Một số nhân tố tác động đến tính tích cực học tập Của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội hiện nay - Pdf 34

Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội & nhân văn
Khoa xã hội học

Trần Phú Mừng

Một số nhân tố tác động đến tính tích cực học tập Của học viên
đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở học viện chính trị quân sự hiện
nay

Luận văn thạc sỹ xã hội học

Hà Nội - 2005


1
Đại học quốc gia hà nội
Trường đại học khoa học xã hội & nhân văn
Khoa xã hội học

Trần Phú Mừng

Một số nhân tố tác động đến tính tích cực học tập Của học viên
đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở học viện chính trị quân sự hiện
nay

chuyên ngành xã hội học
mã số: 5.01.09

Luận văn thạC sỹ xã hội học



5

6. Khung lý thuyết

7

Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc luận giải sự tác
động của các nhân tố đến tính tích cực học tập của học viên đào
tạo sĩ quan trong các nhà trường quân đội
1.1. Các khái niệm trung tâm
1.2. Một số vấn đề về lý luận
1.3. Một số vấn đề về tổng quan nghiên cứu

9
9
12
26

Chương 2. Thực trạng tác động của một số nhân tố đến tính
tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Học
viện Chính trị quân sự hiện nay

33

2.1. Mô tả địa bàn nghiên cứu và phương pháp điều tra khảo sát
thực tế

33


Kết luận
Khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo

89
94
94
96
101


2
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Sĩ quan quân đội là lực lượng rường cột của quân đội, quyết định sức
mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội. Để xây dựng đội ngũ sĩ quan
đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thời kỳ
mới, trước hết phải nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo sĩ quan cấp phân
đội. Trong các yếu tố làm nên chất lượng đào tạo sĩ quan, tính tích cực học
tập của người học (học viên) là một yếu tố quan trọng, vì họ là chủ thể của
quá trình nhận thức. Phân tích, đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến
tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan là một vấn đề có ý nghĩa và
tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Học viện Chính trị quân sự là trung tâm đào tạo cán bộ chính trị của
quân đội. Trong quá trình đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, Học
viện đã chú trọng tìm các giải pháp nhằm phát huy tính tích cực học tập của
đội ngũ học viên. Trên thực tế, các giải pháp đó đã mang lại nhiều thành tựu
trong giáo dục đào tạo và cho những bài học kinh nghiệm thiết thực, cần tiếp
thu và nhân rộng. Tuy nhiên, yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo theo hướng

tập cho học viên.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc luận giải sự tác động
của các nhân tố đến tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp
phân đội trong các nhà trường quân đội.
- Phân tích thực trạng tác động của các nhân tố: Tổ chức cơ sở đảng, tổ
chức cơ sở đoàn; Đội ngũ giáo viên; Đội ngũ cán bộ khung; Gia đình học viên
và Tập thể học viên đến tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp
phân đội ở Học viện Chính trị quân sự.


4
- Rút ra kết luận, đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy tính tích
cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Học viện Chính trị
quân sự và trong các nhà trường quân đội.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của một số nhân tố đến tính tích cực
học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân
sự.
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý học viên (cán bộ khung) và học
viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
- Phạm vi điều tra thực tế: Cán bộ khung và học viên đào tạo sĩ quan
cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7 năm 2004 đến tháng 6 năm 2005.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết thứ nhất: Tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ sở đoàn với tính
cách như là các thiết chế xã hội trong quân đội có tác động trực tiếp, thường
xuyên đến tính tích cực học tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.
Giả thuyết thứ hai: Phẩm chất, năng lực sư phạm của đội ngũ giáo viên;
sự sâu sát, mẫu mực của đội ngũ cán bộ khung có tác động đến việc hình thành

- Phương pháp điều tra: Điều tra chọn mẫu, dung lượng mẫu: 400;
chọn mẫu theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên theo các khóa học, mỗi
khoá 100 phiếu.
- Nội dung điều tra: hướng trọng tâm vào tìm hiểu ý kiến đánh giá của
học viên về mức độ tác động của các nhân tố đến sự hình thành tính tích cực
học tập của bản thân họ.
Trao đổi, phỏng vấn sâu
- Trao đổi với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị để tìm hiểu nhận định,
đánh giá của họ về mức độ tác động của các nhân tố đến tính tích cực học tập


