Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN HỒNG PHƯƠNG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Đệ HÀ NỘI - 2012
3

MỤC LỤC
Trang

TRANG PHỤ BÌA Lời cam đoan MỤC LỤC


1.1.6.
Các chủ thể tham gia tố tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm
25
1.1.7.
áp dụng các nguyên tắc của tố tụng hình sự trong xét xử
phúc thẩm
25 4
1.2.
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn
bản pháp luật hiện hành về xét xử phúc thẩm
27
1.2.1.
Quy định về các nguyên tắc cơ bản
28
1.2.2.
Quy định chung về xét xử phúc thẩm
30
1.2.3.
Quy định về thủ tục xét xử phúc thẩm
42

Chương 2: Thực tiễn thi hành những quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự 2003 về xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của
ngành Tòa án Hà nội và giải pháp nâng cao hiệu quả xét
xử phúc thẩm
60
2.1.

5 DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Tình hình án có kháng cáo, kháng nghị của ngành Tòa án
Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
60
2.2
Tình hình giải quyết án hình sự phúc thẩm của ngành Tòa
án Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
61
2.3
Tình hình số bị cáo bị đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm
của ngành Tòa án Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
62
2.4
Chất lượng xét xử án Hình sự phúc thẩm của ngành Tòa án
Hà Nội từ năm 2004 đến năm 2010
63
2.5
Tình hình án hình sự phúc thẩm quá hạn luật định của
ngành Tòa án Hà Nội
69
2.6

Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là một chế định quan trọng được quy
định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Việc nghiên cứu, làm rõ những
vấn đề xung quanh chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là quan trọng và
cần thiết. Đây là một công việc rất có ích về mặt lâu dài vì nó đóng vai trò căn
bản giúp cho các nhà lập pháp mỗi khi xây dựng hay sửa đổi nhằm hoàn thiện
luật, sẽ đưa ra những quyết định thực sự phù hợp và thiết thực đến quyền lợi
của nhà nước và của nhân dân, đó cũng chính là sự đóng góp không thể thiếu
của chúng ta vào tiến trình đi đến một Nhà nước pháp quyền hoàn chỉnh và phát
triển; đồng thời cũng giúp cho các nhà áp dụng pháp luật có tính thực thi cao.
Chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự chính là sự thể hiện nguyên
tắc nhân đạo, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc khách quan và nguyên tắc
xác định sự thật của vụ án. Sự tồn tại của chế định này là cơ sở cho những
người làm công tác pháp luật đưa ra một quyết định đúng đắn, đó là một bản 7
án công minh, đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Đồng thời, chế định
xét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong luật hình sự góp phần đảm bảo cho việc
thực hiện các nguyên tắc của luật hình sự một cách toàn diện.
Trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, nhà làm luật nước ta đã
chính thức ghi nhận chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự bằng việc quy
định tại Phần thứ tư, Chương 23 (từ Điều 230 đến Điều 254) của Bộ luật Tố
tụng hình sự 2003. Vì vậy, việc làm sáng tỏ để áp dụng một cách chính xác
các quy phạm này là rất cần thiết và cấp bách, thêm vào đó sẽ góp phần hoàn
chỉnh thêm các vấn đề liên quan đến chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Tác giả cho rằng nghiên cứu chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
là vấn đề đặc biệt cần thiết.
Về mặt lập pháp: Những quy định về xét xử phúc thẩm đã được quy
định trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập. Bên
cạnh đó, cũng đã có các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị quyết

