Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
A- MỞ ĐẦU
I-
ĐẶT VẤN ĐỀ:
Việc tìm kiếm cho học sinh một phương pháp học tập tiên tiến tạo niềm say mê
khoa học, sáng tạo là mục tiêu quan trọng của giáo dục theo hướng hiện đại. Trong đổi
mới phương pháp giáo dục hiện nay, việc lựa chọn và phát huy những phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực là hết sức cần thiết, giúp học sinh học tập một cách năng động và
sáng tạo hơn đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn.
Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, chiếm vị trí khá quan trọng ở bậc THCS,
môn học này có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng các phương pháp dạy học tiên tiến,
hiện đại để bước đầu hình thành cho học sinh phương pháp học tập mang tính chất tự tìm
tòi nghiên cứu, rèn luyện năng lực tự học, óc tư duy sáng tạo cho các em.
Thực tiễn dạy học môn Hóa học ở nhiều trường THCS hiện nay cho thấy, việc đổi
mới phương pháp dạy học còn mang tính hình thức, các phương pháp dạy học tích cực ít
được phát huy, phương pháp dạy học truyền thống vẩn còn chiếm ưu thế. Khi thực hiện
mục tiêu từng bài dạy giáo viên thường chỉ chú trọng đến việc cung cấp kiến thức mà ít
chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, năng lực tự nghiên cứu nên chưa làm thỏa mãn
được nhu cầu tìm tòi hiểu biết, chưa kích thích được óc tò mò nghiên cứu khoa học của
học sinh. Vì vậy các giờ học còn mang tính áp đặt, kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh
trong giờ học chưa sâu, các em ít được tham gia vào quá trình dạy học.
Việc vận dụng các phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học các môn khoa học
thực nghiệm nói chung, môn Hóa học nói riêng là vấn đề cần thiết nhằm hình thành cho
học sinh phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, phát triển năng lực tìm tòi nghiên cứu, từ
đó có thể nâng cao chất lượng dạy học một cách thật sự. Một trong những phương pháp
có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêu giáo dục hiện nay và có thể vận dụng tốt vào
quá trình dạy học môn Hóa học ở bậc THCS là phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Trong
thấy phần lớn các giáo viên chuẩn bị và thực hiện các tiết dạy có nội dung vận dụng
phương pháp “Bàn tay nặn bột” theo qui trình như sau:
1. Chuẩn bị:
a- Giáo viên:
- Đèn chiếu, máy tính chuẩn bị hệ thống câu hỏi, thí nghiệm ảo, thông tin bổ sung,
bảng chốt kiến thức …
- Hệ thống bảng phụ ( bảng nhóm)
- Phiếu học tập, thiết bị dạy học …
b- Học sinh: Giáo viên yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa, chuẩn bị nội dung cho
bài học, đọc kĩ phần thí nghiệm và kiến thức cần nhớ trong ô màu xanh ở cuối bài.
2. Tiến trình dạy học:
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Đưa ra tình huống xuất phát và đặt câu hỏi Lắng nghe, xác định vấn đề cần nghiên
nêu vấn đề
cứu
Gợi ý để học sinh nêu ý kiến ban đầu
Thực hiện cá nhân, thảo luận nhóm nêu ý
kiến ban đầu
Yêu cầu học sinh nhận xét
Thực hiện nhận xét
Hướng dẫn học sinh đề xuất câu hỏi Thảo luận nhóm đề xuất nhiều câu hỏi
nghiên cứu
khác nhau
Hướng dẫn học sinh rút ra kết luận, kiến Rút ra kiến thức như nội dung ghi nhớ
thức mới
trong sách giáo khoa.
Tổ chức các nhóm báo cáo kết quả
Đại diện nhóm báo cáo kết quả, các nhóm
khác theo dõi, nhận xét
Nhận xét, hoàn thiện kiến thức
Ghi kiến thức hoàn thiện vào vở
Qua thực tế giảng dạy của bản thân, dự giờ đồng nghiệp, trao đổi với các giáo viên
trong trường và giáo viên các trường khác trong huyện về việc vận dụng dạy học theo
phương pháp “Bàn tay nặn bột” ở bộ môn Hóa học tôi có một số nhận xét như sau:
Về phía giáo viên:
Nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc lựa chọn chủ đề dạy học theo phương
pháp “Bàn tay nặn bột”. Có giáo viên chọn những chủ đề quá đơn giản không đúng trọng
tâm của bài học làm phí hoạt động nghiên cứu, tìm kiếm kiến thức của học sinh; có giáo
viên chọn chủ đề quá lớn gồm nhiều chủ đề nhỏ vì vậy không thể thực hiện các hoạt động
dạy học theo đúng qui trình của phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong quĩ thời gian cho
phép; có giáo viên lựa chọn chủ đề quá khó làm cho học sinh không tự đề xuất các
phương án thực nghiệm và tự lực tiến hành các thí nghiệm tìm tòi- nghiên cứu. Việc lựa
chọn chủ đề vận dụng dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” chưa hợp lí làm ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng giờ học, tính hệ thống và logich kiến thức trong bài học
không đảm bảo.