6
của học viên đào tạo cấp phân đội. Số cuộc trao đổi là 4, với 4 đơn vị quản lý
học viên.
- Phỏng vấn sâu học viên ở các khoá học để thu thập các ý kiến về sự tác
động của các nhân tố đến tính tích cực học tập của họ. Số lượng 16 học viên,
mỗi khoá 4 học viên.
Ngoài các phương pháp trên, quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các
phương pháp khác như quan sát, hỏi ý kiến chuyên gia, tâm tình trò chuyện
với cán bộ quản lý học viên và học viên vào những thời điểm thuận lợi.
6. Khung lý thuyết
Có nhiều nhân tố tác động đến tính tích cực học tập của học viên đào tạo
sĩ quan cấp phân đội, đề tài chỉ hướng vào phân tích sự tác động của 5 nhân
tố: Tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ sở đoàn (đảng bộ, đảng uỷ, chi bộ, chi uỷ;
chi đoàn); Đội ngũ giáo viên; Đội ngũ cán bộ khung (cán bộ quản lý ở các
tiểu đoàn, đại đội học viên); Gia đình học viên và Tập thể học viên. Nghiên
cứu phân tích, đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến tích tích cực học
tập của học viên đào tạo cấp phân đội là dạng nghiên cứu mối quan hệ mang
tính nhân - quả giữa các hiện tượng xã hội. Do vậy, các nhóm biến số được
phân loại như sau:

trường

Nhận thức

văn
hoá
quân
sự ở

Tính tích
Đội ngũ
giáo viên

cực học
tập của
học viên

nhà

Thái độ
Hành vi
Kết quả
học tập

trường
Gia đình
học viên

Tập thể
học viên

động, trong quân đội thực hiện 3 loại hình đào tạo cơ bản: đào tạo theo chức
danh; đào tạo theo trình độ học vấn; đào tạo kết hợp học vấn và chức danh.
Đào tạo theo chức danh bao gồm: cấp phân đội; cấp chiến thuật, chiến dịch;
cấp chiến lược. Đào tạo theo trình độ học vấn bao gồm: trung cấp; cao đẳng;
đại học; sau đại học. Học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội là đối tượng được
đào tạo theo chức danh và theo trình độ học vấn. Học viên đào tạo sĩ quan
cấp phân đội là những công dân, quân nhân được tuyển chọn vào học trong
các nhà trường quân đội qua các kỳ thi tuyển sinh quân sự hàng năm; sau 4
đến 6 năm đào tạo, tốt nghiệp ra trường được cấp bằng cử nhân, được phong
quân hàm sĩ quan (cấp thiếu uý hoặc trung uý), được bổ nhiệm giữ các chức
vụ ở cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn và tương đương).


9
Học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự
(học viên đào tạo sĩ quan chính trị cấp phân đội). Căn cứ vào đặc điểm, tính
chất hoạt động, sĩ quan quân đội được phân loại thành 3 nhóm: sĩ quan chỉ
huy; sĩ quan chính trị; sĩ quan hậu cần - kĩ thuật. Học viên đào tạo sĩ quan cấp
phân đội ở Học viện Chính trị quân sự là những học viên được đào tạo về
chuyên ngành chính trị, tốt nghiệp ra trường đảm nhiệm hoạt động công tác
đảng, công tác chính trị trong quân đội. Xét về cơ cấu xã hội: tất cả các công
dân Việt Nam, quân nhân không phân biệt về thành phần gia đình, dân tộc,
tôn giáo, lãnh thổ nếu trúng tuyển đều có thể trở thành học viên đào tạo sĩ
quan cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự. Hiện nay, Học viện chỉ đào
tạo các học viên giới tính nam, chưa đào tạo các học viên giới tính nữ. Học
viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự là những
công dân, quân nhân được tuyển chọn qua các kỳ thi tuyển sinh quân sự hàng
năm, được đào tạo trong thời gian 5 năm (tính cả thời gian tạo nguồn, dự
khoá), tốt nghiệp ra trường được cấp bằng cử nhân khoa học xã hội và nhân
văn, được phong quân hàm sĩ quan (thiếu uý hoặc trung uý), được bổ nhiệm

nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ học tập; xác định động cơ, mục đích học tập
đúng đắn; luôn chủ động, tích cực, tự giác, trung thực; có ý chí khắc phục khó
khăn; có tinh thần vô tư, nhiệt tình, đoàn kết, tương trợ trong học tập; tôn
trọng phong trào thi đua học tập của đơn vị; mạnh dạn phê bình, đấu tranh với
những tiêu cực trong học tập. Thứ hai, thường xuyên chấp hành đúng các quy
chế, quy định học tập; hay trao đổi học hỏi thầy, bạn; luôn có sáng kiến, cải
tiến phương pháp học tập, nâng cao năng lực tư duy. Thứ ba, kết quả học tập
trung thực, chính đáng, luôn có xu hướng tiến bộ theo thời gian, tiến bộ đều
trên các mặt trong quá trình phấn đấu học tập, rèn luyện trở thành: đảng viên cử nhân - sĩ quan.
1.1.3. Nhân tố tác động đến tính tích cực học tập của học viên đào
tạo sĩ quan


11
Lý luận xã hội học mác xít đã chỉ ra rằng: con người vừa là sản phẩm
vừa là chủ thể của xã hội. Xét cho cùng, bằng các hoạt động thực tiễn phong
phú, đa dạng của mình con người tạo nên xã hội và hoàn thiện bản thân mình.
Sống trong xã hội, bản thân con người cũng như hoạt động của con người
luôn chịu sự chi phối, tác động của xã hội. Hành động học tập của học viên
đào tạo sĩ quan trong các nhà trường quân đội cũng chịu sự tác động, chi phối
của nhiều nhân tố. Nhân tố tác động đến tính tích cực học tập của học viên
đào tạo sĩ quan là những quá trình, hiện tượng xã hội có khả năng chi phối,
làm cho học viên thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi, kết quả trong quá trình
học tập và rèn luyện. Sự thay đổi này có thể theo hướng tích cực hoặc tiêu
cực tuỳ thuộc vào mức độ và tính chất tác động của từng nhân tố. Căn cứ vào
đặc điểm biên chế, tổ chức hoạt động giáo dục đào tạo trong các nhà trường
quân đội, đề tài lựa chọn các nhân tố: 1. Tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ sở
đoàn; 2. Đội ngũ cán bộ khung; 3. Đội ngũ giáo viên; 4. Gia đình học viên;
5. Tập thể học viên, để phân tích sự tác động của nó đến tính tích tích cực học
tập của học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội.

hiện sự tích cực năng động trong hoạt động của con người.
Lý luận Mác - Lê nin khi bàn về con người đã khẳng định rằng, con
người vừa là chủ thể vừa là sản phẩm của xã hội. Vì con người là chủ thể của
xã hội cho nên, trước hết, muốn hiểu con người phải nghiên cứu những hành
động xã hội thực tiễn của họ. Trong Luận cương về Phoi-ơ-bắc C. Mác đã
phê phán Phoi-ơ-bắc là đã “hoà tan bản chất tôn giáo vào bản chất con
người”. Theo Mác: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố
hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội” [C. Mác và Ph. ăngghen Toàn tập, Tập 3.
Nxb CTQG, H, 1995, tr 11]. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác đã viết:
“Hoàn toàn trái với triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây
chúng ta đi từ dưới đất đi lên trời, tức là chúng ta không xuất phát từ những


13
điều mà con người nói, tưởng tượng, hình dung, chúng ta cũng không xuất
phát từ những con người chỉ tồn tại trong lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng
tượng, trong biểu tượng của người khác, để từ đó mà đi tới những con người
bằng xương bằng thịt; Không, chúng ta xuất phát từ những con người đang
hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện
thực của họ mà chúng ta mô tả sự phát triển của những phản ánh tư tưởng và
tiếng vang trong tư tưởng của đời sống ấy” [Sđd, Tập 3, tr 38]. Và theo Mác,
“sự phong phú thực sự về tinh thần của cá nhân là hoàn toàn phụ thuộc vào sự
phong phú những liên hệ hiện thực của họ” [Sđd, Tập 3, tr 55]. Như vậy, để
tìm hiểu, nghiên cứu bản chất xã hội của con người không thể chỉ căn cứ vào
những đặc điểm tâm lý, sinh lý của con người, càng không thể ngụy biện vin
vào những luận điểm mang tính tôn giáo, vào sự sáng tạo của các đấng siêu
nhiên; cũng không thể hiểu được bản chất đích thực của con người nếu chỉ
nghe những điều họ nói, tưởng tượng và hình dung, mà phải thông qua việc
phân tích hoạt động hiện thực của con người để mô tả, làm rõ bản chất xã hội

chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, còn tồn tại chế độ người áp bức
bóc lột người, thì trong mọi hoạt động lao động sản xuất con người luôn có
nguy cơ bị tha hoá, có nghĩa là, tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong các
hoạt động của con người bị hạn chế, thậm chí bị thủ tiêu. Trong tác phẩm Góp
phần phê phán khoa kinh tế - chính trị, C. Mác viết: “Phương thức sản xuất
đời sống vật chất quy định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh
thần nói chung. Không phải ý thức của con người quy định tồn tại của họ; trái
lại, tồn tại xã hội của họ quy định ý thức của họ”. Trong tác phẩm Lút-vích
Phoi-ơ-bắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph. ăngghen viết: “Tất
cả những cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua
đầu óc họ; nhưng cái đó mang hình thức nào ở trong đầu óc con người thì tuỳ
thuộc nhiều vào các hoàn cảnh” [Sđd, Tập 21, tr 438].
Từ tư tưởng của C. Mác, Ph. ăngghen, có thể rút ra vấn đề có ý nghĩa
phương pháp luận là, con người chỉ có thể hoạt động tích cực, chủ động, sáng


15
tạo trong điều kiện có môi trường xã hội lành mạnh, môi trường đó tạo điều
kiện cho mọi ý tưởng, niềm tin, sự say mê, sáng tạo của con người được phát
huy. Trong nghiên cứu xã hội học về con người, nhất thiết phải phân tích các
yếu tố có khả năng chi phối đến các hoạt động của con người, để từ đó có
những giải pháp nhằm phát huy tốt hơn tính tích cực chủ động sáng tạo trong
các hoạt động của con người. Trong nghiên cứu con người xã hội, việc mô tả
các đặc trưng xã hội là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là giải thích nguyên
nhân, nguồn gốc hình thành các đặc trưng xã hội đó. Điều đó đòi hỏi phải chú
ý đến sự tác động của các nhân tố ngoại cảnh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh „„là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam,… Đó là tư tưởng về giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc

nền giáo dục mới là một nhiệm vụ cấp bách, mang tính chiến lược. Mục tiêu
của giáo dục phải vừa nâng cao dân trí, vừa bồi dưỡng lý tưởng và tình cảm
cách mạng, vừa bồi dưỡng phẩm chất tốt đẹp trong mỗi con người. Nội dung
giáo dục toàn diện: văn hoá, chính trị, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn,
nghiệp vụ,... Phương châm giáo dục: học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với
thực tiễn; phối hợp gia đình - nhà trường - xã hội để giáo dục; dân chủ, bình
đẳng trong giáo dục; học suốt đời, tự học, tự đào tạo;... Trong giáo dục phải
coi trọng xây dựng đội ngũ những người thầy xứng đáng là thầy giáo. Thầy
giáo là những người thật thà yêu người, yêu nghề, giỏi chuyên môn, thuần
thục về phương pháp, ham học hỏi. Để giáo dục đạt kết quả cao, Người yêu
cầu Đảng phải luôn tự vươn lên về trình độ mọi mặt, đủ sức lãnh đạo công
cuộc giáo dục, chấn hưng nền giáo dục của đất nước; mọi cán bộ, đảng viên
của Đảng phải ra sức học tập để làm gương cho quần chúng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà trường quân đội. Trong quá trình lãnh
đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến xây dựng quân đội
cách mạng, đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Trong xây


