Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh đắk lắk - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

TIỂU LUẬN
MÔN: TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG THỜI KỲ CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA CỦA TỈNH ĐẮK LẮK

GIẢNG VIÊN: PGS. TS ĐOÀN QUANG THỌ
LỚP: CAO HỌC QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH – KHÓA 22
TỔ 3

Đắk Lắk, tháng 4 năm 2014

1


MỤC LỤC
Trang
NỘI DUNG TIỂU LUẬN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Bố cục tiểu luận
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
Các khái niệm
1. Công nghiệp hóa – hiện đại hóa:
2. Nguồn nhân lực:

4
5
5
7
7
7
7
7
8
8
10
11
12
12
13
13
14
14
15
16

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp cách mạng của quần
chúng, trong đó lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, khoa học quản lý
và công nhân lành nghề đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Trong quá trình phát triển,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có đầy đủ nguồn nhân lực về số lượng,
2



trò quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực của
tỉnh Đắk Lắk trong thời gian qua, chỉ ra mối quan hệ giữa chất lượng lao động gắn với
3


công tác đào tạo, giữa xu hướng và nhu cầu thực tế, từ đó đưa ra các chính sách đào
tạo trong thời gian tới để đáp ứng yêu về nguồn nhân lực có chất lượng trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Để đạt được mục tiêu đó, nhiệm vụ của Tiểu luận là phải giải quyết được
những vấn đề cơ bản sau:
+ Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về nguồn nhân lực.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực và công tác đào tạo nhân
lực của tỉnh Đắk Lắk. trong những năm qua.
+ Từ đó rút ra một số kết luận về vấn đề nghiên cứu để đề xuất các chính sách,
các giải pháp cải thiện trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là thực trạng về nguồn nhân lực và công tác đào tạo
nhân lực.
- Phạm vi nghiên cứu được xác định trong phạm vi tỉnh Đắk Lắk.
4. Bố cục Tiểu luận
Tiểu luận này gồm 03 Chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu.
- Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực và công tác đào tạo nhân lực của tỉnh
Đắk Lắk trong thời gian qua.
- Chương 3: Kết luận và kiến nghị..

4


nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và phát triển sản xuất, tạo ra
nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp cho sự phát triển tự do toàn diện của con
người trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội.
5


- Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học và công nghệ phát triển nhanh đạt
trình độ tiên tiến hiện đại. Tăng cường lực lượng vật chất - kỹ thuật cho quốc
phòng, an ninh; bảo đảm đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ngày càng
được cải thiện. Tạo điều kiện vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ,
đủ sức thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế.
2. Nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được nghiên cứu nhiều khía cạnh.
Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng
lao động, như vậy nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Theo nghĩa
rộng nguồn nhân lực gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên, nó là tổng hợp những
cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực được xem xét ở hai giác độ là số lượng và chất lượng nguồn
nhân lực :
- Về mặt số lượng nguồn nhân lực: biểu hiện ở số người lao động hay số
lượng giờ lao động thực hiện trong các lĩnh vực của nền kinh tế. Số lượng lao động
phụ thuộc vào quy mô dân số, cơ cấu dân số theo độ tuổi, theo giới tính, tỷ lệ nguồn
nhân lực trong tổng dân số, số giờ làm việc trong tuần cũng như số tuần làm việc
trong năm.
- Về mặt chất lượng nguồn nhân lực: biểu hiện cuối cùng được thể hiện ở
năng suất lao động xã hội. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, chất lượng
càng cao sẽ cho năng suất lao động cao hơn. Có thể quy các nhân tố ảnh hưởng đến
chất lượng lao động thành ba nhóm chủ yếu sau:
+ Nhóm 1 bao gồm những hành vi và giá trị người lao động, ví dụ như sự tận
tụy với công việc, có tinh thần vượt khó trong công việc, kỷ luật lao động tốt, …

hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trí lực, thể lực, phẩm chất đạo
đức); đồng thời là sự điều chỉnh, phân bổ hợp lý nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.