Việc thực hiện qui trình dạy học của giáo viên thường bám sát vào các ví dụ
minh họa về tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong tài liệu tập
huấn thí điểm phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Hóa học cấp THCS
theo tôi là chưa hợp lí. Các pha của tiến trình dạy học ở đây chưa phù hợp với lí luận cơ
tiến trình dạy học của phương pháp này. Việc nhận xét, nhóm ý tưởng của học sinh trong
từng pha hoạt động chưa linh động, sáng tạo nên chưa hướng các ý kiến của học sinh vào
nội dung cần nghiên cứu. Vì vậy đa phần các tiết dạy thí điểm theo phương pháp này đều
kéo dài hơn so với thời gian qui định làm ảnh hưởng đến các tiết học khác.
Về phía học sinh:
Đây là phương pháp học tập rất mới hơn nữa các em chỉ được học một số tiết trong
năm học nên các em còn rất lúng túng khi nêu ý kiến ban đầu, các câu hỏi đề xuất còn
chưa hướng vào nội dung cần nghiên cứu, chưa xây dựng được giả thuyết nghiên cứu,
chưa tự thiết kế được phương án thực nghiệm phù hợp, thao tác thí nghiệm chưa đúng, kĩ
năng quan sát và mô tả hiện tượng thí nghiệm của học sinh chưa chính xác làm ảnh
hưởng đến việc kết luận kiến thức mới. Giờ học chư thật sự sinh động, hoạt động nhóm
còn nặng về hình thức. Các em chưa hoàn toàn tự chủ trong việc tìm kiếm tri thức nên
không gây được hứng thú trong học tập. Lập luận của học sinh còn kém, các kĩ năng thực
hành còn vụng về, lúng túng, sự vận dụng những kiến thức mà các em thu thập được vào
thực tiễn vẫn còn một khoảng cách khá xa. Học sinh chưa có thói quen ghi lại những gì
mà các em quan sát được. Vì vậy phải làm thế nào để cho học sinh trở nên quen thuộc với
một phương pháp học tập mới mà ở đó học sinh được độc lập tự chủ, mạnh dạn nói lên
những hiểu biết của mình và được tập thể tôn trọng, đồng thời được bảo vệ quan điểm
của mình trước tập thể bằng cách đề xuất và tự tiến hành thí nghiệm mà không còn cảm
thấy e ngại, rụt rè là rất cần thiết. Qua phương pháp học tập đó đã phát triển những kĩ
năng và khơi nguồn sáng tạo trong học tập cũng như trong cuộc sống của học sinh. Sự
cuốn hút học sinh say mê khám phá thế giới tự nhiên không chỉ ở chỗ độc lập, sáng tạo
mà còn thấy mình ngày càng hiểu biết được nhiều, nghĩ ra nhiều phương án, nhiều phát
minh được tập thể chấp nhận. Khoa học chứa đựng nhiều điều thú vị kèm theo sự say mê
chinh phục, việc thắc mắc và đặt câu hỏi rồi đi tìm câu trả lời thuyết phục, làm cho hoạt
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 4
pháp mà đề tài đề cập ở đây cũng rất cần thiết có thể giúp giáo viên lựa chọn chủ đề để sử
dụng phương pháp bàn tay nặn bột phù hợp với đặc trưng bộ môn và kiểu bài lên lớp. Từ
việc thực hiện tốt các tiết dạy thí điểm theo phương pháp này giáo viên sẽ tự tin hơn khi
thực hiện các tiết dạy hội giảng, các tiết dự thi giáo viên dạy giỏi các cấp cũng như đón
đầu việc thay đổi nội dung, chương trình đổi mới SGK sau này.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
Kinh nghiệm từ thực tế giảng dạy của cá nhân và đồng nghiệp trong trường và các
trường khác trong huyện về vận dụng dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” ở bộ
môn Hóa học lớp 8 và lớp 9.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH.
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 5
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
a) Cơ sở lí luận
Hóa học bậc THCS là một môn học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức
phổ thông cơ bản và thiết thực đầu tiên về chất và sự biến đổi chất. Đồng thời hình thành
ở các em một số kĩ năng cơ bản và thói quen làm việc khoa học góp phần làm nền tảng
cho việc phát triển năng lực nhận thức, kĩ năng hành động, trang bị cho học sinh học lên
các lớp trên và đi vào cuộc sống. Để thực hiện tốt mục tiêu đổi mới của các môn khoa
học thực nghiệm, giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học sao cho học
sinh phải là người chủ động, nắm bắt kiến thức của môn học một cách tích cực, sáng tạo
góp phần hình thành nhu cầu tự học, tự phát hiện, tự giải quyết các tình huống có vấn đề
đặt ra trong bài học từ đó chiếm lĩnh tri thức. Việc tổ chức cho học sinh học tập theo
phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS,
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
- Tài liệu tập huấn thí điểm phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn
Hóa học cấp THCS.
- Tích lũy kinh nghiệm thông qua thực tế giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp trong và
ngoài trường.
- Xây dựng chuyên đề thao giảng và cùng thực hiện minh họa trên các tiết dạy để
cùng nhóm bộ môn trao đổi, phát hiện những tồn tại vướng mắc, tháo gỡ những khó
khăn, thảo luận thống nhất phương án tối ưu khi tổ chức bài giảng có áp dụng phương
pháp “ Bàn tay nặn bột”
- Kết quả phân tích các bài kiểm tra trong thời gian giảng dạy theo phương pháp “
Bàn tay nặn bột”, đối chiếu với các bài kiểm tra của học sinh cùng kì năm trước sau đó
nhận xét, rút ra kết luận.
