BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 11
--------------------------------------------------------------------------------------------Kháng cáo, kháng nghị là quyền của những người tham gia Tố tụng và
Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật được đề nghị Tòa án cấp trên trực
tiếp xét lại bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 (BLTTHS) đã dành riêng một
chương để quy định về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cũng như các vấn
đề liên quan. Bài viết sau đây đi vào tìm hiểu quy định của BLTHHS về
kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm cũng như thực tiễn thi hành các quy định
của pháp luật. Từ đó đưa ra một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật hiện hành.
I.
KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM THEO QUY
ĐỊNH CỦA BLTTHS.
1. Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm là toàn bộ hoặc một
phần bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật và một số các
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
BLTTHS không có quy định cụ thể những quyết định nào của Tòa án
cấp sơ thẩm là đối tượng kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, thông qua các
quy định khác trong BLTTHS cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành có
thể xác định được các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là đối tượng của
kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm gồm: quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ
án (khoản 2 Điều 239 BLTTHS), quyết định về việc áp dụng biện pháp chữa
bệnh (khoản 2 Điều 316 BLTTHS). Quyết định của Tòa án về việc miễn,
giảm thời hạn chấp hành hình phạt hoặc rút ngắn thời gian thử thách của án
treo có thể là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm.
BLTTHS không quy định căn cứ kháng cáo nhưng kháng nghị của
Viện kiểm sát thì phải nêu rõ lý do (khoản 2 Điều 233 BLTTHS), có thể là:
quyền có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định sơ thẩm liên quan đến
việc bồi thường thiệt hại.
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ
có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm liên quan đến việc
bồi thường thiệt hại.
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2
BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 11
--------------------------------------------------------------------------------------------Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện
hợp pháp có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm liên quan
đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ hoặc chủ thể mà họ đại diện.
Người bảo vệ quyền lợi của đương sự chưa thành niên, có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định sơ
thẩm liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ. Đây là
quyền kháng cáo độc lập, không phụ thuộc vào sự đồng ý của đương sự.
2.2. Chủ thể có quyền kháng nghị phúc thẩm (Điều 232 BLTTHS).
Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm và viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị phúc thẩm. Trong trường hợp hai bản
kháng nghị có nội dung bổ sung cho nhau thì Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận cả hai bản kháng nghị để xét xử. Trong trường hợp hai bản kháng nghị
có nội dung mâu thuẫn nhau thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận kháng
nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để xét xử. Việc chấp nhận ở đây chỉ
mang nghĩa là chấp nhận về mặt hình thức, chấp nhận kháng nghị để mở
phiên tòa phúc thẩm chứ không phải hội đồng xét xử quyết định theo yêu cầu
của kháng nghị.
nhận kháng cáo quá hạn.
3.2. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm (Điều 234 BLTTHS).
Thời hạn kháng nghị bản án của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày,
của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Thời hạn kháng nghị những quyết định của Viện kiểm sát cùng cấp là 7
ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra
quyết định.
3.3. Cách xác định một số thời điểm liên quan đến thời hạn kháng cáo,
kháng nghị phúc thẩm.
Thời điểm bắt đầu thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của
ngày được xác định, có thể là:
- Ngày Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, trong trường hợp bị cáo, đương sự
có mặt tại phiên tòa kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị;
- Ngày bản án được giao hoặc niêm yết, trong trường hợp bị cáo, đương
sự vắng mặt tại phiên tòa kháng cáo;
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
4
BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 11
--------------------------------------------------------------------------------------------- Ngày Tòa án ra quyết định, trong trường hợp Viện kiểm sát kháng
nghị;
- Ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định, trong trường
hợp quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án.
Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết
thúc ngày cuối cùng của thời hạn. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời
hạn vào lúc 24h của ngày đó. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ
đưa vào hồ sơ vụ án.
Thứ ba, theo quy định tại khoản 2 điều 237 BLTTHS thì Tòa án cấp sơ
thẩm phải gửi hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc
thẩm trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Thứ tư, về việc bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị,
BLTTHS ghi nhận tại điều 238. Chủ thể kháng cáo, kháng nghị có quyền bổ
sung, thay đổi kháng cáo kháng nghị nhưng không làm xấu đi tình trạng của
bị cáo; có thể rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Về việc bổ
sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nghị quyết 05/2005/NQ – HĐTP có
hướng dẫn như sau:
- Trong trường hợp vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì người
kháng cáo, viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung
kháng cáo, kháng nghị đối với phần hoặc toàn bộ bản án mà mình có quyền
kháng cáo, kháng nghị theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo.
- Trong trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì trước khi
bắt đầu phiên hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, viện kiểm sát
đã kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, kháng nghị
nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.
Trong trường hợp người kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng
cáo, kháng nghị, trong vụ án không còn kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử
phúc thẩm phải được đình chỉ. Trước khi mở phiên tòa, thẩm quyền ra quyết
định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm thuộc về thẩm phán được phân công chủ
tọa phiên tòa. Tại phiên tòa, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ xét xử phúc
thẩm thuộc về hội đồng xét xử. Trong trường hợp người kháng cáo rút một
phần kháng cáo, nhiều người kháng cáo nhưng có người rút, có người không
rút kháng cáo, viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Tòa án xét xử đối
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
6
giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
7
BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 11
--------------------------------------------------------------------------------------------sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho
hưởng án treo đối với những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng
cáo, kháng nghị.