7


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN
LỰC CỦA ĐẮK LẮK TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA

I. Khái quát về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của Đắk Lắk:
1. Điều kiện tự nhiên:
Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh
Gia Lai qua quốc lộ 14, Phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà qua quốc lộ 26, phía Nam
giáp tỉnh Đắk Nông và phía Tây giáp vương quốc Campuchia thông qua cửa khẩu
kinh tế Đăk Ruê.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 13.125 km2, chiếm khoảng 24% diện tích toàn
vùng Tây Nguyên. Đại bộ phận diện tích của tỉnh Đắk Lắk nằm ở phía Tây Trường
Sơn, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc. Địa hình đa dạng đồi núi xen
kẽ bình nguyên và thung lũng.
2. Kinh tế - xã hội
Tiềm năng phát triển kinh tế: Thành phố Buôn Ma Thuột là trung tâm chính
trị, kinh tế văn hoá xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên. Trung tâm thành phố là
điểm giao cắt giữa quốc lộ 14 với quốc lộ 26 và quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với
các thành phố Nha Trang, Đà Lạt và Pleiku. Đắk Lắk là đầu mối giao lưu rất quan
trọng nối liền các trung tâm kinh tế của cả nước như Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí
Minh. Đây là động lực lớn, thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh cũng như toàn vùng Tây
Nguyên phát triển. Mạng lưới giao thông liên huyện, liên xã và các tuyến nội thị, thị
trấn, giao thông nông thôn cơ bản đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng

30% dân số toàn tỉnh. Mật độ dân số trung bình toàn tỉnh là 132 người/km 2, nhưng
phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma
Thuột, thị trấn huyện lỵ, ven các trục quốc lộ. Các dân tộc thiểu số sinh sống ở
125/184 xã trên địa bàn tỉnh, nhưng phần lớn tập trung ở các xã vùng cao, vùng xa.
Ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông khác dân di cư từ các tỉnh phía
Bắc và miền Trung đến.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình hàng năm giảm từ 24,4% năm 2000
xuống còn 14,2% vào năm 2008, có xu hướng giảm, ước tính đến năm 2020 dân số
của tỉnh khoảng 2 triệu người. Trong những năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có
biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân ngoài kế hoạch, điều này đã gây nên
sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các vấn đề đời sống xã hội,
an ninh trật tự và môi trường sinh thái.
2. Lực lượng lao động:
Quan sát tình hình phát triển lực lượng lao động của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn
2001-2010 ta thấy:
9


Bảng 2.1: Lực lượng lao động theo ngành và trình độ học vấn
Chỉ tiêu
Tổng số
Chưa biết chữ
Chưa TN tiểu học
Tốt nghiệp tiểu học
Tốt nghiệp THCS
Tốt nghiệp THPT
A. NLN, thủy sản
Chưa biết chữ
Chưa TN tiểu học
Tốt nghiệp tiểu học

27.091 43.554 58.599
33.803 50.574 68.287
3.503
3.897
3.483
9.433 12.337 14.542
11.959 17.288 22.935
7.083 12.957 20.633
1.825
4.095
6.694
98.397 130.496 173.079
9.509
6.989
897
21.642 27.616 28.642
35.566 45.674 58.131
20.008 32.677 50.996
11.673 17.540 34.413

Cơ cấu (%)
2001
2005
100,0
100,0
10,3
7,6
27,2
24,0
36,0

100,0
9,7
5,4
22,0
21,2
36,1
35,0
20,3
25,0
11,9
13,4

2010
100,0
4,8
20,8
33,6
30,3
10,6
100,0
5,7
21,8
33,6
30,5
8,4
100,0
5,1
21,3
33,6
30,2

22,4
37,4
Hệ dạy nghề
1. Đào tạo ngắn hạn
34.671
40.750
75.387 5,002 5,079
8,000
2. Công nhân kỹ thuật
57.376
63.715 162.727 8,278 7,942 17,269
3. Sơ cấp nghề
10.587
14.726
19.654 1,527 1,836
2,086
4. Trung cấp nghề
5.833
7.954
14.583 0,842 0,991
1,548
5. Cao đẳng nghề
126
521
1.158 0,018 0,065
0,123
Hệ đào tạo
6. TC chuyên nghiệp
19.015
22.648