2.2. THỜI GIAN TẠO RA GIẢI PHÁP
- Tiếp thu nội dung tập huấn thí điểm phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy
học môn Hóa học cấp THCS tháng 7 năm 2012.
- Lập kế hoạch dạy thí điểm phương pháp “ Bàn tay nặn bột” vào tháng 8 năm
2012.
- Dự các tiết dạy có vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” của giáo viên trong
trường và các trường khác thông qua kiểm tra toàn diện, hội giảng do Ngành tổ chức.
- Xây dựng chuyên đề thao giảng cho nhóm bộ môn tháng 10, thực hiện thao
giảng theo chuyên đề dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” đầu tháng 11/2012
- Tổ chức rút kinh nghiệm dạy học thí điểm theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”
cuối năm học 2012 - 2013
- Chuẩn bị xây dựng đề tài từ tháng 8/ 2013
- Lập kế hoạch dạy học theo đề tài từ tháng 9/ 2013
- Xử lí kết quả bài kiểm tra tiết 25 Hóa học 8 các năm học 2011-2012, 2012-2013
và 2013 - 2014 ( do cá nhân dạy).
- Viết thô sáng kiến kinh nhiệm vào tháng 1/2014.
II.1. THUYẾT MINH TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
"Bàn tay nặn bột" là một phương pháp mới nên hiện nay các tài liệu hướng dẫn còn
rất hạn chế, chủ yếu các tài liệu tham khảo bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, gây trở ngại
lớn cho việc tham khảo của giáo viên. Vì vậy tôi viết đề tài này với mong muốn có một
tài liệu tham khảo theo một qui trình thực hiện đơn giản, dễ hiểu, gần với thực tiễn của
các trường THCS trong huyện. Tôi đã cố gắng tìm kiếm những vấn đề, thông tin thích
hợp với chương trình trung học cơ sở đang áp dụng hiện nay nhằm giúp giáo viên hiểu và
có thể tự thực hiện được.
Để vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Hóa học
tôi đã thực hiện một số giải pháp sau:
1.1 – Nghiên cứu lí luận về phương pháp “Bàn tay nặn bột” để nắm vững nguyên lí,
qui trình tổ chức dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”:
1.1.1. Nắm vững cơ sở khoa học của phương pháp “Bàn tay nặn bột”:
Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” là dạy học dựa trên tìm tòi nghiên
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 8
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
cứu,đây là một phương pháp dạy và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức
học tập của học sinh, bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức
khoa học cũng như kĩ năng mà học sinh cần nắm vững.
Học theo phương pháp này học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống xuất phát
và câu hỏi nêu vấn đề (câu hỏi lớn của bài học); học sinh nêu các nhận định ban đầu của
mình và đặt các câu hỏi nghiên cứu về vấn đề đó, các em phải xây dựng được giả thuyết
và thiết kế phương án thực nghiệm, biết đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu;
đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết
tượng chứng tỏ có phản ứng hóa học xảy ra và nêu câu hỏi: Theo em trong các phản ứng
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 9
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
hóa học tổng khối lượng các chất trước phản ứng ( chất tham gia) và sau phản ứng (sản
phẩm) quan hệ với nhau như thế nào?
Như vậy từ tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề này học sinh dễ dàng xác
định vấn đề cần nghiên cứu là so sánh tổng khối lượng các chất tham gia và các sản
phẩm trong một phản ứng hóa học.
Hoặc trong chủ đề “Tính chất hóa học của axit” giáo viên đưa ra khay đựng 2 lọ
đựng dung dịch HCl và H2SO4 loãng và giới thiệu: Ở lớp 8 em đã biết một số thông tin về
2 axit này như khái niệm, tên gọi, phân loại. Như vậy axit có những tính chất hóa học
nào? Hoặc axit tác dụng được với chất nào? Học sinh sẽ xác định được vấn đề đặt ra cho
bài học hôm nay là tìm hiểu tính chất hóa học của axit.
Pha 2: Hình thành câu hỏi nghiên cứu của học sinh:
Làm bộc lộ quan niệm ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh là
pha quan trọng, đặc trưng của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Trong pha này, giáo viên
khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình trước khi được
học kiến thức mới. Để làm bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh, giáo viên có thể yêu
cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi
yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình
thức biểu hiện của học sinh như có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân),
bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Đối với học sinh chúng ta thường mỗi lần
phát biểu rất ngại nói vì sợ sai và sợ bị chê cười. Do đó giáo viên cần khuyến khích học
sinh trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe và tôn trọng những quan niệm sai hoặc
lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng các chất sản phẩm”từ đó giáo viên có thể hướng
dẫn học sinh đặt những câu hỏi nghiên cứu cho vấn đề đó, chẳn hạn như:
- Làm thế nào để so sánh được khối lượng các chất tham gia và khối lượng các sản
phẩm của một phản ứng hóa học?
- Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng lớn hơn, nhỏ hơn hay bằng tổng
khối lượng các chất sản phẩm?
