ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tài liệu này gồm phần mở đầu và các phần chính sau:
Phần I. Yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông
Phần II. Thực trạng dạy học ở trường THCS
Phần III. Định hướng đổi mới PPDH ở trường THCS
Phần IV. Giải pháp đổi mới PPDH ở trường THCS
Phần V. Khái niệm PPDH và các bình diện của PPDH
Phần VI. Xây dựng và triển khai kế hoạch tập huấn cho giáo viên về
đổi mới phương pháp dạy học ở trường
Mở đầu: Giới thiệu những nội dung chính sau:
1. Mục tiêu của đợt tập huấn
Khoá học nhằm giúp học viên - cán bộ quản lí giáo dục nhận thức rõ hơn về
việc đổi mới PPDH ở trường THCS, để từ đó làm tốt hơn công tác chỉ đạo và hỗ
trợ giáo viên trong quá trình dạy học, từng bước nâng cao năng lực của đội ngũ GV
THCS.
2. Tiến trình và phương pháp làm việc
- Học viên sẽ được tiếp cận với các tài liệu nguồn; trong mỗi buổi học, giảng
viên sẽ đưa ra những nhiệm vụ và yêu cầu cụ thể cho mỗi nội dung được đưa ra
trong khoá học.
- Học viên sẽ thực hiện các hoạt động trong mỗi buổi học, với hình thức cá
nhân hoặc nhóm. Khoá học đề cao sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm của các cá nhân
để tăng cường khả năng phối hợp và sự hiểu biết sâu hơn về nhận thức của mỗi cá
nhân.
3. Các kết quả và sản phẩm sau khoá học
- Kết quả đạt được trong khoá học sẽ là những ý kiến trao đổi, thống nhất
được các học viên đưa ra trong mỗi buổi học tương ứng với những nội dung và yêu
cầu của tài liệu.
- Kết thúc khoá học, học viên sẽ có hoạt động tự đánh giá kết quả đạt được
của bản thân sau khoá học.
51
- Kiểu dạy học phổ biến trong nhiều trường, nhiều môn học hiện nay vẫn
là giáo viên truyền thụ những nội dung được trình bày trong SGK, học
sinh nghe và ghi nhớ một cách thụ động.
- Việc sử dụng phối hợp các PPDH để phát huy tính tích cực, sáng tạo của
học sinh còn hạn chế.
- Việc gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn cũng như để giải
quyết các chủ đề phức hợp của thực tiễn chưa được chú trọng.
2.2.Nguyên nhân
- Giáo viên chưa được trang bị một cách hệ thống, bài bản về vấn đề đổi mới
PPDH nên còn lúng túng, đa số GV mới hiểu vấn đề đổi mới PPDH ở hình
thức bên ngoài (ví như đổi mới chỉ là tăng cường thảo luận nhóm hoặc phải
sử dụng máy chiếu, giáo án điện tử, trong các giờ học) mà chưa chú ý được
đến bình diện bên trong của PPDH (hiệu quả và sự phù hợp của các phương
pháp đối với nội dung và đặc thù môn học).
- Phương tiện, thiết bị dạy học ở nhiều trường còn nghèo nàn, không thuận
lợi cho việc áp dụng PPDH mới, nhất là các PPDH hiện đại.
- Đời sống của nhiều GV còn khó khăn, trong khi số tiết dạy trong tuần
của GV cao, nên GV ít có thời gian đầu tư thoả đáng cho việc đổi mới
PPDH.
- Động cơ thái độ học tập của nhiều HS chưa thật tốt. HS vẫn quen với lối
học thụ động, chưa sẵn sàng tham gia một cách tích cực, chủ động vào
các nội dung học tập
- Các cơ quan nghiên cứu chưa đầu tư nhiều vào việc bồi dưỡng giáo viên và
các cán bộ quản lí về đổi mới PPDH (chưa có những công trình nghiên cứu
vừa đảm bảo cơ sở lí luận, vừa giải quyết được việc chỉ dẫn cho giáo viên
dạy học theo hướng tích cực, )
- Việc kiểm tra thi cử mặc dầu có những đổi mới nhưng vẫn mang tính
hình thức, chưa khuyến khích được cách học thông minh, sáng tạo của
học sinh.
53
loạt cả lớp đối diện với giáo viên, học tập đơn phương sang tổ chức dạy học theo
các hình thức tương tác: học cá nhân, học theo nhóm
- Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học:
+ Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học sinh động, lí
thú, tránh nhàm chán, đơn điệu, từ đó có thể khắc phục điểm yếu, phát huy điểm
mạnh của các hình thức tổ chức dạy học khác nhau
+ Làm cho việc học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm sống
của cá nhân học sinh, tạo điều kiện tổ chức học tập với hình thức điều tra, nghiên
cứu trong thực tiễn cuộc sống,
3.2. Cụ thể hoá định hướng chung vào một số môn học
Hoạt động 3
Ông/bà hãy cụ thể hoá định hướng chung về đổi mới PPDH vào môn
học mà ông/bà đã từng giảng dạy để thấy rõ được việc vận dụng những
định hướng về đổi mới PPDH theo đặc thù bộ môn.
