Thẩm quyền dân sự của Tòa án theo loại việc về tranh chấp kinh doanh, thương mại - Pdf 34

Bài tập nhóm
LỜI MỞ ĐẦU
Việc phân định thẩm quyền theo loại việc là một trong hoạt động của Tòa án,
ngoài ra còn có theo cấp xét xử, theo lãnh thổ làm cho hoạt động của xét xử của
Tòa án đạt hiệu quả, không chồng chéo lên nhau. Xác định thẩm quyền một cách
chính xác, khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo của Tòa án trong việc thực hiện
nhiệm vụ, góp phần làm cho Tòa án giải quyết vụ án đúng đắn và bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp cho đương sự. Trước đây loại việc giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh thương mại được giải quyết theo một quy định riêng (pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế có hiệu lực 01/07/1994) nhưng từ ngày 01/10/2005 thủ
tục giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại được quy định chung trong Bộ luật
tố tụng dân sự. Đề tài mà nhóm chúng em chọn để tìm hiểu đó là Thẩm quyền
dân sự của Tòa án theo loại việc về tranh chấp kinh doanh, thương mại để
hiểu thêm về vấn đề này.
NỘI DUNG
1. Vấn đề lý luận về thẩm quyền dân sự của tòa án:
1.1. Thẩm quyền dân sự của tòa án:
Trong Tiếng việt, thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận một vấn đề theo
pháp luật. Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và
nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy
nhà nước do pháp luật quy định.
Ở Việt Nam, xuất phát từ những đặc thù về tổ chức hệ thống tòa án cho nên
quan niệm về thẩm quyền cũng có những điểm khác biệt, theo đó "Thẩm quyền
dân sự của Tòa án là quyền xem xét giải quyết các vụ việc và quyền hạn ra các
quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục tố tụng dân sự của tòa
án".Tòa án nhân danh quyền lực nhà nước, độc lập trong việc xem xét giải quyết
và ra các phán quyết đối với các vụ việc phát sinh từ các quan hệ mang tính tài sản,
nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa
1



Bài tập nhóm
trong xã hội, phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các loại việc
theo thủ tục tố tụng dân sự với thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
loại việc theo thủ tục tố tụng hình sự và tố tụng hành chính.
Ở Việt nam, các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh
thương mại lao động hôn nhân, gia đình đều được điều chỉnh bởi các quan hệ khác
nhau. Tuy nhiên các quan hệ pháp luật này đều có cùng tính chất là các quan hệ tài
sản, nhân thân được hình thành trên cơ sở bình đẳng tự nguyện, thỏa thuận và tự
định đoạt của các chủ thể. Do vậy các tranh chấp phát sinh từ quan hệ này phải
thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án, đươc giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Những loại việc thuộc thẩm quyền của Tòa án bao gồm:các vụ án dân sự và
việc dân sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại lao động và các việc khác do pháp luật quy định. Hiện nay các
vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại các điều 25 đến
Điều 32 của BLTTDS và một số điều luật của các văn bản pháp luật khác.
2. Quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng thẩm quyền dân sự của
tòa án theo loại việc về tranh chấp kinh doanh, thương mại:
Trong việc giải quyết các tranh chấp về hoạt động kinh doanh, thương mại,
phụ thuộc vào ý chí hoặc sự thỏa thuận của các bên có thể lựa chọn phương thức
giải quyết bằng con đường trọng tài hoặc khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết. Tòa
án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự các tranh chấp về kinh
doanh, thương mại sau:
2.1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận
*Cơ sở pháp lí:
Khoản 1 Điều 29 BLTTDS quy định: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động
kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và
đều có mục đích lợi nhuận, bao gồm: a) Mua bán hàng hoá; b) Cung ứng dịch vụ;
3