Giáo viên có thể nhóm lại các câu hỏi nghiên cứu của học sinh đã nêu, giúp học
sinh lựa chọn những câu hỏi phù hợp với trình độ năng lực, chuẩn kiến thức và học sinh
có thể tiến hành nghiên cứu được trong điều kiện cụ thể.
Có những câu hỏi quá cao hoặc vượt quá nội dung bài học hoặc không nhằm trả lời
cho câu hỏi lớn của bài học cũng cần được loại bỏ.
Pha 3: Xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm:
Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên khéo léo gợi mở cho học sinh, đề nghị các
em đề xuất các giả thuyết nghiên cứu. Giả thuyết nghiên cứu có tính chất dự đoán vấn đề
cần nghiên cứu. Học sinh có thể đề xuất các giả thuyết khác nhau, giáo viên hướng dẫn
học sinh thảo luận đánh giá và chọn giả thuyết nghiên cứu phù hợp với nội dung chủ đề
nghiên cứu.
Ví dụ: Từ câu hỏi nghiên cứu Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng lớn
hơn, nhỏ hơn hay bằng tổng khối lượng các chất sản phẩm? học sinh có thể đưa ra 3 giả
thuyết là “ tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng tổng
khối lượng các sản phẩm”
Hay từ câu hỏi nghiên cứu: Khí oxi có tan trong nước không? Học sinh có thể đưa
ra 2 giả thuyết là có hoặc không.
Ứng với mỗi giả thuyết nghiên cứu giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận thiết kế
một phương án thực nghiệm để kiểm chứng giả thuyết nhằm tìm câu trả lời cho các câu
hỏi nghiên cứu. Có trường hợp có nhiều giả thuyết nghiên cứu khác nhau nhưng có cùng
một phương án thực nghiệm. Các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây
không nhất thiết chỉ là thí nghiệm mà có thể có nhiều phương án như quan sát, nghiên
cứu mô hình, thực hành thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu có liên quan…
Ví dụ: Để kiểm chứng giả thuyết đưa ra là: Axit (HCl, H2SO4 loãng) phản ứng với
Pha 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáo viên khéo
léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học
sinh tiến hành nghiên cứu. Nếu phải làm thí nghiệm thì ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực
tiếp trên vật thật.
Ví dụ: Từ việc quyết định phương án tìm tòi –nghiên cứu ở bài “Định luật bảo toàn
khối lượng” là thực hiện được phản ứng hóa học và xác định cho đúng tổng khối lượng
các chất tham gia và sản phẩm để so sánh, giáo viên cung cấp cho mỗi nhóm học sinh
các thiết bị cần thiết để thực hiện thí nghiệm hóa học như: cân, 2 cốc thủy tinh, dd đồng
sunfat, dd bariclorua. Từ các thiết bị đó giáo viên yêu cầu học sinh đề xuất cách tiến hành
thí nghiệm và tự thực hiện các thí nghiệm tìm tòi- nghiên cứu theo sự gợi ý, giúp đỡ của
giáo viên. Ở chủ đề này cần hướng học sinh tiến hành thí nghiệm theo các bước sau:
- Cân các chất tham gia phản ứng để xác định tổng khối lượng các chất trước phản
ứng.
- Cho các chất tiếp xúc với nhau để thực hiện phản ứng: rót dung dịch bari clorua
vào dung dịch đồng sunfat.
- Cân các chất sản phẩm để xác định tổng khối lượng các chất sản phẩm.
- So sánh tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng và tổng khối lượng các chất
sản phẩm.
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 12
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm trên mô hình,
hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ. Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học
sinh quan sát vật thật trước, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô
như là kiến thức của bài học. Trước khi kết luận chung, giáo viên nên yêu cầu một vài ý
kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực nghiệm (rút ra kiến thức của bài học). Giáo
viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với
các ý kiến ban đầu (quan niệm ban đầu) trước khi học kiến thức. Như vậy từ những quan
niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự
phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt.
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 13
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một
cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức.
1.2- Lựa chọn nội dung có thể áp dụng dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn
bột”.
Với việc nắm vững cơ sở khoa học, nguyên lý, qui trình tổ chức dạy học theo
phương pháp “Bàn tay nặn bột” giáo viên có thể lựa chọn nội dung phù hợp để vận dụng
dạy học theo phương pháp này. Khi lựa chọn nội dung để dạy theo phương pháp này cần
đảm bảo các yêu cầu sau:
- Nội dung giúp học sinh có thể tìm tòi nghiên cứu rút ra kiến thức bằng con đường
tương tự các nhà khoa học đã nghiên cứu phát minh ra các khái niệm, định luật, tính chất
của các chất...
- Các nội dung kiến thức có thể giúp học sinh khám phá bằng con đường tiến hành
thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu.
- Nội dung hóa học gần gũi với thực tế cuộc sống của học sinh.
- Nội dung có các thí nghiệm hoặc vật thật dễ tìm, dễ kiếm, học sinh có thể thực
hiện được.
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
lựa chọn chủ đề là nội dung của một bài học để tổ chức hoạt động dạy học theo phương
pháp “Bàn tay nặn bột”, vì vậy 5 pha của tiến trình dạy học được thực hiện gọn gàng
trong thời gian 1tiết. Kết thúc tiết học, học sinh có thể chiếm lĩnh được kiến thức thông
qua hoạt động tìm tòi nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Ví dụ 3: Chủ đề "Tính chất của kim loại – Dãy hoạt động hóa học của kim loại
" là nội dung kiến thức của 2 bài học trong chương trình hóa học lớp 9. Lựa chọn chủ đề
này để tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” giáo viên có thể
sử dụng 2 tiết học và vì thế 5 pha của tiến trình dạy học được diễn ra trong 2 tiết học.
