BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM SỐ 2
MÔN
TRỌNG TÀI QUỐC TẾ
Đề bài: Phân tích những nội dung pháp lý của vấn đề
thẩm quyền trọng tài quốc tế.
LỚP
NHÓM
: QT33A
: QT33A 2
\
Hà Nội, 2012
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
Nhóm 2 – QT33A
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
MỤC LỤC
LỜI MỞĐẦU........................................1
I.KHÁI QUÁT CHUNG.................................................................................1
những nội dung pháp lý quan trọng của pháp luật
về TTQT.
Nhóm 2 – QT33A
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
I. KHÁI QUÁT CHUNG.
Vấn đề thẩm quyền là một trong những vấn đề cơ bản của pháp luật trọng
tài quốc tế song lại là một vấn đề có nội dung pháp lý rất rộng. Để hiểu được
rõ về thẩm quyền của TTQT thì cần làm rõ những khái niệm: trọng tài,
TTQT, thẩm quyền. Tuy nhiên, do dung lượng bài viết có hạn nên trong bài
viết này nhóm em chỉ xin trình bày những vấn đề cơ bản nhất.
Khái niệm thẩm quyền là một khái niệm được sử dụng rất nhiều trong khoa
học pháp lý, nhưng cho đến hiện nay chưa có một văn bản chính thức nào quy
định thế nào là thẩm quyền. Thuật ngữ "thẩm quyền" bắt nguồn từ tiếng la
tinh "competentia" có hai nghĩa là: 1) Phạm vi các quyền hạn của cơ quan
hoặc người có chức vụ nào đó; 2) Phạm vi những kiến thức và kinh nghiệm
mà ai đó có1. Theo quan điểm của nhóm, trong khái niệm thẩm quyền của
TTQT thì thẩm quyền được hiểu theo nghĩa thứ nhất, có nghĩa là phạm vi các
quyền hạn của TTQT. Hay nói rõ hơn, thẩm quyền của TTQT có thể hiểu là
TTQT sẽ được xét xử những vụ việc nào và trong quá trình xét xử, tiến hành
tố tụng TTQT được làm những gì, đó chính là thẩm quyền của TTQT.
Theo pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam, TTQT có thẩm
quyền xét xử những tranh chấp phát sinh từ những quan hệ có bản chất
thương mại, phát sinh giữa thương nhân với thương nhân hoặc giữa thương
nhân với Nhà nước khi có thỏa thuận trọng tài. Điều này có thể hiểu là, pháp
luật trao cho TTQT nói chung thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực thương mại nói chung nhưng cụ thể TTQT nào có thẩm
quyền giải quyết vụ tranh chấp nào thì điều đó lại được quyết định bởi thỏa
gia sở tại có cụ thể Luật Mẫu và cho phép TTQT xét xử hay không. Theo
pháp luật Việt Nam, căn cứ Điều 2 Luật TTTM năm 2010, khoản 2 thì trọng
tài có thẩm quyền xét xử tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất
một bên có hoạt động thương mại. Nghĩa là nếu một bên không phải là
thương nhân thì theo pháp luật Việt Nam, trọng tài vẫn có thẩm quyền giải
quyết.
2. Tranh chấp giữa một bên là Nhà nước
Những tranh chấp này thường xảy ra trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
Phần lớn trong những dự án đầu tư không có chuyện nhà đầu tư nước ngoài
ký hợp đồng với Nhà nước, vì họ thực hiện theo luật đầu tư. Trừ trường hợp
Nhà nước đứng ra cam đoan về điều khoản trọng tài, thường được ghi nhận
trong các công ước, hiệp định liên quan đến vấn đề đầu tư. Ví dụ như trong
Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ (Điều 7 khoản 2) Bởi vậy khi phát
Nhóm 2 – QT33A
2
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
sinh tranh chấp, cần xem xét xem có điều ước quốc tế nào mà Nhà nước ấy
tham gia cho phép đưa tranh chấp ra TTQT hay không. Trường hợp khác là
TTQT có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi có công ước mà Nhà nước sở
tại và Nhà nước của nhà đầu tư cùng tham gia quy định việc sẽ giải quyết
tranh chấp bằng TTQT thì TTQT có thẩm quyền giải quyết. Ví dụ như trong
khối Asean có ký điều ước về bảo hộ đầu tư (hiệp định đầu tư toàn diện
Asean – ACIA), nhà đầu tư của nước này sang đầu tư ở nước khác cùng khối
thì khi có tranh chấp, họ được phép đưa ra TTQT để giải quyết.