Bài tập nhóm
Những năm trở lại đây, do những diễn biến phức tạp của đời sống xã hội nên
các tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn.
Theo đánh giá của TANDTC, trong thời gian qua, toàn ngành đã thụ lý, giải quyết
gần 200.000 các việc dân sự. Một trong số những việc đó là những tranh chấp liên
quan đến kinh doanh, thương mại. Có thể nói, đó là một con số không nhỏ, phản
ánh một thực tế về sự gia tăng của các tranh chấp kinh tế cũng như những loại án
đặc thù, mới phát sinh mà để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi cho các bên là
một công việc không phải đơn giản.
Theo quy định tại điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp về kinh
doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án rất đa dạng, phức tạp,
liên quan đến nhiều lĩnh vực kinh tế, trong đó có tranh chấp vừa được điều chỉnh
bởi quy định của Bộ luật Dân sự, vừa được điều chỉnh bởi Luật chuyên ngành.
Chính vì lý do này mà việc xét xử các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại
một số Tòa án đôi khi còn lúng túng, vướng mắc trong việc áp dụng quy định của
Bộ luật dân sự và quy định của Luật chuyên ngành như Luật Thương mại (thường
xảy ra khi giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản đã được quy định
trong Bộ luật Dân sự), hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định trong Luật
Thương mại, về hợp đồng dịch vụ quy định trong Bộ luật Dân sự, hợp đồng cung
ứng dịch vụ được quy định trong Luật Thương mại, hợp đồng liên kết, liên doanh
hợp đồng hợp tác kinh doanh... theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu
tư, hợp đồng bảo hiểm được quy định trong Bộ luật Dân sự, hợp đồng bảo hiểm
quy định trong Luật Kinh doanh bảo hiểm...
Vướng mắc ở đây là trường hợp nào thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự,
trường hợp nào thì áp dụng quy định của Luật chuyên ngành? Vì vậy, trong thực
tiễn xét xử, việc áp dụng quy định của Luật chuyên ngành, của Bộ luật Dân sự để
giải quyết vụ án của một số Tòa án chưa thống nhất như: Có Tòa án áp dụng quy
định của Bộ luật Dân sự; có Tòa án áp dụng quy định của Luật chuyên ngành; có

vậy, ta xác định được phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án về vấn đề này. Đó
6


Bài tập nhóm
là không phải tất cả những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mà chỉ những tranh chấp nào
giữa cá nhân, tổ chức với nhau đều có mục đích lợi nhuận thì được xếp vào những
tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Có
nhiều ý kiến cho rằng không nên tách loại tranh chấp về sở hữu trí tuệ ra làm hai
loại căn cứ vào việc xác định có hay không có mục đích lợi nhuận, nếu không có
mục đích lợi nhuận là tranh chấp dân sự (khoản 4 Điều 25 BLTTDS) còn nếu có
mục đích lợi nhuận là tranh chấp kinh doanh, thương mại (khoản 2 Điều 29
BLTTDS).
Thực trạng áp dụng:
Việc phân biệt như hiện nay dẫn đến sự phân loại tranh chấp, xác định thẩm
quyền của Tòa án chưa rõ ràng. Thực tế ngày nay tri thức đã trở thành hàng hóa
trực tiếp, các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ sẽ ngày càng
nhiều, ngày càng phức tạp và ngày càng gần gũi với các tranh chấp thương mại
hơn (các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ hầu hết là đều nhằm mục đích lợi
nhuận). Trên cơ sở các quy định rải rác trong các văn bản pháp luật về thẩm quyền
của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp và thực tế phát sinh, giải quyết các tranh chấp này, thẩm quyền theo vụ việc
có thể được xác định như sau:
Những tranh chấp về quyền tác giả thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án:
- Tranh chấp giữa các cá nhân, tổ chức nhằm xác định tác giả, đồng tác giả,
chủ sở hữu tác phẩm;
- Tranh chấp giữa tác giả, đồng tác giả không phải là chủ sở hữu tác phẩm và
chủ sở hữu tác phẩm về các quyền nhân thân, quyền tài sản của các chủ thể này;
- Tranh chấp về thừa kế quyền tác giả;

- Chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp khởi kiện người sử dụng
trước các đối tượng sở hữu công nghiệp này trong trường hợp người sử dụng trước
chuyển giao quyền sử dụng cho người khác hoặc mở rộng khối lượng, phạm vi so
8


Bài tập nhóm
với ngày công bố trong đơn;
- Cá nhân, tổ chức khởi kiện cá nhân, tổ chức khác cản trở, hạn chế quyền tự
do sáng tạo, quyền sở hữu các sản phẩm trí tuệ của mình;
- Tranh chấp về thừa kế quyền sở hữu công nghiệp;
- Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng
đối tượng sở hưũ công nghiệp (còn gọi là hợp đồng li-xăng);
- Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp;
- Tranh chấp về quyền nộp đơn xin cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp (Bằng độc quyền hoặc Giấy chứng nhận);
- Tranh chấp về việc trả thù lao và các khoản phí khác giữa Cục sở hữu trí tuệ
và các chủ thể khác.
2.3. Giải quyết tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty,
giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt
động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức
của công ty.
Cơ sở pháp lý:
Theo quy định tại khoản 3 điều 29 BLTTDS thì các tranh chấp giữa công ty
với các thành viên và các giữa các thành viên trong công ty mà liên quan đến hoạt
động thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình
thức công ty thuộc thẩm quyền xét xử dân sự của tòa án. Ngoài ra việc giải quyết
các tranh chấp này cũng được quy định rõ tại Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP:
- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty là các tranh chấp
về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thường phần vốn góp

rất phức tạp. Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của Công ty theo quy
10