Chẳng hạn, hết tiết thứ nhất, học sinh mới có thể hoàn thành đến pha 3 - Đề xuất giả
thuyết và thiết kế phương án thí nghiệm. Đến buổi học sau (theo thời khóa biểu) học sinh
mới thực hiện pha 4 - Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, bao gồm cả việc nghiên
cứu các tài liệu khoa học và sách giáo khoa. Sau khi giáo viên tổng kết, hợp thức hóa
kiến thức, học sinh sử dụng tiết thứ 2 ở buổi học tiếp theo để làm thí nghiệm thực hành
nhằm kiểm nghiệm lại dãy hoạt động hóa học của kim loại. Hay chủ đề “ Tính chất của
Oxi” là chủ để của một bài nhưng thời lượng học tập là hai tiết. Lựa chọn chủ đề này dạy
theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”, giáo viên tổ chức hoạt động trong tiết thứ nhất với
3 pha đầu tiên, đến tiết thứ hai theo chương trình học sinh thực hiện pha thứ 4 – Tiến
hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu bao gồm cả quan sát vật mẫu ( khí oxi) và thực
hiện thí nghiệm rút ra kết luận về tính chất vật lí và tính chất hóa học của oxi. Pha thứ 5
học sinh tiến hành báo cáo kết quả nghiên cứu, kết luận kiến thức. Như vậy, với quỹ thời
gian cho phép theo chương trình là 2 tiết, giáo viên có thể sử dụng để tổ chức cho học
sinh hoạt động theo đúng tiến trình sư phạm của phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Tuy
nhiên, với việc tổ chức như vậy, hoạt động học tập và nghiên cứu tài liệu khoa học của
học sinh không chỉ dừng lại ở 2 tiết trên lớp mà hoạt động này còn tiếp diễn ở nhà, trong
khoảng thời gian giữa các buổi học.
- Việc lựa chọn các chủ đề dạy học cần phải được tổ chức thành hệ thống từ thấp
đến cao trong phạm vi một lớp cũng như cả cấp học. Đặc biệt là khi lựa chọn các chủ đề,
giáo viên các môn khoa học dạy cùng một lớp cần phải có sự trao đổi, thống nhất với
với bàn ghế sắp xếp theo hướng tiện lợi cho hoạt động nhóm.
Sau đây là một số gợi ý để giáo viên sắp xếp bàn ghế, vật dụng trong lớp học phù
hợp với hoạt động nhóm:
- Các nhóm bàn ghế cần sắp xếp hài hòa theo số lượng học sinh trong lớp.
- Cần chú ý đến hướng ngồi của các học sinh sao cho tất cả học sinh đều nhìn thấy
rõ thông tin trên bảng.
- Khoảng cách giữa các nhóm không quá chật, tạo điều kiện đi lại dễ dàng cho học
sinh khi lên bảng trình bày, di chuyển khi cần thiết.
- Đối với những bài học có làm thí nghiệm thì giáo viên cần có chỗ để các vật
dụng dự kiến làm thí nghiệm cho học sinh. Không nên để sẵn các vật dụng thí nghiệm lên
bàn của học sinh trước khi dạy học vì nhiều học sinh quá hiếu động, không chịu nghe lời
dặn của giáo viên, có thể sẽ mất tập trung vì mải nghịch các vật dụng trên bàn. Một lý do
nữa đó là sẽ làm lộ ý đồ dạy học của giáo viên khi giáo viên muốn học sinh tự đề xuất thí
nghiệm nghiên cứu. Cũng với các lý do nói trên mà giáo viên nên thu hồi các đồ dùng
dạy học không cần thiết (sau khi đã sử dụng xong cho mục đích dạy học và chuyển nội
dung dạy học).
- Một số trường hợp có phòng học bộ môn hoặc phòng học đặc biệt thì nên bố trí
các vật dụng theo yêu cầu trong phòng này để tiện lợi cho việc dạy học của giáo viên và
học sinh.
- Chú ý sắp xếp bàn ghế không nên gập ghềnh vì gây khó khăn cho học sinh khi
làm một số thí nghiệm cần sự cân bằng hoặc gây khó khăn khi viết.
Một không khí làm việc tốt trong dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” có
hiệu quả là giáo viên tạo được sự thoải mái cho tất cả các học sinh, việc học không trở
nên là một điều gì đó quá căng thẳng, các học sinh có thể tham gia và ham thích các hoạt
động dạy học được giáo viên tổ chức trong lớp như: thực hiện thí nghiệm, suy nghĩ, thảo
luận, trao đổi, trình bày bằng lời nói hay viết…
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 16
1.3.3.Kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên:
Trong dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”, câu hỏi của giáo viên đóng
một vai trò quan trọng trong sự thành công của phương pháp và thực hiện tốt ý đồ dạy
học. Câu hỏi của giáo viên có thể là câu hỏi cho từng cá nhân học sinh, câu hỏi cho từng
nhóm (khi đại diện các nhóm trình bày ý kiến, hoặc khi giáo viên gợi ý thảo luận cho
từng nhóm), câu hỏi chung cho cả lớp.
