Khảo sát khả năng sản xuất của gà Broiler Ross 308 nuôi chuồng kín tại nông hộ xã Phấn Mễ huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN ĐỨC VÔN
Tên đề tài:
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ BROILER ROSS 308
NUÔI CHUỒNG KÍN TẠI NÔNG HỘ XÃ PHẤN MỄ
HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Hệ chính quy

Chuyên ngành

: Chăn nuôi Thú y

Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khoá học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRẦN ĐỨC VÔN
Tên đề tài:
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ BROILER ROSS 308
NUÔI CHUỒNG KÍN TẠI NÔNG HỘ XÃ PHẤN MỄ
HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Lớp
Khoá học
Giảng viên hướng dẫn

: Hệ chính quy
: Chăn nuôi Thú y
: Chăn nuôi Thú y
: 43 - Chăn nuôi Thú y
: 2011 - 2015
: TS. Trương Hữu Dũng

Thái Nguyên, năm 2015


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 24

CP

: Protein thô

ĐVT

: Đơn vị tính

FRCcum : Tiêu tốn thức ăn trên kg tăng khối lượng cộng dồn
FRCw

: Tiêu tốn thức ăn trên kg tăng khối lượng trong tuần

KL

: Khối lượng

ME

: Năng lượng trao đổi

SS

: Sơ sinh

STT

: Số thứ tự

TCVN

1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................ 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa thực tiễn ..................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa khoa học .................................................................................... 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................... 3
2.1.1. Đặc điểm sinh học về gia cầm ................................................................ 3
2.1.2. Khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm ............................................. 5
2.1.3. Cơ sở khoa học về sinh trưởng và cho thịt của gia cầm ......................... 6
2.1.3.1. Đặc điểm sinh trưởng của gia cầm....................................................... 6
2.1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng .................................................... 7
2.1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm ............ 9
2.1.3.4. Khả năng cho thịt của gia cầm ........................................................... 16
2.1.3.5. Sức sống và khả năng miễn dịch của gia cầm ................................... 18
2.1.4. Đặc điểm của gà Broiler Ross 308 ........................................................ 19
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước .................................. 20
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 20


vi

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới........................................................ 21
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 23
3.2. Địa điểm thời gian tiến hành nghiên cứu .............................................. 23
3.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................. 23
3.4. Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi ....................................... 23
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 23

đàn gà thí nghiệm ............................................................................................ 48
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................... 50
5.1. Kết luận ................................................................................................ 50
5.2.Tồn tại và đề nghị .................................................................................. 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Tài liệu tiếng Việt
II. Tài liệu tiếng nước ngoài


1

Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi có xu hướng phát triển
mạnh mẽ, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm đang giữ một vai trò quan trọng
trong việc cung cấp các sản phẩm có giá trị như: thịt, trứng… cho nhu cầu
của xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày
càng nâng cao, nhu cầu về thực phẩm đòi hỏi lớn hơn, ngon hơn. Do đó, đã
thúc đẩy chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng phát
triển đạt năng suất cao, sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu
dùng. Với những giống gà có khả năng sản xuất thịt cao đưa vào chăn nuôi
theo hướng công nghiệp như: Ross 208, Ross 308, AA… đem lại hiệu quả
kinh tế cao và là nguồn thu lớn cho nhiều chủ trang trại chăn nuôi gà theo
hướng công nghiệp
Gà Ross là giống gà công nghiệp siêu thịt của Scotland (Vương quốc
Anh) được nhập vào Việt Nam từ hơn chục năm nay, gà Ross gồm nhiều
dòng để tạo tổ hợp lai như: Ross 208, Ross 308, Ross 508…qua thí nghiệm
và thực tế sản xuất cho thấy gà Ross 308 có tốc độ sinh trưởng nhanh, năng