tỉnh tăng trên 249,1 ngàn người so với năm 2001, bình quân trong 10 năm qua, mỗi
năm tăng khoảng 3,12%/năm.
- Trình độ học vấn của lực lượng lao động có sự chuyển biến tích cực. So với
năm 2001, năm 2010 số lao động không biết chữ giảm 5,5%; chưa tốt nghiệp tiểu
học giảm 6,4%; tốt nghiệp tiểu học giảm 2,4%; tốt nghiệp trung học cơ sở tăng
9,6% và tốt nghiệp trung học phổ thông tăng 4,7%.
- Lao động chất lượng cao (lao động qua đào tạo) năm 2010 chiếm 37,4% tổng
lực lượng lao động, tăng 15% so với năm 2005 và tăng 16,9% so với năm 2001. Tuy
nhiên, lao động qua đào tạo chủ yếu tăng ở các trình độ tương đối thấp như đào tạo
ngắn hạn dưới 3 tháng (tăng hơn 38,8 ngàn người), công nhân kỹ thuật (tăng gần
102,7 ngàn người) và trung cấp chuyên nghiệp (tăng gần 11,6 ngàn người). Số lượng
lao động có trình độ dạy nghề từ sơ cấp đến cao đẳng nghề và giáo dục chuyên
nghiệp trên đại học còn khá hạn chế.
3. Phân bổ lao động trong các ngành kinh tế
Tổng hợp số liệu phân bổ lao động trong nền kinh tế và trong từng ngành
kinh tế của tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2001-2010 như sau:
Bảng 2.3: Phân bổ lao động qua đào tạo theo ngành kinh tế
Chỉ tiêu

I- Toàn bộ nền kinh tế
1. Tổng GDP - giá SS 1994
Tốc độ tăng trưởng
2. Tổng lực lượng lao động
- Chưa qua đào tạo
Tỷ lệ so tổng lực lượng lao động
- Đã qua đào tạo
Tỷ lệ so tổng lực lượng lao động
II. Chia theo ngành kinh tế
1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
- GDP nông, lâm nghiệp, thủy sản

802.245
622.335
77,6
179.910
22,4

12.826.845
12,4
942.329
590.367
62,6
351.962
37,4

Tỷ đồng
%
Người
%

4.083.719
7,9
534.310
77,1

4.771.124
1,7
605.739
75,5

6.382.352

- Tổng lao động trong ngành
Tỷ lệ so tổng lực lượng lao động
+ Chưa qua đào tạo
Tỷ lệ so tổng lao động trong ngành
+ Đã qua đào tạo
Tỷ lệ so tổng lao động trong ngành
3. Dịch vụ

Tỷ đồng
%
Người
%
Người
%
Người
%

395.861
11,7
54.287
7,8
36.277
66,8
18.010
33,2
104.529

938.789
37,6
66.232

8,1
104.529
15,1
60.456
47,1
44.073

1.525.255
16,9
130.274
16,2
68.319
48,8
61.955

4.188.560
20,6
164.745
17,5

52,9

51,2

73,3

%

38.890
43,3

Sự đồng biến này cũng thể hiện tương tự khi xem xét mối quan hệ giữa lao động với sự
phát triển của từng ngành kinh tế. Điều này phù hợp với qui luật và thực tế khách quan
về mối quan hệ giữa lực lượng lao động và phương thức sản xuất.
- Tác động tích cực của sự gia tăng lược lượng lao động qua đào tạo và tỷ lệ
kết hợp lao động ở các trình độ khác nhau trong từng ngành kinh tế của tỉnh Đắk
Lắk là khác nhau. Trong đó, tác động đối với ngành dịch vụ là mạnh nhất, ngành
nông, lâm nghiệp, thủy sản thấp nhất. Đây cũng là điều phù hợp với xu thế chung
của các nền kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là điểm rất cần
lưu ý trong quá trình hoạch định các chính sách đào tạo và phân bổ nguồn nhân lực
trong quá trình điều hành phát triển kinh tế của tỉnh Đắk Lắk nói riêng và của cả
nước nói chung.
III. Thực trạng về đào tạo nguồn nhân lực:
1. Giáo dục phổ thông:
Hệ thống và quy mô trường lớp phổ thông của Đắk Lắk được mở rộng, mạng
lưới trường, lớp học được phát triển hầu hết ở thôn, bản, xã trong tỉnh. Theo số liệu
thống kê năm học 2010-2011 toàn tỉnh có 410 trường tiểu học (tăng 50 trường so
với năm học 2005-2006), 220 trường THCS (tăng 40 trường so với năm học 20052006) và 52 trường THPT (tăng 23 trường so với năm học 2005-2006);
Quy mô phát triển giáo dục phổ thông của Đắk Lắk trong 5 năm qua đi vào
ổn định, số lượng học sinh có xu hướng giảm từ 468,8 nghìn học sinh vào năm học
2005-2006 (trong đó có 152.6 nghìn học sinh dân tộc thiểu số, chiếm 30,7%) còn
396,2 nghìn học sinh vào năm học 2010-2011 (trong đó có 125,5 nghìn học sinh
dân tộc thiểu số, chiếm 31,7%). Số lượng học sinh giảm là do đã thực hiện tốt công
tác Dân số, Kế hoạch hoá Gia đình và chuyển cư nên tỷ lệ sinh giảm, tạo điều kiện
huy động tối đa học sinh đến trường. Mặc dù số học sinh giảm nhưng số lượng
trường lớp lại tăng đáng kể, cơ sở vật chất được cải thiện đã góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực. Cùng với việc mở rộng mạng lưới trường lớp học, hệ
thống hệ phổ thông dân tộc nội trú cũng được củng cố nhằm tạo điều kiện cho con
em đồng bào dân tộc thiểu số đi học nên tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số đã tăng lên
rõ rệt (tỷ lệ học sinh DTTS năm học 2005-2006 chiếm 30,6%, năm học 2010-2011
là 31,7%)

