Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, là nhân tố
quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh mà cụ thể là Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 của Bộ Chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Nghị quyết trên đã chỉ rõ vấn đề cần cụ thể hóa về tố tụng hình sự cần được
nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự,
tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án hình sự.
Với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân,
mọi quyền lực thuộc về nhân dân nên quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn
được Pháp luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định rõ ràng nhằm bảo vệ
quyền của công dân được công bằng.
Để đạt được mục đích đó, trước hết trong công tác xử lý tin báo tố giác tội
phạm và phân loại việc tạm, giữ người vi phạm pháp luật cần phải được chú trọng và
tăng cường nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm tính trung thực,
công minh, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt kẻ
phạm tội. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tạm giữ người, gây
lên những hậu quả nghiêm trọng đến quyền của người bị tạm giữ. Hệ lụy đó là tình
trạng tạm oan người vô tội, vi phạm các quyền con người, xâm phạm quyền tự do thân
thể,… không đảm bảo đúng quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Pháp luật.
Mặc dù, các cơ quan truyền thông vẫn liên tục thông tin về các vấn đề đảm bảo
các quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự nhưng thực tế vẫn xảy ra những trường hợp vi phạm các quyền và lợi ích
đã nêu của người bị tạm giữ. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu một cách có hệ thống,
Việt Nam để có cái nhìn bao quát về quyền của người bị tạm giữ.
d. Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện, đảm bảo những quyền của người bị
tạm giữ theo đúng các quy định của Pháp luật.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích,
khảo sát thực tế, so sánh để làm rõ hơn về đề tài.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn
được bố cục gồm có 03 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền của người bị tạm giữ
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền của người bị tạm giữ
Chương 3: Thực trạng, bất cập và giải pháp nhằm nâng cao quyền của người bị
tạm giữ.
GVHD: Trần Hồng Ca
2
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm và đặc điểm về quyền của người bị tạm giữ
1.1.1. Khái niệm về quyền của người bị tạm giữ
1.1.1.1. Tạm giữ
Trong cuộc sống hiện tại, khi một công dân bình thường mà bị cơ quan điều tra
tạm giữ thì trong mắt những người xung quanh đều nghĩ rằng anh ta, chị ta là người
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được Quốc hội thông qua
ngày 20/6/2012 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/7/2013.
Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 112/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 để
quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm
theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam
trong thời gian làm thủ tục trục xuất.
Với khái niệm trên, so với tạm giữ người theo thủ tục hành chính thì tạm giữ
người theo thủ tục tố tụng hình sự có một số điểm khác nhau sau đây:
Thứ nhất, đối tượng có thể bị tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình sự là những
người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Còn đối tượng bị áp dụng biện
pháp tạm giữ theo thủ tục hành chính là những người thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật hành chính.
Thứ hai, mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung theo quy định của
Bộ luật Tố tụng Hình sự là để kịp thời ngăn chặn tội phạm và để bảo đảm cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Mục đích áp dụng biện pháp tạm giữ (theo thủ
tục tố tụng hình sự) nói riêng là để xác định căn cứ khởi tố bị can đối với người bị bắt
hoặc giao người bị truy nã cho cơ quan đã ra lệnh truy nã. Còn mục đích tạm giữ
người theo thủ tục hành chính là ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật
tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc để thu thập, xác minh những tình
tiết quan trọng làm căn cứ để quyết định xử lý vi phạm hành chính.
Thứ ba, những người sau đây có quyền ra lệnh tạm giữ theo thủ tục tố tụng hình
sự: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Người chỉ huy đơn vị quân
đội độc lập cấp Trung đoàn và tương đương; Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo
và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,
quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa vị
pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý
của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt
động của mình. Thông qua địa vị pháp lý, ta có thể phân biệt được chủ thể pháp luật
này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng
của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp lý4.
Do vậy, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật
có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi chủ thể. Đối với chủ thể có địa vị pháp lý, sẽ
giúp họ thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của mình. Còn đối với các chủ thể
khác, việc nắm vững địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật sẽ giúp họ
không xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của người khác.