Câu hỏi "tốt" có thể giúp cho học sinh xác định rõ phần trả lời của mình và làm cho
tiến trình dạy học đi đúng hướng rút ngắn thời gian. Một câu hỏi tốt là một câu hỏi kích
thích, một lời mời đến sự kiểm tra chăm chú nhiều hơn, một lời mời đến một thí nghiệm
mới hay một bài tập mới… Người ta gọi những câu hỏi này thường là câu hỏi "mở" vì nó
kích thích một "hành động mở". Các câu hỏi "mở" khuyến khích học sinh suy nghĩ tới
những câu hỏi riêng của học sinh và phương án trả lời những câu hỏi đó. Các câu hỏi
dạng này cũng mang đến cho nhóm một công việc và một sự lập luận sâu hơn.
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 17
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
Các câu hỏi "đóng" là các câu hỏi yêu cầu một câu trả lời ngắn. Ví dụ như: Sản
phẩm của phản ứng này có tên là gì? Phản ứng trên thuộc loại phản ứng nào? Có phải
dung dịch axit làm quì tím hóa đỏ không?... Câu hỏi “đóng” không dùng làm câu hỏi nêu
vấn đề mà có thể dùng cho câu hỏi gợi ý.
1.3.3.1. Câu hỏi nêu vấn đề
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học hay môđun kiến thức. Câu hỏi nêu
vấn đề còn được gọi là câu hỏi xuất phát, được hình thành qua tình huống xuất phát (hay
còn gọi là tình huống nêu vấn đề). Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi đặc biệt nhằm định
hướng học sinh theo chủ đề của bài học nhưng cũng đủ "mở" để kích thích sự tự vấn của
Trang: 18
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
- Khi nêu câu hỏi, giáo viên cần nói to, rõ. Nếu trường hợp học sinh chưa nghe rõ
câu hỏi thì phải nhắc lại, tuy nhiên không nên nhắc lại nhiều lần vì như vậy sẽ làm phân
tán học sinh (cắt tạm thời suy nghĩ của học sinh) do học sinh tưởng rằng giáo viên đưa ra
câu hỏi mới. Câu hỏi không nên quá dài vì như vậy học sinh sẽ không thể nắm bắt yêu
cầu của câu hỏi.
- Đối với các câu hỏi gợi ý, giáo viên nên đặt câu hỏi ngắn, yêu cầu trong một
phạm vi hẹp mà mình muốn gợi ý cho học sinh. Nếu là những câu hỏi gợi ý cho một
nhóm khi các học sinh đang thảo luận thì chỉ nên hỏi với một âm lượng vừa đủ cho nhóm
này nghe để tránh phân tán suy nghĩ của các nhóm khác không liên quan.
- Trong khi điều khiển tiết học, nếu giáo viên đặt câu hỏi mà học sinh không hiểu,
hiểu sai ý hoặc câu hỏi dẫn đến nhiều cách nghĩ khác nhau, giáo viên nhất thiết phải đặt
lại câu hỏi cho phù hợp. Tuyệt đối không được cố chấp tiến tới vì làm như vậy sẽ phá vỡ
hoàn toàn ý đồ dạy học ở các bước tiếp theo.
- Để thuần thục trong việc đặt câu hỏi và có những câu hỏi "tốt", đặc biệt là câu hỏi
nêu vấn đề, giáo viên phải rèn luyện, chuẩn bị kỹ những câu hỏi có thể đề xuất cho học
sinh. Giáo viên nên làm việc, trao đổi, thảo luận với các giáo viên khác cùng trường hoặc
đồng nghiệp khác trường nhưng dạy cùng khối lớp để tham khảo ý kiến đặt câu hỏi. Làm
như vậy sẽ tốt hơn việc giáo viên tự suy nghĩ câu hỏi vì có thể do chủ quan mà giáo viên
không đánh giá được chất lượng câu hỏi mình đặt ra. Khi đồng nghiệp lắng nghe và góp
ý, giáo viên sẽ có thể điều chỉnh câu hỏi cho phù hợp và hay hơn. Thông qua quá trình
dạy học, giáo viên có thể rút ra kinh nghiệm trong việc đặt câu hỏi. Giáo viên nên ghi chú
lại câu hỏi "tốt", định hướng rõ ràng cho học sinh và thực hiện thành công trong các tiết
học để làm tài liệu giảng dạy cho riêng mình hoặc chia sẻ cho các giáo viên khác.
nào là đúng, làm sao để kiểm chứng nó… Đó là mâu thuẫn nhận thức để giúp học sinh đề
xuất ra các thí nghiệm kiểm chứng hoặc các phương án tìm ra câu trả lời.
Ví dụ: khi xây dựng giả thuyết nghiên cứu trong bài “ Định luật bảo toàn khối lượng”
học sinh đưa ra 3 ý tưởng:
- Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng lớn hơn tổng khối lượng các chất
sản phẩm.
- Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng nhỏ hơn tổng khối lượng các chất
sản phẩm.
- Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng bằng tổng khối lượng các chất sản
phẩm.