đẳng văn hóa nghệ thuật và 02 Trường Cao đẳng nghề, hàng năm số lượng học sinh
tốt nghiệp tại các Trường Cao đẳng này là khoảng 2.000 học sinh hệ Cao đẳng, hơn
1.000 học sinh hệ Trung cấp và 900 học sinh hệ Sơ cấp nghề.
- Đại học và sau Đại học: Toàn tỉnh hiện có 01 Trường Đại học và 02 phân
hiệu các trường Đại học ngoài tỉnh với qui mô đào tạo hàng năm là gần 20.000 sinh
viên Đại học. Như vậy, số lượng sinh viên tốt nghiệp Đại học tại các trường trên địa
bàn tỉnh là khoảng 5.000 người, trong đó hơn 30% là sinh viên sinh sống tại Đắk
14


Lắk. Trong những năm gần đây, Trường Đại học Tây Nguyên đã liên kết với các
Trường Đại học lớn trong nước để đạo tạo hệ Cao học, với qui mô hàng năm có
khoảng 200 học viên tốt nghiệp Cao học.
Ngoài ra, giáo dục Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học còn được
tổ chức đào tạo theo mô hình liên kết với các trường khác ngoài tỉnh. Hiện nay, các
trường Trung cấp chuyên nghiệp của tỉnh đã đào tạo 22 mã ngành, các trường Đại
học, Cao đẳng của tỉnh và các trường ngoài tỉnh liên kết với các cơ sở giáo dục của
tỉnh đang đào tạo nhiều chuyên ngành đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
phù hợp với khả năng, điều kiện, nguyện vọng và trình độ của người học.
4. Đánh giá về thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời
gian qua:
a) Những kết quả đạt được:
- Đã mở rộng quy mô đào tạo, mạng lưới trường, lớp học của các cấp học
được qui hoạch và phát triển cơ bản phù hợp với những điều kiện địa lý và dân cư.
- Giáo dục dân tộc được đặc biệt quan tâm, hệ thống các trường phổ thông
dân tộc nội trú, nội trú dân nuôi được thành lập, đáp ứng yêu cầu học tập của đồng
bào các dân tộc và tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số.
- Giáo dục Trung học phát triển và dần ổn định, đã hoàn thành phổ cập trung
học cơ sở vào tháng 10/2009. Các chỉ tiêu về quy mô, chất lượng, hiệu quả giáo
dục, phổ cập, giáo dục dân tộc đạt kế hoạch đề ra.