Trong tố tụng hình sự, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể càng có vai
trò quan trọng hơn hết. Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều
giai đoạn khác nhau. Và tại mỗi giai đoạn, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố
tụng cũng không giống nhau. Việc xác định một người bị coi là tạm giữ từ khi nào rất
quan trọng, khi đó xác định vị trí của người đó là người tham gia vào quá trình tố tụng
hình sự, xác lập quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ.
Tuy nhiên, việc xác định thời điểm một người bị coi là người bị tạm giữ là rất
khó, bởi vì, đối tượng của người bị tạm giữ trong đó bao gồm cả người chưa bị khởi tố
2
Khoản 1 Điều 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Khoản 2 Điều 118 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
4
Dòng 27 Trang 244 Từ điển Luật học
3
GVHD: Trần Hồng Ca
5
hoặc trả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra.
Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự bao gồm: bị can,
bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành án bỏ trốn nhưng bị
bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú và đã có quyết định tạm
giữ đối với họ. Do đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng hình
sự, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.
5
Điểm d Khoản 1 Điều 22 và Điểm c Khoản 2 Điều 25 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014
GVHD: Trần Hồng Ca
6
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Hay nói cách khác, người bị tạm giữ là người bị nghi đã thực hiện tội phạm và
đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền. Để trở thành người bị
tạm giữ cần có đủ hai điều kiện:
1. Điều kiện về nội dung:
Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy
ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm
ở người hoặc nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng
cứ; người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người tự
thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm.
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Thực chất người bị tạm giữ vẫn là công dân bình thường mà chỉ bị cơ quan điều
tra đại diện cho Pháp luật đang nghi ngờ chứ chưa phải là tội phạm (chưa bị Tòa án kết
án là tội phạm) nên người bị tạm giữ vẫn có một số quyền và bị hạn chế một số quyền.
Nói về “Quyền” dưới gốc độ ngôn ngữ học thì: Quyền là cái mà luật pháp, xã
hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành,... và khi thiếu được
yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại6.
Dưới gốc độ pháp lý thì: Quyền là những việc mà một người được làm mà
không bị ai ngăn cản, hạn chế.
Từ đó những khái niệm trên, người viết có thể đưa ra khái niệm: Quyền của
người bị tạm giữ là những việc mà người bị tạm giữ được làm, được Pháp luật bảo hộ
và không ai được ngăn cản những việc đó trong thời gian bị tạm giữ.
1.1.2. Đặc điểm về quyền của người bị tạm giữ
Mọi công dân Việt Nam đều có đầy đủ các quyền công dân mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã định thông qua Hiến pháp. Một công dân bị tạm giữ
theo đúng quy định của Pháp luật thì dĩ nhiên sẽ bị Pháp luật hạn chế một số quyền.
Tuy nhiên, người bị tạm giữ vẫn được đảm bảo một số quyền có đặc điểm như sau:
1.1.2.1. Tính tôn trọng và bảo vệ
Đây là đặc điểm quan trọng nhất và tiên quyết nhất trong quá trình tạm giữ
người theo quy định của Pháp luật. Người bị tạm giữ chỉ là người bị hoài nghi, nghi
ngờ có hành vi phạm tội vì vậy, khi tiến hành các hoạt động tạm giữ người thì trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm
giữ.
Đó là những quy định, những yêu cầu mà Pháp luật đặt ra và kỳ vọng người
thực thi Pháp luật nói chung và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nói riêng có thể
thực hiện được đặc điểm về tính tôn trọng và bảo vệ đối với người bị tạm giữ.
Thực tế thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng luôn có định kiến người bị
tạm giữ là tội phạm do người bị tạm giữ có thể là do vô tình hoặc nhầm lẫn liên quan
đến một chứng cứ nào đó.
của thời chế độ phong kiến.
1.1.2.4. Tính bảo hộ của Pháp luật
Tất cả mọi người đều có quyền được Pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm
và tài sản kể cả người bị tạm giữ. Cơ quan đại diện cho sự bảo hộ này của Nhà nước là
cơ quan công an. Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đến danh dự, nhân phẩm, tài
sản của người bị tạm giữ đều bị xử lý theo pháp luật.
1.1.2.5. Tính phản biện
Bất cứ hành vi ép cung hay dùng nhục hình đều vi phạm Pháp luật, song song
đó quyền của người bị tạm giữ còn có đặc điểm là phản biện để nói lên sự thật điều
mình muốn nói để làm cơ sở kêu oan (nếu có).