Các ý tưởng này có sự mâu thuẫn với nhau từ đó xúc tiến học sinh phải tiến hành
thực nghiệm để kiểm chứng các giả thuyết đó
- Khi yêu cầu học sinh phát biểu, nêu ý kiến (ý tưởng), giáo viên cần chú ý về mặt
thời gian, hướng dẫn học sinh cách trả lời thẳng vào câu hỏi, không kéo dài, trả lời vòng
vo mà cần trả lời gắn gọn đủ ý. Làm như vậy sẽ tiết kiệm được thời gian của tiết học,
đồng thời sẽ giúp học sinh rèn luyện được suy nghĩ, ý tưởng của mình về mặt ngôn ngữ.
- Ý kiến của học sinh càng khác biệt, có ý kiến sai lệch so với kiến thức đúng thì
tiết học càng sôi nổi và giáo viên cũng dễ điều khiển tiết học hơn. Những ý kiến gần nhau
về về ý tưởng rất khó để học sinh nhận biết sự khác biệt.
- Khi yêu cầu học sinh khác nhận xét ý kiến của học sinh trước, giáo viên nên yêu
cầu học sinh nhận xét theo hướng "đồng ý và có bổ sung" hay "không đồng ý và có ý
kiến khác" chứ không nhận xét "ý kiến bạn này đúng, bạn kia sai".
- Giáo viên cần tóm tắt ý tưởng của học sinh khi viết ghi chú lên bảng, không nên
viết theo câu đầy đủ mà nên viết theo các từ chính tương tự với yêu cầu của câu hỏi đặt ra
để tránh mất thời gian và cũng để học sinh dễ nhận biết cốt lõi của ý tưởng đó.
1.3.5. Kỹ thuật lựa chọn , sử dụng thiết bị dạy học trong phương pháp “Bàn tay nặn
bột”:
Đối với phương pháp “Bàn tay nặn bột”, việc lựa chọn và sử dụng thiết bị dạy học
phù hợp và hiệu quả quyết định sự thành công của một tiết dạy. Vì vậy, trước mỗi tiết
dạy người giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho tiết dạy. Giáo viên
cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
Trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”, thiết bị dạy học được sử dụng bao gồm các
thiết bị dạy học truyền thống như: bảng đen, bảng trắng, mô hình, mẫu vật thật, tranh ảnh,
bản đồ, biểu đồ, dụng cụ, hóa chất thí nghiệm… và các thiết bị dạy học hiện đại như máy
tính, các loại máy chiếu, các loại băng đĩa, phim khoa học… Việc kết hợp hài hòa các
loại thiết bị dạy học sẽ tạo được hứng thú, tăng hiệu quả học tập cho học sinh và giảm sự
vất vả cơ bản của giáo viên trong quá trình dạy học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức,
mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo cấp độ của tri giác nên khi đưa
các thiết bị dạy học vào dạy học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực học tập,
độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức
và hình thành kĩ năng, kĩ xảo của các em.
Khi sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”, giáo viên cần phải sử dụng thiết bị
dạy học phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, để tạo được hiệu quả cao nhất. Chẳng hạn, ở pha
"Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề", giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh hay
video khoa học để kích thích hứng thú nhận thức và khơi dậy những quan niệm ban đầu
vốn có của các em về chủ đề nghiên cứu. Trong pha "Tiến hành thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu", giáo viên có thể cho học sinh tự tiến hành thí nghiệm hóa học hoặc sử dụng
máy tính, mạng internet, tranh ảnh khoa học, sơ đồ, mẫu vật thật… để giúp học sinh tìm
ra những đặc điểm, tính chất của đối tượng cần nghiên cứu.
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 21
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
Với phương pháp mô hình, giáo viên có thể sử dụng các mô hình tự tạo hoặc các mô
hình có sẵn, sưu tầm để giúp học sinh khám phá những đặc tính cơ bản của đối tượng khó
quan sát bằng vật thật như: mô hình cấu tạo phân tử các hợp chất hữu cơ, mô hình các
các thí nghiệm hóa học. Nếu các vật dụng thí nghiệm không đảm bảo về số lượng thì sau
mỗi thí nghiệm, giáo viên nên yêu cầu học sinh rửa sạch các vật dụng đã dùng rồi mới
tiến hành các thí nghiệm tiếp theo.
1.3.6. Kĩ thuật hướng dẫn học sinh sử dụng vở thực hành:
Vở thực hành là một đặc trưng quan trọng trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Vở thực hành thực chất là một cuốn vở nháp của học sinh, được học sinh sử dụng để ghi
chép cá nhân về quá trình tìm tòi - nghiên cứu. Thông qua việc ghi chép trong vở thực
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 22
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
hành, học sinh được tập làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và giáo viên cũng
giúp học sinh rèn luyện ngôn ngữ viết thông qua cuốn vở này. Nội dung ghi chép trong
vở thực hành là các ý kiến, quan niệm ban đầu trước khi học kiến thức, các dự kiến, đề
xuất, có thể là các sơ đồ, tiến trình thí nghiệm đề xuất của học sinh khi làm việc với
nhóm, hoặc có thể là các câu hỏi cá nhân mà học sinh đưa ra trong khi học. Học sinh có
thể ghi chép bằng lời, hình vẽ hay sơ đồ, bảng biểu. Vở thực hành chứa đựng các phần
ghi chú cá nhân, phần ghi chú tổng kết của nhóm (học sinh viết lại phần thống nhất thảo
luận trong nhóm) hoặc phần ghi chú tổng kết thảo luận của cả lớp (kết luận về kiến thức)
được xây dựng bởi trí tuệ tập thể.