3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh học về gia cầm
Gia cầm có nguồn gốc từ loài chim hoang dại. Gia cầm có nhiều đặc điểm
giống với bò sát đồng thời khác với gia súc và thú hoang là có bộ xương nhẹ,
thân phủ lông vũ, chi trước phát triển thành cánh để bay và là loài đẻ trứng
sau ấp nở thành gia cầm non. Quá trình trao đổi chất của gia cầm lớn thân
nhiệt cao (40 – 420C) nhờ đó mà gia cầm sinh trưởng nhanh.
Gia cầm có cấu tạo đầy đủ các cơ quan bộ phận như: hệ tiêu hóa, hô hấp,
bài tiết, tuần hoàn, sinh dục. Những cấu tạo giải phẫu sinh lý của gia cầm lại
có nhiều đặc điểm khác với gia súc. Đặc biệt là hệ hô hấp và tiêu hóa.
Hệ hô hấp của gia cầm gồm: xoang mũi, khí quản, phế quản phổi và 9 túi
khí chính nhờ đó mà cơ thể gia cầm nhẹ có thể bay được, bơi được, hơn nữa dịch
hoàn của gia cầm nằm trong cơ thể mà quá trình sinh sản vẫn bình thường.
Hệ tiêu hóa cũng có nhiều điểm khác về cấu tạo chức năng.
Hệ tiêu hóa bao gồm: khoang miệng, hầu, thực quản trên, diều, thực quản
dưới, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, manh tràng, trực tràng, lỗ huyệt,
tuyến tụy và gan.
Khoang miệng của gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ chỉ có
vai trò lấy, thu nhận thức ăn, không có tác dụng nghiền nhỏ. Thức ăn vào
miệng được bôi trơn bằng các dịch nhầy ở khoang miệng do tuyến nước bọt
tiết ra, trong nước bọt có enzym tiêu hoá tinh bột α -amilaza nhưng hoạt động
yếu, sau đó thức ăn được nuốt xuống thực quản.
Thực quản phình to tạo thành diều, diều không có tuyến tiết dịch tiêu hoá,
nhưng quá trình tiêu hoá tinh bột vẫn diễn ra nhờ enzym amilaza của nước



5

Thức ăn qua đường tiêu hóa rất nhanh (gà con 2-4h; gà lớn 4-5h), do đặc
điểm này mà khi gà nuốt phải noãn nang cầu trùng thì noãn nang sẽ cùng thức
ăn chuyển theo đường tiêu hóa xuống ruột non, manh tràng, trực tràng, nên
quá trình xâm nhập, gây bệnh của cầu trùng xảy ra nhanh, vòng đời của cầu
trùng ngắn (5-7 ngày).
2.1.2. Khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, việc tạo ra
giống mới có năng suất cao thì chưa đủ, mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn
giàu chất dinh dưỡng phù hợp với đặc tính sinh lý, phù hợp với mục đích sản
xuất của từng giống, dòng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật
nuôi. Gia cầm cũng giống như tất cả các loài vật nuôi khác, chúng đều là sinh
vật tự dưỡng, không có khả năng tổng hợp các chất hữu cơ cần thiết cho sự
sống như: protein, gluxit, lipid... từ những chất vô cơ đơn giản như sinh vật dị
dưỡng, nhu cầu về các chất hữu cơ này của cơ thể gia cầm chỉ có thể được
đáp ứng thông qua thức ăn nhờ quá trình tiêu hóa, hấp thu của hệ tiêu hóa.
Để đánh giá về vấn đề này người ta đưa ra chỉ tiêu: “Tiêu tốn thức ăn cho
một kg tăng khối lượng”. Nếu tăng khối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng
hoá, dị hoá tốt hơn, khả năng trao đổi chất cao, do vậy hiệu quả sử dụng thức
ăn cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp. Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản
phẩm là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, chỉ tiêu này càng thấp thì hiệu
quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Bằng thực nghiệm đã chứng minh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: Giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ, chế độ
chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khỏe của đàn gia cầm.
Hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng
với tiêu tốn thức ăn thường rất cao được Chambers J. R (1984) [24] xác định

của các tế bào) giai đoạn này sinh trưởng được chia làm hai thời kì: thời kì gà
con và thời kì gà trưởng thành.


7

Thời kì gà con: thời kì này lượng tế bào tăng mạnh nên quá trình sinh
trưởng diễn ra rất nhanh, một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh
như các men tiêu hóa chưa đầy đủ, khả năng điều tiết thân nhiệt kém, gà con
dễ bị ảnh hưởng bởi thức ăn và nuôi dưỡng. Vì vậy thức ăn và nuôi dưỡng
trong thời kì này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm. Thời
kì này còn diễn ra quá trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của
gia cầm, nó làm tăng trao đổi chất. Cho nên cần chú ý vấn đề nuôi dưỡng dặc
biệt là các chất dinh dưỡng có trong thức ăn.
Thời kì trưởng thành: thời kì này các cơ quan trong cơ thể gia cầm gần
như đã phát triển hoàn thiện. Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình
phát dục. Quá trình tích lũy chất dinh dưỡng của gia cầm một phần là để duy
trì sự sống, một phần để tích mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kì gà con.
Vì vậy giai đoạn này cần xác định tuổi giết mổ thích hợp để có hiệu quả kinh
tế cao.
Trong chăn nuôi gia cầm, việc nghiên cứu sinh trưởng đầu tiên là phải xác
định khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi. Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh
giá sinh trưởng.
2.1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình sinh lý phức tạp, khá dài, từ lúc thụ tinh đến khi
trưởng thành. Do vậy việc xác định chính xác toàn bộ quá trình sinh trưởng
không phải dễ dàng. Tuy nhiên các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng
sử dụng cách đo đơn giản và thực tế. Theo Chamber J. R. (1990) [24], để
đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người ta thường dùng các chỉ tiêu chính
như kích thước cơ thể, sinh trưởng tích lũy, tốc độ sinh trưởng (sinh trưởng