Chính vì vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định:
Người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải
thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào
chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1.2. Mục đích và ý nghĩa của quyền của người bị tạm giữ
1.2.1. Mục đích về quyền của người bị tạm giữ
Mục đích tạm giữ là nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trở
việc điều tra khám phá tội phạm của người bi nghi là thực hiện hành vi phạm tội, tạo
điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền đủ thời gian để xác định tính chất, mức độ của
hành vi, nhân thân của người thực hiện hảnh vi nguy hiểm cho xã hội để từ đó có thể
quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc không khởi tố vụ án hình sự,
khởi tố bị can hoặc các quyết định quản lý cần thiết khác như, tạm giữ áp dụng các
biện pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị tạm.
Như vậy, mục đích của tạm giữ nhằm phục vụ công tác điều tra khám phá tội
phạm. Vì vậy, người bị tạm giữ bị hạn chế một số quyền. Tuy nhiên, Pháp luật Tố tụng
Hình sự quy định “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền
con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp
cụ thể thì công tác chuyên môn nghiệp vụ sẽ càng chính xác, chuyên nghiệp và được
lòng tin của nhân dân đến các cơ quan công quyền. Đó hướng xây dựng các quyền của
người bị tạm giữ theo quy định của Pháp luật về tố tụng hình sự.
1.3. Lịch sử về quyền của người bị tạm giữ từ năm 1988 đến nay
1.3.1. Giai đoạn từ 1988 đến trước năm 2003
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Quốc hội thông qua ngày 18/06/1988, có hiệu lực ngày 01/01/1989 đánh dấu
bước phát triển mới trong quá trình pháp điển hóa Luật tố tụng hình sự ở nước ta. Qua
3 lần sửa đổi (năm 1990, 1992 và 2000), các quy định về người bị tạm giữ đã từng
bước được hoàn thiện.
9
Điều 8 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
GVHD: Trần Hồng Ca
11
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Lần đầu tiên, khái niệm về người bị tạm giữ cùng quy định về quyền và nghĩa
vụ của người bị tạm giữ được đề cập trong luật. Tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 1988 quy định: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc
phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố.
Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích quyền và
nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra những yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ và những
quyết định khác có liên quan. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về
tạm giữ.
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Ngày 26/11/2003, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003
(Luật số 19/2003/QH11), được thông qua tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XI, có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004.
Theo đó, người bị tạm giữ được Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đề cập đến
ở Điều 48 với ba điều khoản về khái niệm về người bị tạm giữ, các quyền của người bị
tạm giữ và nghĩa vụ thực hiện của người khi bị tạm giữ.
Trong đó, người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội
quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và
đối với họ đã có quyết định tạm giữ10.
So sánh khái niệm về người bị tạm giữ được đề cập trong Bộ luật Tố tụng Hình
sự năm 1988 thì Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 được bổ sung “người bị bắt theo
quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú”.
Còn về quyền của người bị tạm giữ thì Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 được
bổ sung các quyền như:
(1) Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
(2) Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật;
(3) Quyền khiếu nại những hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng.
Có thể nói Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã cải tiến rất nhiều so với Bộ
luật Tố tụng Hình sự năm 1988 khi bổ sung quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác
bào chữa.
Vì bản chất tạm giữ chỉ là biện pháp ngăn chặn tức thời, người bị tạm giữ cần
phải có tiếng nói để minh oan cho mình vì vậy, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 bổ
sung Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật để minh chứng cho cái oan của chính bản thân mình
(nếu có).
Ngoài ra, người bị tạm giữ còn có quyền khiếu nại đối với những hành vi tố
Quốc hội cần chỉnh sửa cho phù hợp nên người viết vẫn phân tích các điều khoản về
quyền của người bị tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Quy định chi tiết về quyền của người bị tạm giữ theo Bộ luật Tố tụng Hình sự
năm 2015 được phân tích ở Chương 2 của luận văn này.
GVHD: Trần Hồng Ca
14
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 số 101/2015/QH13 được ban hành ngày
27/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 gồm có chín phần và 510 điều khoản.
Bộ luật tố tụng hình sự là bộ luật quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết
nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án
hình sự.