Trên thực tế ở nước ta đã có trường hợp tranh chấp giữa Nhà nước với
thương nhân được đưa ra giải quyết tại TTQT. Gần đây nhất là vụ việc công
ty South Fork (Mỹ) kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đòi bổi thường vì
Khi có sự khiếu nại về thẩm quyền giải quyết tranh chấp, sự khác biệt giữa
tòa án và TTQT như sau:
Tòa án
Tòa án đang thụ lí ra
TTQT
HĐTT xem xét đơn yêu cầu về việc HĐTT
quyết định chuyển hồ sơ không có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Nếu
cho tòa án có thẩm quyền HĐTT giải quyết như là một vấn đề mở đầu là ủy
và xóa sổ thụ lý và gửi ban có thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào
quyết định cho các bên cũng có thể, trong vòng 30 ngày sau khi nhận
liên quan.
được thông báo về quyết định này, đề nghị toà án
được xác định tại điều 6 luật mẫu quyết định vấn
đề này, quyết định này không bị kháng án.
Tòa án đang thụ lý vụ
Trong khi yêu cầu xem xét thẩm quyền xét xử
việc sẽ ngừng ngay quá của HĐTT đang chờ giải quyết thì HĐTT vẫn có
trình tố tụng khi có đơn thể tiếp tục tiến hành quá trình tố tụng và đưa ra
yêu cầu xem xét thẩm quyết định. Điều này nhằm đảm bảo quá trình tố
quyền xét xử của tòa án.
tụng được diễn ra liên tục, không bị trì trệ bởi các
lý do không rõ ràng.
Sự khác biệt nói trên là do tòa án hoạt động tuyệt đối theo quy định của
pháp luật quốc gia trong khi TTQT lại hoạt động theo tiêu chí của pháp luật
Quốc (UNCITRAL).
Trách nhiệm chứng minh thuộc hoàn Trách nhiệm chứng minh
nhiệm
toàn về các bên tranh chấp. HĐTT chủ yếu thuộc về các bên
chứng
chỉ xem xét các chứng cứ để sử dụng tranh chấp, tòa án chỉ tiến
minh
để đưa ra phán quyết chứ không có hành xác minh, thu thập
trách nhiệm chứng minh trong mọi chứng
trường hợp.
cứ
trong
những
trường hợp do luật tố tụng
dân sự Việt Nam quy định.
Sự khác biệt này xuất phát từ sự khác nhau về bản chất của HĐTT và tòa
án. Về bản chất, tòa án là một cơ quan công quyền được nhà nước lập ra để
phục vụ người dân giải quyết câc tranh chấp trong xã hội trong khi TTQT lại
là một tổ chức độc lập, hoạt động vì lợi ích của chính mình. Chính vì vậy,
6
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên đây có thể thấy pháp luật quốc tế đã quy định khá
đầy đủ những vấn đề cơ bản về thẩm quyền của TTQT. Tuy nhiên, những vấn
đề này chỉ mang tính khái quát, dẫn đường chứ không chi tiết, cụ thể. Việc
quy định chi tiết, cụ thể những vấn đề này sẽ được thể hiện ở pháp luật mỗi
quốc gia, tùy thuộc vào những nguyên tắc, chính sách cũng như bộ máy Nhà
nước riêng của mỗi quốc gia. Đây là một điều rất hợp lý.
Đối với Việt Nam, Luật TTTM năm 2010 cũng quy định khá rõ ràng về
vấn đề này, không những tuân thủ đúng tinh thần của luật mẫu mà còn được
mở rộng và chi tiết. Tuy nhiên, thực tế chứng minh hiệu quả làm việc của
TTQT ở Việt Nam còn chưa cao. Việt Nam hiện nay có 3 Trung tâm TTQT
thì hầu như chỉ trung tâm TTQT VIAC là hoạt động. Trong khi đó, số lượng
các vụ việc được giải quyết cũng không cao. Bằng chứng là theo thống kê của
Trung tâm trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam (VIAC), trong năm 2007 TAND Thành phố Hà nội đã xử gần 9.000 vụ
án trong đó có khoảng 300 vụ tranh chấp kinh tế và TAND Tp. Hồ Chí Minh
xử gần 42.000 vụ án, trong đó có 1000 vụ tranh chấp kinh tế thì VIAC với tư
cách là tổ chức trọng tài lớn nhất Việt Nam cũng chỉ tiếp nhận 30 vụ tranh
chấp trong năm 2007 và 58 vụ trong năm 2008. Trong khi mỗi thẩm phán ở
Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm, ở Toà kinh tế Tp. Hồ Chí
Minh xử 50 vụ một năm thì mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0,25 vụ một
năm. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có việc chưa
có cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của trọng tài cũng như tâm lý e
ngại về giá trị phán quyết của trọng tài.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của TTQT ở Việt Nam, pháp luật Việt
cho điều khoản trọng tài bị vô hiệu theo.