g/con/tuần, đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol. Giá trị sinh trưởng
tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.
Tốc độ sinh trưởng tương đối là tỉ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng,
kích thước cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc đầu khảo sát (TCVN - 2.40,
1997) [17]. Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hyperbol. Gà còn non tốc độ
sinh trưởng tương đối cao, sau đó giảm dần theo tuổi.


9

Tốc độ sinh trưởng vật nuôi phụ thuộc vào loài, giống, giới tính, đặc điểm
cơ thể và điều kiện môi trường.
Đường cong sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng dùng để biểu thị tốc độ sinh trưởng của gia súc,
gia cầm nói chung. Chambers J. R. (1990) [24] cho biết: đường cong sinh
trưởng của gà thịt gồm 4 pha mỗi pha có đặc điểm như sau.
Pha sinh trưởng tích lũy: tăng tốc nhanh sau khi nở
Điểm uốn của đường cong tại thời điểm sinh trưởng có tốc độ cao nhất.
Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần theo điểm uốn.
Pha sinh trưởng tiệm cận có giá trị khi gà trưởng thành
Thông thường, người ta sử dụng khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi để
thể hiện đồ thị sinh trưởng tích lũy và cho biết một cách đơn giản nhất về
đường cong sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng không chỉ sử dụng để chỉ rõ về số lượng mà còn
chỉ rõ về chất lượng, sự sai khác giữa các dòng, các giống, giới tính, điều kiện
nuôi dưỡng, chăm sóc, môi trường.
2.1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà với những mức độ
khác nhau như di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông, các điều kiện môi trường,
nuôi dưỡng chăm sóc…

sự, 1996) [10].
Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cộng sự (1994) [5], thì sự sai khác về khối
lượng cơ thể giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà
hướng trứng từ 500 - 700 g (13 - 30%).
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự khác biệt về sinh trưởng
là do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen quy định khả
năng sinh trưởng liên kết với giới tính, cho nên con trống thường lớn hơn con


11

mái. Điều này chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh
trưởng của gia cầm.
- Ảnh hưởng của tính biệt
Ở gia cầm tốc độ sinh trưởng giữa con trống và con mái có sự khác
nhau về trao đổi chất, đặc điểm sinh lý, tốc độ sinh trưởng và khối lượng
cơ thể. Thường thì con trống có tốc độ sinh trưởng mạnh hơn gà mái. Sự
khác nhau này được giải thích qua tác động của các gen liên kết giới tính.
Tác giả Jull F. A (1972) [28], cho biết gà trống có tốc độ sinh trưởng khác
gà mái từ 24- 32%, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính)
hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính). Theo M. O. North
và cộng sự (1990) [29] ở cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng giống nhau
thì gà trống thường sinh trưởng nhanh hơn gà mái. Lúc mới nở gà trống
nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn; ở 3 tuần tuổi
là >11%, 7 tuần tuổi là > 23%, 8 tuần tuổi là > 27%. Ở gà hướng thịt giai
đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250g (Nguyễn Duy
Hoan và cộng sự 1998) [4]. Sự khác nhau này là do nhiều nguyên nhân như
quá trình trao đổi chất, đặc điểm sinh lý giữa 2 giới là khác nhau. Như vậy
gà trống và gà mái đòi hỏi mức năng lượng và protein khác nhau cho quá
trình sinh trưởng và phát triển.