Như đã trình bày ở trên, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 có rất nhiều điểm
mới. Đặc biệt là ở phần Quyền của người bị tạm giữ được quy định tại Điều 59 của Bộ
luật này. Cụ thể các quyền mới được bổ sung nhằm tạo điều kiện cho người bị tạm giữ
có thể nói lên sự thật, minh oan (nếu có).
Vì vậy, chúng ta có thể tìm hiểu và phân tích từng quyền của người bị tạm giữ
mà được Bộ luật đề cập đến.
2.1. Nhóm quyền được thông tin
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang,
người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ
đã có quyết định tạm giữ. Vì việc tạm giữ là hậu quả tố tụng của việc bắt quả tang, bắt
khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú; cho nên, người bị tạm giữ có quyền được biết
tại sao họ bị bắt quả tang, bị bắt khẩn cấp, quyết định truy nã hoặc việc tự thú, đầu thú
của họ.
Đối với người bị tạm giữ trong những trường hợp bắt nêu trên có quyền được
đọc biên bản bắt người và có quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và
ký xác nhận. Sau khi nhận người bị bắt khẩn cấp, bắt quả tang, theo quyết định truy nã
hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì cơ quan có thẩm quyền phải ra ngay quyết
định tạm giữ.
Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm
giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người bị tạm giữ một bản. Trên cơ sở pháp
luật quy định việc người bị tạm giữ được giao một bản quyết định tạm giữ là hiện thực
hóa quyền được biết lý do mình bị tạm giữ của người bị tạm giữ.
Đây là một quyền rất quan trọng và cũng là quyền ảnh hưởng rất lớn đến việc
thực hiện các quyền khác của người bị tạm giữ; đồng thời cũng thể hiện sự công bằng,
bình đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa
nói riêng. Bởi lẽ các cơ quan tiến hành tố tụng là những người nhân danh Nhà nước,
sử dụng quyền lực của Nhà nước để tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người bị
tạm giữ, cho nên việc người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ căn cứ theo
điều, khoản nào của Bộ luật Tố tụng Hình sự một cách công khai, minh bạch thì mới
có thể tiến hành tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người bào chữa.
Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ của người bị tạm giữ trên thực tế có
được đảm bảo hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng thông qua việc giao quyết định tạm giữ cho người bị
tạm giữ và giải thích quyền và nghĩa vụ cho họ.
Pháp luật quy định việc người bị tạm giữ được giao một bản quyết định tạm giữ
với mục đích để người bị tạm giữ được đọc và biết lý do mình bị tạm giữ. Tuy nhiên,
GVHD: Trần Hồng Ca
(1) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
(2) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn
biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên
phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ
đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng,
Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng;
Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực
lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực
lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
GVHD: Trần Hồng Ca
17
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
(3) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay,
bến cảng11.
Về nội dung của Quyết định tạm giữ thì phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị
tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ và các nội
dung quy định12. Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ.
Bởi nếu người bị tạm giữ không được giao Quyết định tạm giữ thì người bị tạm
giữ sẽ không thể nào biết nguyên nhân tại sao mình bị tạm giữ (?). Từ đó, thông qua
việc được biết lý do mình bị tạm giữ thì quyền nhận quyết định tạm giữ là dĩ nhiên vì
quyết định tạm giữ là cơ sở để người tạm giữ thực hiện quyền khiếu nại nếu như quyết
định tạm giữ không đúng các quy định của Pháp luật.
Về thời gian tạm giữ được căn cứ trên Quyết định tạm giữ nhưng thời hạn tạm
giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ
người phạm tội tự thú, đầu thú14.
Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng
không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn
tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp hoặc
Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ
đề nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
không phê chuẩn.
Như vậy, trường hợp tạm giữ bình thường tối đa là 03 ngày. Trường hợp cần
thiết thì thời gian tạm giữ tối đa là 06 ngày và trường hợp đặc biệt thì thời gian tạm giữ
tối đa là 09 ngày.
Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho
người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay
cho người bị tạm giữ15.
Cũng tương tự như quyết định tạm giữ thì những quyết định như quyết định phê
chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác thì người bị tạm giữ
được nhận. Đây là quyền mà người bị tạm giữ cần được đảm bảo và thực thi chứ
không phải là yêu cầu hay đề nghị thì mới được thực hiện.