Chúng ta có thể kể đến như:
Các công trình mang tính đại cương: Giáo trình Luật tố tụng hình sự,
của Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2009; Giáo trình Luật
tố tụng hình sự Việt Nam, của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội;
Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, của Võ Khánh Vinh 2009;…
Các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu, liên quan trực tiếp
về Phúc thẩm trong tố tụng hình sự: Luận văn thạc sĩ luật học như "Thủ tục
xét xử phúc thẩm trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Gia
Cương năm 1998; "Phúc thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Phan Thị
Thanh Mai, 1998; Luận án tiến sĩ "Phúc thẩm trong tố tụng hình sự" của
Nguyễn Đức Mai;…
Các công trình nghiên cứu về các vấn đề có liên quan đến phúc thẩm
trong Tố tụng hình sự: "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
về xét xử phúc thẩm" của Nguyễn Đức Mai, 2002; Tạp chí Tòa án nhân dân; 9
Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân liên quan về giai đoạn Xét xử phúc thẩm;
Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ án hình sự của Học viện Tư pháp, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2007;…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu được nghiên cứu trước khi Bộ
luật Tố tụng hình sự 2003 ban hành, chưa thực sự toàn diện và đầy đủ về xét xử
phúc thẩm trong tố tụng hình sự theo đúng tinh thần cải cách tư pháp hiện
nay.
Tất cả những luận điểm trên là lý do để tác giả lựa chọn "Xét xử phúc
thẩm vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự" làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ một cách có hệ thống

Phạm vi nghiên cứu:
Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là vấn đề có nội dung rộng và phức
tạp. Vì vậy trong phạm vi luận văn không thể xem xét toàn diện tất cả các nội
dung của vấn đề. Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2003 về xét xử phúc thẩm và thực trạng phúc thẩm các vụ
án hình sự của ngành Tòa án Hà Nội, những tồn tại, vướng mắc, nguyên nhân
và giải pháp nâng cao hiệu quả phúc thẩm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn này dựa trên việc sử dụng
phương pháp nghiên cứu sau: 11
-Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam, về cải cách tư pháp, về tính nhân đạo của pháp luật…
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương
pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng
hợp, phương pháp thống kê, v.v…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo trong khoa học luật tố tụng hình sự
Việt Nam nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống và đồng bộ những vấn
đề lý luận và thực tiễn về chế định xét xử phúc thẩm vụ án hình sự ở cấp độ
một luận văn. Trong luận văn này, tác giả đã giải quyết về mặt lý luận những
vấn đề sau:
Ý nghĩa lý luận:
- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện một số vấn đề lý luận về
chế định Xét xử phúc thẩm như: Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm
cơ bản của chế định;
- Phân tích và so sánh với pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên

13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÉT XỬ PHÚC THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1.1. Khái niệm xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự
Tư pháp hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện quyền lực nhà nước - quyền tư pháp.
Đây là lĩnh vực rất nhạy cảm vì nó động chạm trực tiếp đến các quyền tự do
và dân chủ của công dân. Mọi sai lầm dù lớn hay nhỏ trong quá trình xử lý
đối với người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm đều có thể dẫn đến những
hậu quả nghiêm trọng, thậm chí có thể không khắc phục được. Bởi vậy, bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị can, bị cáo
là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm mục đích đặt ra của
tố tụng hình sự là "phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý nghiêm minh,
kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội, bảo vệ các quyền và lợi ích của công dân". Đây cũng là một nội dung
cấp thiết của việc bảo vệ quyền con người nói chung mà mỗi quốc gia cũng
như cộng đồng quốc tế đều quan tâm giải quyết.
Sự hình thành và phát triển của xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự
gắn liền với sự hình thành và phát triển các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ
và tiến bộ của tố tụng hình sự như: nguyên tắc công bằng, nhân đạo, suy đoán
vô tội, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, xét xử công khai, trực tiếp
và bằng lời nói… Vì vậy các quốc gia đều chú ý điều chỉnh bằng pháp luật
quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi bị coi
là tội phạm, đặc biệt là hoạt động xét xử các vụ án hình sự nhằm tạo ra một cơ