13

gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô
này với mô khác. Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng
mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng
- Ảnh hưởng của điều kiện môi trường
Gà thịt thương phẩm đặc biệt nhất là giống gà cao sản có tốc độ sinh
trưởng và phát triển rất mạnh, nhưng sức đề kháng của cơ thể với môi trường
sống kém hơn, vì vậy nó chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố môi trường
như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng, mật độ nuôi…
Theo Newmeister H. (1978) [12], cho biết: các yếu tố môi trường như quá
nóng, quá lạnh, ẩm độ quá cao hay quá thấp, mật độ nuôi quá đông, độ thông
thoáng kém sẽ gây tác động xấu đến quá trình sinh trưởng của gia cầm.
+ Nhiệt độ môi trường:
Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng rất rõ rệt, đặc
biệt là giai đoạn gà con. Với gà Broiler và gà hậu bị, nhiệt độ ngày thứ nhất
cần đảm bảo 32 - 340C; từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 7 là 300C; tuần thứ hai là
260C; tuần thứ ba là 220C; tuần thứ tư là 200C. Theo Lê Hồng Mận và cộng sự
(1993) [9] thì nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là
18 - 200C. Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME)
và protein thô (CP) của gà Broiler, do vậy tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi
phối của nhiệt độ môi trường. Trong điều kiện nhiệt độ khác nhau thì mức
tiêu thụ thức ăn của gà cũng khác nhau.
Theo Herbert G. J và cộng sự (1983) [27] thì nhiệt độ chuồng nuôi có ảnh
hưởng tới gà sau 3 tuần tuổi như sau: Thay đổi 10C tiêu thụ năng lượng của gà
mái biến đổi tương đương 2 Kcal ME. Trong điều kiện khí hậu nước ta, theo
Bùi Đức Lũng và cộng sự 1993 [6] thì gà Broiler nuôi vụ hè cần phải tăng
mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10 - 15%.



15

Theo Bùi Đức Lũng và cộng sự (1993) [6], gà Broiler phải được chiếu
sáng 23-24 h/ngày với cường độ chiếu sáng 4 w/m2 nền chuồng, cường độ
này giảm dần đến 21 ngày tuổi chỉ cần 1,7 w/m2 nền chuồng. Như vậy để
thúc đẩy quá trình sinh trưởng và sức sản xuất của gia cầm chúng ta cần
có chế độ chiếu sáng thích hợp cho từng gia cầm, với từng phương thức
chăn nuôi.
+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi
Mật độ nuôi có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà. Mỗi giai
đoạn sinh trưởng, mỗi phương thức nuôi đều có quy định mật độ nuôi nhất
định (phương thức chăn thả tự do, bán nuôi nhốt, nuôi nhốt trên đệm lót dày,
nuôi nhốt có sân chơi yêu cầu mật độ lần lượt: 0,1; 0,3; 0,35; 0,2 m2/con…).
Nếu gà nuôi với mật độ quá cao sẽ sản sinh ra nhiều khí độc như NH3, H2S,
CO2… làm gà thiếu oxy làm ảnh hưởng tới quá trình trao đổi chất của chúng.
Mật độ quá cao còn làm độ ẩm chuồng nuôi tăng lên, là môi trường thuận lợi
cho các mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào cơ thể làm giảm khả năng tăng
trọng. Nhưng ngược lại, nếu nuôi gà với mật độ quá thấp sẽ làm giảm hiệu
quả kinh tế trong chăn nuôi. Như vậy, để gà sinh trưởng và phát triển tốt đem
lại hiệu quả kinh tế cao chúng ta cần nuôi gà với mật độ hợp lý. Mật độ nuôi
thay đổi phụ thuộc vào lứa tuổi và phương thức chăn nuôi. Tuy nhiên mật độ
chuồng nuôi còn thay đổi tuỳ điều kiện khí hậu từng vùng, điều kiện chuồng
trại và trang thiết bị chăn nuôi của mỗi cơ sở. Ngoài các yếu tố trên thì
phương thức chăn nuôi, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, quá trình vệ sinh phòng
bệnh cũng có ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ sinh trưởng.
+ Ảnh hưởng của mùa vụ
Theo Trần Thanh Vân và cộng sự (2007) [21] Khi nghiên cứu ảnh hưởng
của phương thức nuôi tới khả năng sinh trưởng của gà Sasso thương phẩm có

sai khác di truyền về năng xuất thịt xẻ, các phần của thân thịt (Chambers
J. R. 1990) [24]. Khi so sánh giữa các giống gà đẻ dòng nặng cân với gà


Trích đoạn Tình hình nghiên cứu trên thế giới Sinh trưởng tương đối Tiêu tốn thức ăn, năng lượng trao đổi và protein thô/ kg tăng khố Kết quả theo dõi về tình hình nhiễm một số bệnh và kết quả diều trị trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status