Như đã trình bày các tình huống sau khi kết thúc quá trình tạm giữ thì người bị
tạm giữ sẽ có thể chính thức bị khởi tố bị can và có quyết định tạm giam thay thế hoặc
người bị tạm giữ chính thức bị khởi tố và có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ,
thay thế biện pháp ngăn chặn khác hoặc người bị tạm giữ có quyết định trả tự do cho
người bị tạm giữ chuyển sang xử lý hành chính theo quy định của Luật Xử lý vi phạm
Vì vậy, quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ của người bị
tạm giữ đã được Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định. Việc thực hiện được
quyền này của người bị tạm giữ đồng nghĩa với việc cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình. Đó là nghĩa vụ thông báo, giải
thích cho người bị tạm giữ hiểu rõ họ có những quyền và nghĩa vụ gì khi tham gia vào
quá trình tố tụng, để khiến họ yên tâm, tin tưởng vào pháp luật và có thể sử dụng pháp
luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Việc đảm bảo quyền này của người bị tạm giữ cũng có ý nghĩa rất lớn trong
việc đảm bảo quyền con người của người bị tạm giữ cũng như góp phần nhanh chóng
kịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự thật vụ án.
Tuy nhiên, trên thực tế, quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ
của người bị tạm giữ không phải lúc nào cũng được đảm bảo. Như đã nói ở trên, để
thực hiện tốt quyền này của người bị tạm giữ thì cơ quan tiến hành tố tụng và người
tiến hành tố tụng đều phải thực hiện tốt nghĩa vụ của mình là thông báo, giải thích cho
người bị tạm giữ biết rõ mình có quyền và nghĩa vụ gì. Nhưng thực tế cho thấy, vì
nhiều lý do khác nhau mà quyền này của người bị tạm giữ gần như khó được bảo đảm.
Trong nhiều trường hợp là do sự yếu kém trong chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến
hành tố tụng đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình. Cũng có trường hợp là do
sự thiếu hiểu biết về pháp luật, sự “yếu thế” trong quá trình tham gia tiến hành tố tụng
của người bị tạm giữ nên mặc dù không được giải thích về quyền và nghĩa vụ của
mình nhưng người bị tạm giữ cũng không “dám” yêu cầu được biết mình có quyền và
nghĩa vụ gì khi bị tạm giữ.
GVHD: Trần Hồng Ca
20
SVTH: Lý Quang Trung
báo những tình tiết có lợi cho mình nhằm chứng minh mình vô tội hoặc là phạm tội ở
mức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố hay đưa ra những tình tiết, lý do để giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự cho mình. Cũng có trường hợp người bị tạm giữ từ chối không khai báo
16
Điểm b Khoản 2 Điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003
Điểm b Khoản 2 Điều 59 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
18
Khoản 3 Điều 117 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
17
GVHD: Trần Hồng Ca
21
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
về hành vi của mình. Trong những trường hợp mà họ từ chối khai báo hay khai báo
gian dối thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó. Trong trường
hợp nào thì cơ quan điều tra cũng cần phải tôn trọng quyền được trình bày lời khai của
người bị tạm giữ. Bởi vì, qua lời khai của người bị tạm giữ - người bị tình nghi là đã
thực hiện hành vi trái pháp luật, ta có thể xác định sự thật một cách khách quan, không
phiếm diện.
Tuy nhiên, thực tế có những người tố tụng hình sự không quan tâm hoặc cố tình
“quên mất” việc trình bày lời khai, trình bày ý kiến là quyền của người bị tạm giữ chứ
không phải nghĩa vụ mà người bị tạm giữ phải thực hiện.
Qua khảo sát thực tế tại các cơ quan thực hiện tố tụng thì ngay cả những điều
tra viên, kiểm sát viên có kinh nghiệm cũng vẫn coi việc trình bày lời khai của người
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 thì “Người bào chữa là người được
người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định
và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào
chữa. Người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào
chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc
đối tượng được trợ giúp pháp lý19.