đào chưa đáp ứng yêu cầu thực tế của người sử dụng lao động. Vì vậy, học sinh,
sinh viên tốt nghiệp ra trường khó tìm kiếm được việc làm phù hợp với ngành nghề
được đào tạo;
- Đào tạo nghề trong giáo dục phổ thông chưa được quan tâm đúng mức, còn
mang tính hình thức. Nội dung, chương trình đào tạo chưa phong phú, không phù
hợp với yêu cầu thực tế; cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên không đáp ứng yêu cầu
đào tạo;
- Cơ cấu ngành nghề đào tạo của các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao
đẳng và đại học trên địa bàn tỉnh chưa gắn liền với nhu cầu sử dụng lao động của
tỉnh, đặc biệt là các trung cấp chuyên nghiệp chưa thật sự thu hút được học sinh.
Các trường vẫn chủ yếu là đào tạo các ngành sư phạm, kế toán, tài chính, kinh tế,
dịch vụ…, số học sinh được đào tạo các ngành kỹ thuật, nông lâm nghiệp còn ít và
phần lớn học xong trung cấp chuyên nghiệp lại tiếp tục học lên cao đẳng, đại học;
- Chưa có các chương trình khảo sát, đánh giá và dự báo nhu cầu của thị
trường lao động trong tỉnh để có kế hoạch lựa chọn các ngành nghề và đưa ra các
chính sách đào tạo phù hợp với nhu cầu.
- Các chương trình tư vấn lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh chưa được trú
trọng. Bên cạnh đó thì sự phối hợp giữa các đơn vị, doanh nghiệp tuyển dụng lao
động với các cơ sở đào tạo chưa được thực tốt. Từ đó việc các trường tuyển sinh và
16


đào tạo theo khả năng của trường và thị hiếu của người học, chưa phù hợp với nhu
cầu tuyển dụng của các đơn vị, doanh nghiệp. Dẫn đến tình trạng nhiều người làm
việc trái với lĩnh vực, ngành nghề được đào tạo là khá phổ biến.
- Năng lực chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng dạy thực hành của đội ngũ giáo
viên còn yếu. Số lượng giáo viên trong một số ngành nghề đào tạo, nhất là các
ngành kỹ thuật, công nghệ, cơ khí, chế tạo, nông lâm nghiệp còn thiếu giáo viên
giỏi;
CHƯƠNG 3

ngành đào tạo về kỹ thuật, công nghiệp, cơ khí ..., hiện đang còn thiếu và yếu;
Thứ hai, coi trọng chất lượng giáo dục phổ thông trên cả hai nội dung dạy
chữ và rèn luyện nhân cách, dạy làm người. Trên cơ sở bảo đảm đội ngũ giáo viên,
điều kiện dạy và học để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục đại học,
cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp;
Thứ ba, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các
trường, đặc biệt là các phòng học bộ môn, phòng thí nghiệm thực hành và đào tạo
nghề, để đáp ứng yêu cầu “học đi đôi với hành”;
Thứ tư, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo cho phù hợp với yêu cầu
thực tế của người sử dụng lao động, theo hướng trú trọng đến kỹ năng thực hành;
Điều chỉnh cơ cấu ngành nghề đào tạo của các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao
đẳng và đại học để gắn liền với nhu cầu sử dụng lao động của tỉnh;
Thứ năm, lựa chọn những cán bộ trẻ có trình độ và năng lực để đào tạo ở
nước ngoài đối với một số ngành, lĩnh vực quan trọng, đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế thế giới. Có chính sách khuyến khích phát triển nhân tài, đồng thời đãi ngộ
các giáo viên giỏi đến giảng dạy tại địa phương;
Thứ sáu, có những chính sách tuyển dụng lao động phù hợp giữa yêu cầu
công việc và trình độ lao động để vừa tránh lãng phí lao động và khuyến khích
người học lựa chọn ngành nghề phù hợp với nhu cầu;
Thứ bảy, thực hiện các chương trình khảo sát, đánh giá và dự báo nhu cầu
của thị trường lao động trong tỉnh trong thời gian tới để có kế hoạch đầu tư cho các
cơ sở đào tạo các ngành nghề và đưa ra các chính sách đào tạo phù hợp với nhu cầu;
Thứ tám, trú trọng đến các chương trình tư vấn lựa chọn nghề nghiệp cho
học sinh phổ thông để định hướng cho các em lựa chọn ngành nghề, trình độ đào
tạo phù hợp với khả năng của học sinh và nhu cầu của thị trường lao động;
Thứ chín, tiếp tục củng cố và phát triển hệ thống các trường ngoài công lập ở
tất cả các ngành học, bậc học. Có chính sách và biện pháp huy động sự đóng góp từ
phía người sử dụng lao động thông qua việc liên kết đào tạo giữa nhà trường và
18



20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status