Vở thực hành là cần thiết để học sinh sử dụng vốn từ mà các em có thể diễn đạt ý
tưởng, tập ghi chép dựa trên những gì học sinh hiểu và những gì học sinh thực hiện trong
quá trình học. Tuy là một cuốn vở cá nhân nhưng nó lại giúp học sinh đối chiếu những gì
mình ghi chép với ý kiến của học sinh khác khi thảo luận và với ý kiến chung của tập thể.
Thông qua việc ghi chép cá nhân học sinh có thể lưu giữ những việc đã làm (thí
nghiệm hoặc ý kiến ban đầu) và từ đó giúp học sinh so sánh những quan điểm cá nhân
Vận dụng hợp lí phương pháp “Bàn tay nặn bột” góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa
học ở trường THCS Thị trấn Phù Mỹ,
Phần ghi chú tổng kết sau khi thảo luận của cả lớp: Đây là phần ghi chú sau khi
thảo luận của cả lớp, rút ra kết luận khoa học chung (còn gọi là kiến thức). Phần ghi chú
này được giáo viên định hướng, chỉnh sửa về ngôn từ chính xác về mặt khoa học. Đây là
kiến thức của bài học rút ra sau khi thực hiện hoạt động dạy học. Giáo viên nên yêu cầu
học sinh viết bằng một màu mực khác để phân biệt như đã nói ở trên. Học sinh chỉ ghi
chép vào vở thực hành vào những thời điểm nhất định và nên có lệnh của giáo viên trước
khi ghi chú để tránh mất thời gian và phân tán khi đang thực hiện các hoạt động khác.
Để thực hiện hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian và giúp học sinh trình bày tốt hơn
các nội dung trong vở thực hành, giáo viên nên kẽ sẵn mẫu vở để học sinh trình bày theo
từng hoạt động, hoặc nếu có điều kiện giáo viên in sẵn các tờ rời với mẫu có sẵn để học
sinh điền vào. Nên thực hiện cách thức này đối với các học sinh THCS vì ở độ tuổi này
học sinh chưa đủ khả năng để trình bày vở thực hành như yêu cầu của giáo viên được. Có
thể thiết kế mẫu vở thực hành như sau:
NỘI DUNG GHI VỞ HỌC THỰC NGHIỆM
Môn: Hóa học
(theo phương pháp bàn tay nặn bột)
Ngày tháng năm
Bài: -------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Câu hỏi nêu vấn đề: --------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------Nội dung cần nghiên cứu: ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------1. Đề xuất ý kiến ban đầu:
Tôi đề xuất
Nhóm đề xuất
Ý kiến chung của lớp
------------------------------ ---------------------------------- ------------------------------------------------------------------ ---------------------------------- ------------------------------------------------------------------ ---------------------------------- ------------------------------------2 . Đề xuất câu hỏi, xây dựng giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm:
Câu hỏi nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu
Phương án thực nghiệm
pháp này, chúng tôi đã tiến hành soạn giảng ở đơn vị trường với bộ môn Hóa học khối
lớp 8 và khối lớp 9, mỗi giáo viên soạn giảng 2 tiết / học kì. Sau đó có thể áp dụng đại trà
và lâu dài đón đầu việc thay đổi nội dung, chương trình đổi mới sách giáo khoa sau 2015.
2.2. Khả năng thay thế một số giải pháp hiện có:
Như chúng ta đã biết, trong hoạt động dạy học phổ biến hiện nay nhiều giáo viên
còn sử dụng nhóm các phương pháp mang tính chất truyền thống như: thuyết trình, giảng
giải, vấn đáp, phân tích. Trong các phương pháp này giáo viên là chủ thể hoạt động, học
sinh thụ động tiếp thu kiến thức, giáo viên đặt câu hỏi, học sinh dựa vào các tranh ảnh,
kênh chữ và kênh hình trong sách giáo khoa để trả lời. Việc áp dụng các phương pháp và
kĩ thuật dạy học tích cực thường chỉ rộ lên vào các đợt thanh kiểm tra toàn diện, thao
giảng, hội giảng, thi giáo viên dạy giỏi các cấp... Các phương pháp dạy học tích cực có
nhiều ưu điểm hơn các phương pháp dạy học truyền thống là đã đưa học sinh dần vào
trung tâm của chủ thể hoạt động nhưng những ý tưởng của việc khám phá kiến thức là do
giáo viên cung cấp, học sinh chỉ là người thực hiện theo.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đề xuất một tiến trình học tập theo hướng cho học
sinh xây dựng những kiến thức của mình bằng cách khai thác, thực nghiệm và thảo luận.
Như vậy ở phương pháp học tập này học sinh là chủ thể của họat động còn giáo viên chỉ
là người tổ chức, định hướng trực tiếp các hoạt động của học sinh. Giáo viên cung cấp tư
liệu, tạo tình huống cho học sinh hoạt động, học sinh tự chủ tìm tòi giải quyết vấn đề đặt
GV: Võ Thị Hiển
Trang: 25