Nếu người bị tạm giữ, cần nhờ người bào chữa thì cần tiến hành như sau:
- Trường hợp người bị tạm giữ là thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam hoặc các tổ chức thành viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc đề nghị tổ chức mà họ
là thành viên cử người bào chữa cho họ thì Điều tra viên phải ghi ý kiến của người bị
tạm giữ vào biên bản và hướng dẫn họ viết đề nghị bằng văn bản. Trong thời hạn 24
giờ, Cơ quan điều tra có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị cử người bào chữa của họ
cho tổ chức đó bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh;
- Trường hợp người bị tạm giữ nhờ người bào chữa là người đại diện hợp pháp
của họ thì Điều tra viên hướng dẫn họ viết văn bản đề nghị, trong văn bản ghi rõ họ
tên, tuổi, địa chỉ của người đại diện hợp pháp. Trong thời hạn 24 giờ, Cơ quan điều tra
có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị của người bị tạm giữ cho người đại diện hợp pháp
đó bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát nhanh;
- Trường hợp người bị tạm giữ nhờ người bào chữa là luật sư thì Điều tra viên
hướng dẫn họ viết giấy yêu cầu luật sư, nếu yêu cầu đích danh luật sư bào chữa thì
trong thời hạn 24 giờ, Cơ quan Điều tra có trách nhiệm gửi giấy yêu cầu luật sư của
người bị tạm giữ cho luật sư mà họ nhờ bào chữa bằng thư bảo đảm hoặc chuyển phát
nhanh; trường hợp người bị tạm giữ viết giấy nhờ người thân liên hệ nhờ luật sư bào
chữa thì trong thời gian hạn 24 giờ kể từ khi có giấy nhờ người thân, Cơ quan điều tra
có trách nhiệm gửi giấy đó cho người thân của người bị tạm giữ bằng thư bảo đảm
hoặc chuyển phát nhanh;
- Trường hợp người bị tạm giữ chưa nhờ người bào chữa thì trong lần đầu lấy
lời khai người bị tạm giữ, Điều tra viên phải hỏi rõ người bị tạm giữ có nhờ người bào
chữa không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản. Nếu người bị tạm giữ nhờ người
một bên là những người mang quyền lực nhà nước.
Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức pháp luật, kỹ năng bào chữa và có thể đang
bị tạm giữ nên người bị tạm giữ không thể thực hiện được việc tự bào chữa có hiệu
quả. Họ cần có người khác có khả năng để bào chữa, do đó, bên cạnh quyền tự bào
chữa, pháp luật đã quy định quyền nhờ người khác bào chữa cho mình. Quyền này thể
hiện sự đảm bảo của pháp luật cho quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ. Pháp luật
đảm bảo cho người bị tạm giữ được người khác bào chữa cho mình nếu không thể tự
mình bào chữa. Người được người bị tạm giữ nhờ bào chữa phải là người có đủ tiêu
chuẩn theo quy định của pháp luật.
2.3.2. Quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Theo quy định này của pháp luật thì người bị tạm giữ có quyền đưa ra những
chứng cứ, tài liệu, đồ vật nhằm chứng minh họ không liên quan đến vụ việc mà vì đó
họ bị bắt giữ, họ cũng có quyền yêu cầu xác minh lại sự việc, yêu cầu cơ quan điều tra
đưa ra những bằng chứng được coi là có căn cứ bắt giữ họ.
Theo quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 thì người bị tạm giữ có
quyền đưa ra “những yêu cầu”, còn theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm
2003 thì người bị tạm giữ có quyền đưa ra “tài liệu, đồ vật, yêu cầu” và Bộ luật Tố
tụng Hình sự năm 2015 thì người bị tạm giữ có quyền đưa ra “chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu”. Như vậy, đã có sự bổ sung trong quy định của pháp luật từ việc người bị
tạm giữ có quyền đưa ra những yêu cầu thì nay chuyển thành quyền được đưa ra tài
GVHD: Trần Hồng Ca
24
SVTH: Lý Quang Trung
Đề tài: Quyền của người bị tạm giữ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự
liệu, đồ vật, yêu cầu và đến các chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu. Sự thay đổi này
thật), hợp pháp và liên quan đến vụ án đều vẫn là những nội hàm chính trong khái
niệm chứng cứ như trong Bộ luật năm 2003. Tuy nhiên trong khái niệm chứng cứ có
20
Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
GVHD: Trần Hồng Ca
25
SVTH: Lý Quang Trung