PHẦN IV. GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI PPDH Ở TRƯỜNG THCS
4.1. Một số giải pháp cơ bản
4.1.1. Xây dựng mô hình lí luận, xác định quan điểm, định hướng đúng đắn và
những biện pháp khả thi nhằm đổi mới PPDH. Đổi mới về quan niệm, nhận
thức của cán bộ quản lí, giáo viên về việc áp dụng các PPDH mới để nâng
cao hiệu quả dạy học.
4.1.2. Khai thác những yếu tố tích cực của các PPDH truyền thống một cách phù
hợp và có hiệu quả, đồng thời đưa các quan điểm, mô hình dạy học hiện đại,
các PPDH mới vào trường THCS, tạo điều kiện cần thiết để giáo viên có thể
thực hiện được sự chuyển biến về các hoạt động dạy và học, chuyển từ lối
truyền thụ kiến thức một chiều sang việc tổ chức các hoạt động tự lập, tự
khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành năng lực tự học, năng lực sáng
tạo của học sinh.
55
4.1.3. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học. Bồi dưỡng năng lực tổ chức dạy học
theo nhiều hình thức đa dạng, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi (cả
cấu trúc 2 mặt của PPDH, mô hình 3, 4 thành tố cơ bản, Trong bài viết này, chỉ
xin trình bày mô hình 3 thành tố : Quan điểm dạy học (QĐDH) – Phương pháp dạy
học (PPDH) – Kĩ thuật dạy học (KTDH).
- Quan điểm dạy học: là những định hướng tổng thể cho các hành động PP,
trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lí
thuyết của của LLDH đại cương hay chuyên ngành, những điều kiện dạy học và tổ
chức cũng như những định hướng mang tính chiến lược dài hạn, có tính cương lĩnh,
là mô hình lí thuyết của PPDH. Tuy nhiên các quan điểm dạy học chưa đưa ra
những mô hình hành động cũng như những hình thức xã hội cụ thể của PP.
- Phương pháp dạy học: Khái niệm PPDH ở đây được hiểu với nghĩa hẹp, đó
là các PPDH, các mô hình hành động cụ thể. PPDH cụ thể là những cách thức hành
động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu DH xác định, phù hợp với
những nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. PPDH cụ thể quy định những mô hình
hoạt động của GV và HS. PPDH cụ thể bao gồm những PP chung cho nhiều môn
và các PP đặc thù bộ môn. Bên cạnh các PPDH truyền thống quen thuộc như
thuyết trình, đàm thoại, trực quan, làm mẫu, có thể kể một số PP khác như: PP
nghiên cứu trường hợp, PP điều phối, PP đóng vai,
- Kĩ thuật dạy học: là những động tác, cách thức hành động của GV và HS
trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy
học. Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập. Bên cạnh các KTDH thường
dùng, có thể kể đến một số KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
như: KT công não, KT thông tin phản hồi, KT bể cá, KT tia chớp,
Quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các
phương pháp dạy học cụ thể. Các phương pháp dạy học là khái niệm hẹp hơn, đưa
ra mô hình hành động. Kĩ thuật dạy học là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình
huống hành động. Một quan điểm dạy học có những phương pháp dạy học phù
hợp, một phương pháp dạy học cụ thể có các kĩ thuật dạy học đặc thù. Tuy nhiên,
57
có những phương pháp phù hợp với nhiều quan điểm dạy học cũng như những kĩ
thuật dạy học dùng trong nhiều phương pháp khác nhau. Vì vậy việc phân loại các
không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy
học.
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa
học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc
trẻ khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp
học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn điều này càng phải được chú
trọng.
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện
cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ
được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học
trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự
học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo
viên.
c). Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể
đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự
phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học
được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập.
Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng
lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp
ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học
sinh.
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được
hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp
thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường
chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến
59
mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là
một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn
để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học.
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng
vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế,
tổchức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực
chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ
theo yêu cầu của chương trình. Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, giáo viên có
vẻ nhàn nhã hơn nhưng thực chất là giáo viên đã phải đầu tư công sức, thời gian rất
nhiều so với kiểu dạy và học thụ động thì mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai
trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm
tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh. Mặt khác, giáo viên phải có trình độ
chuyên môn vững vàng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng
dẫn các hoạt động của học sinh một cách có hiệu quả
Có thể so sánh đặc trưng của dạy học truyền thống và dạy học hiện đại như
sau:
Dạy học truyền thống Các mô hình dạy học hiện đại
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và
lĩnh hội, qua đó hình thành
kiến thức, kĩ năng,tư tưởng,
tình cảm.
Học là quá trình kiến tạo; học sinh tìm
tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai
thác và xử lí thông tin, tự hình thành
hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất Truyền thụ tri thức, truyền thụ và
chứng minh chân lí của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học
sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kĩ
thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tế,
học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm,
cả lớp đối diện với giáo viên
Hoạt động 6
Ông/bà hãy cùng trao đổi và bình luận về câu nói sau của một nhà giáo dục:
“ Học tập không phải là một môn thể thao được trình diễn cho khán giả xem.
