấy đăng ký là cơ sở pháp lý để xác
định trách nhiệm của doanh nghiệp khi có hành vi vi phạm. Như vậy, thủ tục đăng
ký bán hàng đa cấp không chỉ mang bản chất của cơ chế tiền kiểm mà còn là cơ sở
cho hoạt động hậu kiểm của nhà nước đối với hoạt động này.
Với những quy định chưa rõ ràng tại Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quy định trình
tự cấp giấy đăng ký, chúng ta chưa thể hình dung ra bản chất của thủ tục cấp giấy
đăng ký bán hàng đa cấp bởi lẽ nó không là thủ tục đăng ký kinh doanh cho doanh
nghiệp, không là giấy phép kinh doanh hay những điều kiện kinh doanh khác... Song
lại có dấu hiệu của các công cụ quản lý trên. Khi nhà làm luật chưa thể phân định
bản chất pháp lý của thủ tục tất yếu sẽ dẫn đến sự nhập nhằng trong các quy định của

9


pháp luật theo hai chiều hướng trái ngược nhau, hoặc là quá chặt chẽ đến mức xâm
phạm quyền tự do kinh doanh, hoặc là quá đơn giản không đủ để hình thành cơ chế
quản lý hiệu quả.
Vấn đề thứ hai là quan niệm về tiền kiểm, hậu kiểm đối với bán hàng đa cấp:
Xem xét các quy định của Nghị định 110/2005/NĐ-CP, dễ dàng nhận thấy rằng, các
nhà làm luật đã cố gắng liên kết hoạt động quản lý ở khâu khởi đầu với việc giám sát
hoạt động của doanh nghiệp trên thực tế. Từ những nội dung đã trình bày ở những
phần trên, có thể hình dung diện mạo của cơ chế tiền kiểm mà pháp luật của chúng
ta đã xác lập đối với hoạt động bán hàng đa cấp. Nghị định 110/2005/NĐ-CP trao
cho cơ quan quản lý cạnh tranh và Sở Thương mại các tỉnh quyền chủ động về thời
gian, cấp độ, nội dung thanh tra, kiểm tra hoạt động bán hàng đa cấp. Tuy nhiên,
pháp luật lại chưa quan tâm đến trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc lưu trữ các
giấy tờ cần thiết phục vụ cho việc thanh tra, kiểm tra. Thêm nữa, bàn về việc xác
định trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động đa cấp khi có hành vi vi phạm.
Quan hệ liên kết và hợp tác cũng như tư cách độc lập giữa doanh nghiệp và người
tham gia được coi là quan điểm nền tảng cho việc phân định trách nhiệm của doanh

cao một cách dễ dàng. Do vậy, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa Hiệp hội bán
hàng đa cấp Việt Nam và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng các chương
trình đào tạo toàn diện cho người tham gia bán hàng đa cấp trong các lĩnh vực chính:
kiến thức pháp luật, kiến thức về sản phẩm kinh doanh trong ngành bán hàng đa cấp
chủ yếu là thực phẩm chức năng và mỹ phẩm, chuẩn mực đạo đức kinh doanh trong
ngành bán hàng đa cấp, và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập cá nhân vào ngân
sách nhà nước. Chương trình này nhằm giúp người bán hàng đa cấp tại các doanh
nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam sẽ có đầy đủ kiến thức về pháp luật, về sản
phẩm cũng như đạo đức nghề nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh của
mình, nhằm từng bước góp phần đưa hoạt động bán hàng đa cấp trở nên lành mạnh,
giúp doanh nghiệp ngày càng phát triển, người tiêu dùng mua được những sản phẩm
đúng giá trị, có chất lượng cao, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

11


Thêm vào đó, cần có một số các biện pháp như sau để hạn chế việc bán hàng
đa cấp như: cần phải có quy chế về minh bạch thông tin liên quan đến sản phẩm
được tiêu thụ theo phương thức bán hàng đa cấp, và xác định trách nhiệm cụ thể của
từng chủ thể có liên quan trong việc xây dựng, truyền bá thông tin, bao gồm doanh
nghiệp và người tham gia; Cuối cùng, đối với những loại sản phẩm đặc biệt, có khả
năng gây ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội, như thực phẩm, thuốc chữa bệnh,
chế phẩm hỗ trợ dinh dưỡng,... cơ quan quản lý kỹ thuật (Bộ Y tế...) cần có những
quy định cụ thể về tiêu chuẩn kỹ thuật, về chất lượng của sản phẩm; đồng thời thông
tin kịp thời cho xã hội về công dụng, chất lượng và những khả năng gây hại của sản
phẩm. Đối với những người tham gia, khi truyền tiêu những sản phẩm có ảnh hưởng
đến sức khỏe của con người, họ không chỉ đơn giản là người bán hàng. Thực tế cho
thấy, để bán được sản phẩm những người tham gia đã kiêm luôn chức năng tư vấn
cho khách hàng về công dụng và cách thức sử dụng sản phẩm. Do đó, trong quản lý
các lĩnh vực nhạy cảm đó, cần thiết phải đặt ra điều kiện về trình độ chuyên môn cho


13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status