Bài tập nhóm
định tại khoản 3 Điều 29 BLTTDS đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn tại tiểu mục 3.5 Mục 3 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP
ngày 31-3-2005 khá cụ thể nên giúp cho Tòa án phân định rõ các loại tranh chấp
kinh doanh thương mại khá mới mẻ ở Việt Nam. Tuy nhiên, quy định tại khoản 3
Điều 29 BLTTDS do cụm từ “liên quan đến việc thành lập, hoạt động…” có nghĩa
rất rộng, nên các Tòa án địa phương gặp lúng túng và nhầm lẫn trong việc xác định
các loại tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động nói ở điểm c tiểu mục 3.5 Nghị
quyết số 01/2005 nêu trên là tranh chấp thương mại (như các trường hợp: Công ty
khởi kiện đòi lại con dấu của Công ty do thành viên của Công ty – lãnh đạo của
Công ty nhiệm kỳ trước – không chịu giao con dấu cho lãnh đạo mới của Công ty;
thành viên Công ty cho Công ty vay tiền nay khởi kiện đòi nợ; Công ty khởi kiện
đòi thành viên của Công ty thực hiện nghĩa vụ khoán trong kinh doanh; . . .).
3. Một số ý kiến đề xuất về vấn đề thẩm quyền theo loại việc của Tòa án về
tranh chấp kinh doanh, thương mại:
Sau đây là một số vướng mắc của quy định pháp luật cùng với những kiến nghị
nhóm xin được đề ra.
Thứ nhất, chưa có giải thích thế nào là “tranh chấp đầu tư, tài chính, bảo
hiểm” theo quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS? hay thế nào là tranh chấp giữa
thành viên công ty với nhau liên quan tới “hoạt động” của công ty theo quy định tại
khoản 3 Điều 29 BLTTDS. Khái niệm “hoạt động” được hiểu theo phạm vi rộng
hay phạm vi hẹp?.... Hiện nay chưa có văn bản nào của Tòa án nhân dân tối cao
cũng như của các cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn áp dụng quy định
này. Tuy nhiên, khi giải quyết các vấn đề liên quan, thì cần chú ý đến các Luật

quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nếu người
mua hay người bán, hoặc cả người mua và người bán đều không có đăng ký kinh
doanh, thì vụ án đó thuộc thẩm quyết giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án
nhân dân cấp huyện.
12


Bài tập nhóm
Thứ tư, Cần quy định cụ thể thẩm quyền theo loại việc, cùng là lĩnh vực ngân
hàng nhưng loại nào thuộc Tòa án cấp tỉnh, loại nào thuộc Tòa án cấp huyện. Bởi
lẽ thực tiễn áp dụng khoản 1 Điều 29 và điểm b khoản 1 Điều 33 BLTTDS còn
vướng mắc: Tranh chấp phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng như hợp đồng gia
công, hợp đồng hợp tác kinh doanh… có thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
hay không? Vì khoản 1 Điều 29 và điểm b khoản 1 Điều 33 không quy định.
Những việc xác định tranh chấp giữa cá nhân góp vốn và là thành viên Hội đồng
quản trị của Trường phổ thông dân lập với pháp nhân, Trường phổ thông dân lập
đó liên quan đến hoạt động của trường là loại án kinh doanh, thương mại hay dân
sự? không thuộc phạm vi Điều 29 nhưng thuộc thẩm quyền của Tòa Kinh tế Tòa án
cấp tỉnh theo Nghị quyết 01/2005 ngày 31-3-2005? Thẩm quyền giải quyết vụ việc
này là Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện? Tương tự với trường hợp Xã viên
hợp tác xã không nhất trí với quyết định khai trừ tư cách xã viên khởi kiện hợp tác
xã ra Tòa án?
Thứ 5, Khoản 1 Điều 29 BLTTDS liệt kê 14 loại tranh chấp thương mại (hành
vi thương mại) cụ thể. Có ý kiến cho rằng việc liệt kê như hiện nay là vừa không
đầy đủ lại vừa thừa. Nếu có những tranh chấp thuộc loại nằm ngoài các tranh chấp
được liệt kê này thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết hay không? ví dụ: tranh chấp
về vận chuyển hàng hóa bằng đường ống hoặc những loại tranh chấp mới xuất hiện
ở Việt Nam. Ngược lại, nhiều loại tranh chấp cụ thể này đều có thể quy về loại
tranh chấp “cung ứng dịch vụ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 29 BLTTDS, nếu
hiểu khái niệm “cung ứng dịch vụ” theo nghĩa rộng như trong khái niệm “hoạt

BLTTDS;
3. Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 15/5/2006 hướng dẫn thi hành
một số quy định của BLTTDS về : “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án
nhân dân cấp sơ thẩm”;
4. Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố Tụng Dân Sự, NXB Tư
Pháp;
5. Tham luận về tình hình thụ lý và giải quyết các vụ việc kinh doanh
thương mại năm 2007 của Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao.
6. Nguyễn Minh Đức. Cơ chế và kiến nghị hoàn thiện giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh bằng Tòa Kinh tế, Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status