15
Nguyên tắc hai cấp xét xử còn bắt buộc các thẩm phán tòa án cấp dưới
phải thận trọng trong việc xét xử.
Xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự là một trong các hình thức,
phương tiện được các nước sử dụng nhằm đạt được mục đích này. Để thực hiện
được cần phải có một trình tự (thủ tục tố tụng) mà theo đó nếu bị cáo hay đương
sự không đồng ý với bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa
án cấp dưới thì có thể yêu cầu Tòa án cấp cao hơn (Tòa án cấp sơ thẩm) xem
xét lại phán quyết đó. Thủ tục tố tụng này chính là thủ tục xét xử phúc thẩm.
Sự ra đời của chế định xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự là một
nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội. Nó gắn liền với sự hình thành và phát
triển của các tư tưởng, các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ của tố tụng hình sự.
Với ý nghĩa đó, xét xử phúc thẩm có vai trò vô cùng quan trọng thể hiện:
Một là, thông qua việc xét xử lại vụ án mà bản án hoặc quyết định
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm
không chỉ kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án (quyết định) sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà còn phát hiện và khắc phục kịp thời các
vi phạm nghiêm trọng về xét xử của Tòa án cấp dưới.
Hai là, xét xử phúc thẩm là một trong những chế định thể hiện rõ nét
nhất bản chất dân chủ và tiến bộ trong tố tụng hình sự. Chế định này buộc các
Tòa án cấp sơ thẩm phải thận trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các yêu cầu về
tính hợp pháp và có căn cứ khi ra bản án hoặc quyết định về vụ án. Nó không
cho phép người đã kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã kháng nghị được bổ sung
thay đổi kháng cáo, kháng nghị theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo,
không cho phép cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơn
tình trạng của bị cáo nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng
nghị theo hướng đó.
Ba là, khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án quyết định chưa có
hiệu lực pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm phải đưa vụ án ra xét xử trong thời
17
Các đặc điểm cơ bản của thủ tục xét xử phúc thẩm:
Ngoài các đặc điểm chung của giai đoạn tố tụng, xét xử phúc thẩm có
một số dấu hiệu đặc trưng riêng:
- Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn độc lập trong quá trình tố tụng
hình sự và được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành tố tụng đặc trưng là Tòa
án cấp phúc thẩm và Viện kiểm sát cấp phúc thẩm. Thành phần Hội đồng xét
xử phúc thẩm chỉ bao gồm các thẩm phán chuyên nghiệp (trường hợp cần
thiết mới có hội thẩm nhân dân tham gia…;
- Đối tượng xem xét của xét xử phúc thẩm là các vụ án hình sự mà bản
án (quyết định) sơ thẩm bị kháng cáo và (hoặc) kháng nghị trong thời hạn luật định
- Xét xử phúc thẩm nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản
án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo hoặc kháng
nghị, đồng thời xem xét lại về nội dung, khắc phục kịp thời các sai lầm của
Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân.
- Hình thức thể hiện kết quả giải quyết vụ án ở giai đoạn tố tụng này là
bản án phúc thẩm hoặc quyết định phúc thẩm…
Từ những phân tích trên có thể rút ra: Xét xử phúc thẩm trong tố tụng
hình sự là một thủ tục tố tụng hình sự mà theo đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét
xử lại các vụ án hình sự mà bản án (quyết định) sơ thẩm bị kháng cáo và
(hoặc) kháng nghị trong thời hạn luật định nhằm kiểm tra tính hợp pháp và
có căn cứ của bản án (quyết định) sơ thẩm, khắc phục kịp thời các sai lầm
của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.1.2. Tính chất của xét xử phúc thẩm
Tính chất của xét xử phúc thẩm là vấn đề quan trọng và quyết định
bản chất của xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự và các nội dung khác

các vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng 19
cáo, kháng nghị giữa các Tòa án cấp trên. Để xác định Tòa án cấp trên nào xét
xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm thì sau khi xét xử sơ thẩm nếu có kháng cáo,
kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm của những người có quyền
kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì vụ án sẽ được xét xử lại ở
cấp cao hơn.
Như vậy, khác với thẩm quyền xét xử sơ thẩm được xác định trực tiếp
trong pháp luật thì thẩm quyền xét xử phúc thẩm của Tòa án được xác định
gián tiếp trên cơ sở thẩm quyền xét xử sơ thẩm. Tiến sỹ Nguyễn Văn Huyên
đã rất đúng khi cho rằng: "Thẩm quyền xét xử sơ thẩm là cơ sở để xác định
thẩm quyền của Tòa án các cấp" [13, tr. 22]. Vì vậy, muốn xác định thẩm
quyền của Tòa án các cấp phải xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Hầu hết pháp luật của các nước đều quy định Tòa án có thẩm quyền
xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét
xử sơ thẩm vụ án mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật có kháng
cáo, kháng nghị.
Trên cơ sở thẩm quyền xét xử phúc thẩm xác định được thẩm quyền
của Tòa án cấp phúc thẩm trong vụ án hình sự: là toàn bộ các quyền hạn mà
pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét và quyết định
các vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự do các Tòa án cấp dưới xét xử, mà bản
án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm bao gồm
hai yếu tố (nội dung) cấu thành là thẩm quyền xem xét (thẩm quyền về hình
thức) và thẩm quyền quyết định các vấn đề về vụ án (thẩm quyền về nội dung).
Thẩm quyền xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm bao gồm thẩm quyền
xét xử phúc thẩm; phạm vi các vụ án hình sự có thể được xem xét lại ở cấp
thứ hai (các vụ án có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm) và

hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm có một số điểm khác nhau. 21
Ở Cộng hòa Liên bang Nga yêu cầu này được thể chế hóa một cách
đầy đủ và triệt để trong pháp luật tố tụng hình sự. Theo quan niệm của các
nhà lập pháp Nga, thì nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo trong
xét xử phúc thẩm phải được tuân thủ một cách tối đa trong mọi trường hợp để
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Chỉ có Tòa án cấp sơ thẩm
mới có thẩm quyền ra bản án để kết tội bị cáo; xác định bị cáo phạm một tội
khác nặng hơn hay áp dụng hình phạt nặng hơn cũng như xác định hay bác bỏ
các tình tiết mới, các chứng cứ mới về vụ án. Vì vậy, các quy định pháp luật
của Nga hạn chế các quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc sửa hoặc
hủy bản án sơ thẩm mà chúng có thể làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, đồng
thời không hạn chế việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng có lợi cho họ, nếu có
căn cứ.
Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2001 của Cộng hòa Liên bang Nga, khi
xét xử phúc thẩm, Tòa án có có thể giảm nhẹ hình phạt mà án sơ thẩm đã
quyết định đối với bị cáo hoặc áp dụng luật về tội nhẹ hơn nhưng không được
tăng nặng hình phạt hoặc áp dụng luật về tội nặng hơn. Bản án sơ thẩm chỉ có
thể bị hủy vì lý do cần áp dụng luật về tội nặng hơn hoặc vì hình phạt nhẹ
trong trường hợp có kháng nghị của Viện Công tố hoặc kháng cáo của người
bị hại yêu cầu (Điều 383). Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể hủy bản án sơ
thẩm tuyên bị cáo vô tội trong trường hợp có kháng nghị của Viện Công tố
hoặc kháng cáo của người bị hại hay kháng cáo của người được tuyên vô tội
(Điều 385). Nếu Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng không đúng luật hình sự hoặc
hình phạt không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm và nhân
thân người bị kết án, Tòa án cấp phúc thẩm có thể sửa bản án theo quy định
tại Điều 387 Bộ luật này nhưng không được sửa hình phạt nặng hơn cũng như
áp dụng luật về tội nặng hơn. Ngoài ra, Bộ luật này còn quy định rất cụ thể