HS không thể học được nhiều khi chỉ ngồi nghe GV giảng trong lớp,ghi nhớ
bằng cách làm các bài tập được giao và đọc trả bài. HS cần trao đổi và viết về
những gì các em đang học, liên hệ những kiến thức đó với kinh nghiệm của bản
thân và áp dụng vào cuộc sống hàng ngày. HS cần biến những gì các em học
thành một phần cuộc sống của chính mình”
5.3. Một số phương pháp dạy học tích cực
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp
dạy học truyền thống. Cần phải kế thừa những giá trị, những yếu tố hợp lí của
các PPDH hiện có đồng thời chuyển đổi những gì có thể chuyển đổi được ngay,
chuẩn bị và nhanh chóng đưa các quan niệm, mô hình dạy học hiện đại, các
PPDH tiên tiến vào trường phổ thông.
Theo định hướng trên, có thể kể ra một số PPDH dưới đây:
a) Vấn đáp
Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi
để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học
sinh lĩnh hội được nội dung bài học.
62
Có ba phương pháp (mức độ) vấn đáp : vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích -
minh họa và vấn đáp tìm tòi.
b) Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt,
thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng
lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện,
đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân,
PP trường hợp đề cập đến một tình huống từ thực tiễn cuộc sống và nghề
nghiệp có thể gặp trong cuộc sống và công việc hàng ngày. Những tình huống đó
chứa đựng vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết các vấn đề này đòi hỏi phải có
những quyết định dựa trên cơ sở lập luận, lí giải, phân tích về mặt lí luận dạy học
Như vậy, PP trường hợp (PP nghiên cứu trường hợp, PP tình huống) là một
PPDH, trong đó HS tự nghiên cứu và giải quyết một tình huống thực tiễn. Hình
thức làm việc chủ yếu là theo nhóm. PP trường hợp là PP điển hình của DH theo
tình huống và DH giải quyết vấn đề.
e) PPDH theo dự án
Khái niệm dự án được hiểu là một dự định, một kế hoạch trong đó cần xác định
rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện, tài chính, điều kiện vật chất.
DH theo dự án (DHDA) được hiểu là một PP hay một hình thức dạy học, trong
đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí
thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự
lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch,
đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực
hiện. Khác với các hình thức dạy học truyền thống, chủ yếu diễn ra trong lớp học,
gắn chặt với sách giáo khoa, với bảng đen và thuyết trình của giáo viên, hình thức
DHDA có một số đặc điểm riêng sau:
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả dự án có ý
nghĩa thực tiễn – xã hội.
Ví dụ: Dự án : Tìm hiểu phong tục tập quán của quê hương
Dự án : Hoá chất – ứng dụng trong đời sống và mối đe doạ
- Định hướng hứng thú của học sinh: Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp
với hứng thú của học sinh.
64
- Tính tự lực cao của người học: Học sinh tham gia tích cực và tự giác vào các
giai đoạn của quá trình dạy học.
- Định hướng hành động của người học: Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành,
huy động nhiều giác quan.
- Ông/bà hãy liệt kê các PPDH đã được sử dụng ở trường của ông/bà và giải
thích những thuận lợi và bất lợi của mỗi phương pháp.
- Ông/bà hãy nêu một ví dụ cụ thể về việc áp dụng PPDH tích cực đối với lĩnh
vực chuyên môn của ông/bà.
- Chia sẻ với đồng nghiệp về việc ông/bà sẽ chỉ đạo GV vận dụng các PPDH tích
cực trong quá trình dạy học theo đặc thù bộ môn như thế nào?
Hoạt động tổng kết sau khoá học
Giả định rằng các GV trong trường của ông/bà đề nghị ông/bà hướng dẫn
chỉ đạo về dạy học tích cực. Dưới đây là một số gợi ý để ông/bà tham khảo và
thực hiện :
Bước 1 : Ông/bà hãy thiết kế một giáo án mẫu cho lĩnh vực chuyên môn của
mình, bao gồm :
- Hoạt động của giáo viên
- Hoạt động của học sinh
Hai nhóm hoạt động này phải phù hợp với nhau, ví dụ:
- Hoạt động của GV : giới thiệu chủ đề mới, sử dụng các
phương pháp và kĩ thuật nêu vấn đề, tình huống, câu hỏi.
- Hoạt động của HS : giải quyết vấn đề, tình huống, trả lời câu
hỏi, thể hiện được những kiến thức và kinh nghiệm của bản
thân về chủ đề được học.
Bước 2 : Hướng dẫn GV thông qua thảo luận để chỉ ra :
- Cách thức giúp người học phân tích, tổng hợp, đánh giá thông
tin thông qua việc thảo luận với những học sinh khác, thông
qua việc trả lời các câu hỏi, viết bài và làm bài tập.
- Hiệu quả của việc vận dụng các phương pháp trong dạy học
tích cực.
66
Bước 3 : Khuyến khích GV cùng tham gia :
- Khuyến khích GV phản ánh và nêu ý kiến về những cách thức
họ thực hiện trong các hoạt động trên lớp và phương pháp dạy