II.
THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH VỀ KHÁNG CÁO,
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM.
Bất kỳ một quy định nào của pháp luật khi đưa ra thi hành cũng có sự
phản hồi của thực tế. Việc quy định đó có hợp lý hay không bắt buộc phải có
sự đánh giá từ chính việc áp dụng pháp luật. Trong thực tiễn áp dụng pháp
luật các quy định của BLTTHS về kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm có một
số các điểm đáng chú ý như sau:
Căn cứ để xét xử theo thủ tục phúc thẩm là có kháng cáo, kháng nghị
một phần hay toàn bộ bản án cũng như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Cùng với đó, BLTTHS cũng quy định tính chất của xét xử phúc thẩm là việc
Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án,
quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị. Tuy nhiên BLTTHS cũng có quy định thẩm quyền xem xét các
phần không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án sơ thẩm của Tòa án cấp
phúc thẩm. Phải chăng trong quy định của BLTTHS đã có sự mâu thuẫn giữa
việc xác định tính chất của xét xử phúc thẩm và xác định thẩm quyền của Tòa
kháng cáo, kháng nghị chỉ có thể theo hướng có lợi cho bị cáo trong mọi
trường hợp. Tuy nhiên, khi hướng dẫn quy định trong bộ luật, với mục đích
tạo thuận lợi cho chủ thể kháng cáo, kháng nghị, Nghị quyết 05/2005/NQ –
HĐTP đã quy định thành hai trường hợp theo thời hạn kháng cáo, kháng nghị,
đó là:
- Nếu việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn
kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật thì chủ thể có quyền có
thể sửa đổi, bổ sung hoặc rút kháng cáo, kháng nghị theo bất kỳ hướng nào,
dù là có lợi hay làm xấu đi tình trạng của bị cáo;
- Nếu việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị ngoài thời hạn
kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật thì chủ thể có quyền chỉ
có thể thực hiện theo hướng có lợi cho bị cáo.
- Cạnh đó, trong cơ chế hai cấp xét xử, phúc thẩm là cấp thứ hai để xử lại
bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo hoặc
kháng nghị. Phạm vi xét xử phúc thẩm được khoanh trong nội dung có kháng
cáo, kháng nghị. Cấp phúc thẩm có quyền chấp nhận hay bác bỏ kháng cáo,
kháng nghị và tuyên y án sơ thẩm, sửa án, hủy án để điều tra, xét xử lại hay
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
9
BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 11
--------------------------------------------------------------------------------------------đình chỉ vụ án. Thực tiễn xét xử cho thấy Điều 249 BLTTHS về sửa bản án sơ
thẩm chưa bao quát hết các trường hợp phát sinh. Chẳng hạn, điều luật quy
định hội đồng xét xử phúc thẩm được tuyên giữ nguyên mức hình phạt tù của
án sơ thẩm nhưng cho hưởng án treo mà không quy định ngược lại là đổi án
treo sang án tù. Như vậy, tòa phúc thẩm bó tay khi muốn sửa theo hướng giữ
10
BÀI TẬP HỌC KỲ
ĐỀ SỐ 11
--------------------------------------------------------------------------------------------nếu không quy định trong điều luật sẽ không có căn cứ pháp lý để giải quyết.
Việc xem xét, giải quyết phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.
Hội đồng Xét xử có thể không chấp nhận việc bổ sung, thay đổi kháng cáo,
kháng nghị nếu vi phạm Điều 238 BLTTHS. Nếu việc bổ sung kháng cáo dẫn
đến việc phạm vi xét xử phúc thẩm liên quan đến những người tham gia tố
tụng khác chưa được triệu tập thì cần phải hoãn phiên tòa để triệu tập thêm
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Trong
trường hợp Viện kiểm sát, người kháng cáo rút kháng cáo, kháng nghị tại
phiên tòa thì việc rút kháng cáo, kháng nghị phải được ghi vào biên bản. Nếu
rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình
chỉ. Nếu rút một phần kháng cáo, kháng nghị hoặc còn có kháng cáo, kháng
nghị khác thì Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phần kháng cáo, kháng nghị còn
lại và cả những phần đã rút theo hướng giảm nhẹ về hình sự cho bị cáo theo
quy định tại Điều 241 BLTTHS và khoản 2 Điều 249 BLTTHS.
Về tổng quan, cần phải rà soát toàn bộ các điều luật để tạo nên
sự thống nhất, logic và hợp lý, tránh tình trạng điều sau mâu thuẫn với điều
trước, nội dung sau trái với nội dung trước. Hơn nữa, cần quy định một cách
cụ thể hơn, tránh tình trạng chung chung, không biết áp dụng thế nào trong
thực tế. Khi áp dụng phải chờ đợi các văn bản hướng dẫn và việc hướng dẫn
không sát theo những gì đã quy định trong luật, gây khó khăn trong việc giải
thích và xác định căn cứ pháp lý để giải quyết vụ việc.