tải trong xét xử phúc thẩm hoặc biến cấp phúc thẩm thành Tòa thứ hai xét xử
sơ thẩm lại vụ án.
Việc kháng cáo của bị cáo và các đương sự, kháng nghị của Viện
kiểm sát cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp đối với bản án (quyết định) chưa có 23
hiệu lực pháp luật không chỉ là căn cứ làm phát sinh thủ tục phúc thẩm, mà
còn xác định phạm vi hoạt động cũng như quyền hạn của các chủ thể; phạm vi
xét xử phúc thẩm và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm ở giai đoạn tố tụng
này.
Việc kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ hoặc một phần bản án
chưa có hiệu lực pháp luật; việc rút một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng
nghị, bổ sung hoặc thay đổi kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể đều ảnh
hưởng trực tiếp đến thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xem xét
và quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án. Ví dụ: việc không kháng cáo, kháng
nghị hay kháng cáo, kháng nghị không hợp lệ (quá hạn mà không có lý do
chính đáng; kháng cáo của những người không có quyền kháng cáo, ) sẽ
không làm phát sinh trình tự phúc thẩm. Khi đó Tòa án cấp phúc thẩm sẽ
không có thẩm quyền xét xử vụ án. Việc rút một phần kháng cáo, kháng nghị
theo hướng tăng nặng đối với bị cáo sẽ loại trừ khả năng Tòa án cấp phúc
thẩm ra quyết định theo hướng không có lợi đối với bị cáo,
Theo quy định pháp luật của một số nước (Pháp, Cộng hòa Liên bang
Nga ), thì Tòa án chỉ có quyền xem xét vụ án trong phạm vi của kháng cáo,
kháng nghị; còn pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
thì quy định rõ trách nhiệm của Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ vụ án
không phụ thuộc vào nội dung của kháng cáo, kháng nghị.
Ở nước ta, theo quy định tại Điều 241 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Tòa
án cấp phúc thẩm có thể xem xét cả các phần khác của bản án sơ thẩm không
có kháng cáo, kháng nghị, nếu thấy cần thiết.

cứ khác khi xét xử lại vụ án tại phiên tòa. Do đó, đối tượng của xét xử nói
chung và xét xử phúc thẩm nói riêng chỉ có thể là các vụ án.
Từ phân tích trên, có căn cứ để tác giả luận văn đưa ra nhận định: đối
tượng của xét xử phúc thẩm chỉ có thể là những vụ án mà bản án (quyết
định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị (chứ 25
không phải và không thể là những bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp
luật bị kháng cáo, kháng nghị).
1.1.5. Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Thủ tục xét xử phúc thẩm là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực
tiếp đến chất lượng và hiệu quả xét xử phúc thẩm. Vì vậy việc quy định một
thủ tục phúc thẩm có căn cứ khoa học và hợp lý là một vấn đề cần được quan
tâm và sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự nước ta hiện nay. Thủ tục xét xử lại
các vụ án hình sự ở Tòa án cấp phúc thẩm được quy định khác nhau trong
pháp luật của các nước (tùy thuộc vào quan niệm về tính chất và nhiệm vụ
của cấp phúc thẩm ở mỗi quốc gia) và thường được thể hiện ở 3 hình thức:
- Phiên tòa phúc thẩm hình sự;
- Thủ tục phúc thẩm rút gọn;
- Thủ tục phúc thẩm bút lục.
* Phiên tòa phúc thẩm hình sự
Phiên tòa phúc thẩm là hình thức phổ biến được các nước áp dụng khi
xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự. Ở các nước này, phúc thẩm được xác
định là cấp xét xử thứ hai có nhiệm vụ xét xử lại về nội dung các vụ án mà
bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Do đó việc
xét xử vụ án phải được tiến hành tại phiên tòa công khai như phiên tòa sơ
thẩm (trừ trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định). Hầu hết các quy định về
trình tự, thủ tục ở phiên tòa sơ thẩm cũng được áp dụng đối với phiên tòa
phúc thẩm. Bên cạnh đó, phúc thẩm là cấp xét xử lại vụ án nên các nước đều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status