2. Đơn yêu cầu về việc hội đồng trọng tài không có thẩm quyền sẽ phải đưa
ra không muộn hơn với việc nộp bản biện hộ. Không thể ngăn cản bên đưa ra
đơn yêu cầu này chỉ vì đã chỉ định trọng tài viên hoặc tham gia việc chỉ định
trọng tài viên. Đơn yêu cầu về việc hội đồng trọng tài vượt quá phạm vi được
ủy quyền phải được đưa ra ngay khi nhận thấy sự kiện được cho là vượt quá
thẩm quyền của hội đồng trọng tài nảy sinh trong quá trình tố tụng trọng tài.
Một trong hai trường hợp này, hội đồng trọng tài có thể chấp nhận đơn yêu
cầu sau nếu hội đồng xét thấy sự trì hoãn này là hợp lý.
3. Hội đồng trọng tài có thể quyết định về đơn yêu cầu chỉ ra ở khoản 2 của
điều này như là vấn đề mở đầu hoặc giải quyết tại quyết định về nội dung
tranh chấp. Nếu hội đồng trọng tài giải quyết như là một vấn đề mở đầu là ủy
ban có thẩm quyền xét xử, thì bất kỳ bên nào cũng có thể, trong vòng 30 ngày
sau khi nhận được thông báo về quyết định này, đề nghị toà án được xác định
tại điều 6 quyết định vấn đề này, quyết định này không bị kháng án; trong khi
yêu cầu đó đang chờ giải quyết thì hội đồng trọng tài vẫn có thể tiếp tục tiến
hành quá trình tố tụng và đưa ra quyết định.
Điều 17: Thẩm quyền của hội đồng trọng tài ra các biện pháp tạm thời
Trừ khi các bên có thoả thuận khác, hội đồng trọng tài có thể theo yêu cầu
của một bên buộc bất kỳ bên nào phải tiến hành biện pháp bảo vệ tạm thời khi
hội đồng trọng tài thấy cần thiết đối với nội dung tranh chấp. Hội đồng trọng
tài có thể yêu cầu bất kỳ phía nào đưa ra sự bảo đảm thích hợp về biện pháp
trên.
Điều 23. Đơn kiện và đơn biện hộ
1. Trong thời gian do các bên thoả thuận hoặc do hội đồng trọng tài quyết
định, nguyên đơn sẽ nêu rõ các sự việc chứng minh cho đơn kiện của mình,
những điểm của tranh chấp, những thiệt hại và những yêu cầu của nguyên
đơn, và bị đơn sẽ trình bày bản tự bào chữa về những điểm cụ thể này, trừ khi
các bên có thoả thuận khác về những điểm cần cho những văn bản này. Các
bên có thể nộp bản giải trình của mình cùng với các chứng từ mà họ cho là có
Điều 7. Trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền
Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà
cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương
sự, Toà án; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng
văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp
được chứng cứ.
Điều 37. Chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh chấp
về thẩm quyền
1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án đã thụ lý thì Toà án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự
cho Toà án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi
ngay cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
Đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại quyết
định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án
Toà án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại.
2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện trong
cùng một tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
Nhóm 2 – QT33A
10
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc
các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án
nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao giải quyết.
Hiệp định quan hệ thương mại Việt – Mỹ.
tài nào khác, hoặc về luật được áp dụng trong giải quyết trọng tài, hoặc những
hình thức giải quyết tranh chấp khác mà các Bên cùng mong muốn và cho là
phù hợp nhất cho các nhu cầu cụ thể của mình.
6. Mỗi Bên bảo đảm tại lãnh thổ của mình có một cơ chế hiệu quả để công
nhận và thi hành các phán quyết trọng tài.
Nhóm 2 – QT33A
11
Bài tập nhóm môn Trọng tài quốc tế số 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế (Tài liệu số A/40/17, phụ
lục I của Liên Hợp Quốc) được ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương
mại quốc tế thông qua ngày 21 tháng 06 năm 1985;
2. Quy tắc tố tụng trọng tài của ủy ban pháp luật thương mại quốc tế
của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL);
3. Luật Trọng tài thương mại Việt Nam 2010;
4. Luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2005;
5. Hiệp định quan hệ thương mại Việt – Mỹ 2001;
6. Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và vai trò của Tòa án trong quá
trình tố tụng trọng tài, Đào Trí Úc, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học
26, 2010, 270-276;
7. />hp?action=shownews&category=&id=56&topicid=373;
8. />
Nhóm 2 – QT33A