17
dựng quân đội, Người rất chú trọng công tác đào tạo cán bộ quân đội, xây
dựng các nhà trường quân đội.
Ngày 15 tháng 4 năm 1944, theo Nghị quyết của Hội nghị Quân sự Bắc
Kỳ và chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trường Quân chính kháng Nhật
được thành lập (sau này là Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, nay là Trường sĩ
quan Lục quân 1). Từ nhà trường quân đội đầu tiên ấy, đến nay, nhà trường
quân đội đã trở thành hệ thống với 9 học viện, 11 trường sĩ quan, 31 trường
trung học chuyên nghiệp, 12 trường quân sự quân khu, quân đoàn và 64
trường quân sự tỉnh, thành.
Quá trình ra đời, trưởng thành, phát triển nhà trường quân đội luôn gắn
với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh

hội, nó chỉ trở thành hành động xã hội khi chủ thể gán cho nó một ý nghĩa chủ
quan và hướng tới người khác. “Hành động” có nghĩa là một thái độ của con
người (tự có, hành động bên ngoài hoặc bên trong, không được phép hoặc
được phép), khi và chỉ khi chủ thể gắn liền thái độ của mình với một ý nghĩa
chủ quan. “Hành động xã hội” thì lại là hành vi có định hướng ý nghĩa theo
thái độ của những người khác” [ Hermann Korte: Nhập môn lịch sử Xã hội
học. Nxb Thế giới, H, 1997, tr 157]. Theo cách lý giải của Weber, hành động
xã hội là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, đồng thời, nó là sản phẩm của ý chí
chủ thể, tức con người xã hội.
M. Weber cho rằng, phân loại các hành động xã hội là một cơ sở để nhận
diện, mô tả các hành động xã hội phong phú đa dạng của con người. Trong lý
thuyết của mình, Weber phân chia ra 4 loại hành động xã hội: hành động duy
cảm; hành động duy lý truyền thống; hành động duy lý giá trị và hành động
duy lý công cụ (Hành động phù hợp mục đích; hành động phù hợp giá trị;
hành động truyền thống và hành động cảm xúc). “Cũng như mọi hành động,
hành động xã hội cũng có thể được xác định: Loại hợp mục đích: thông qua
các chờ đợi thái độ của các đối tượng của thế giới bên ngoài và của những
người khác và sử dụng sự chờ đợi đó như “điều kiện” hoặc “công cụ” cho


19
mục đích riêng, hợp lý, được coi là thành tích, được phấn đấu và cân nhắc.
Loại hợp giá trị: thông qua niềm tin có ý thức vào giá trị tự thân bắt buộc đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo... của một việc nhất định và độc lập với kết quả.
Loại cảm xúc, đặc biệt cảm động, thông qua những sự cảm xúc và cảm nhận.
Loại truyền thống: thông qua thói quen đã từng trải” [Sđd, tr 160].
Để có cơ sở phân tích hành động xã hội, Weber đã đề xuất phương pháp
“thông hiểu” và vận dụng các kiểu điển hình lý tưởng. Thực chất, theo Weber,
khi phân tích, giải nghĩa hành động xã hội phải kết hợp kinh nghiệm của nhà
xã hội học với sự thấu hiểu về văn hóa. Lý thuyết hành động xã hội của M.
Weber đã gợi mở những vấn đề về phương pháp luận: hành động xã hội của

động xã hội thông qua những định hướng về giá trị. “Định hướng giá trị được
hiểu như những ước lệ về giá trị được chấp nhận để “ứng xử đúng đắn” và sẽ
tác động đến chủ thể của hành động, cụ thể là đến mối quan hệ giữa bản thể
và đối tác trong sự lựa chọn mục tiêu và phương tiện hành động của họ” [Sđd,
tr 263]. Những phạm trù để chủ thể hành động dựa vào đó để định hướng
hành động cho mình được Parsons chia thành những cặp khái niệm mà ông
gọi là Pattern Variables (những giá trị chuẩn).
Nghiên cứu các lý thuyết về hành động xã hội của M. Weber và T.
Parsons cho phép chúng ta rút ra một số vấn đề về phương pháp luận: mọi
hành động xã hội của con người xét cho cùng đều ít nhiều có liên quan hoặc
chịu sự tác động của môi trường xã hội. Do đó, trạng thái hành động của họ
tích cực hay tiêu cực, hợp chuẩn hay lệch chuẩn hoàn toàn không phải do
trạng thái tâm lý của họ quyết định, mà còn chịu sự tác động của các yếu tố xã
hội trong môi trường hoạt động của họ. Như vậy, xét về mặt lý thuyết, tính
tích cực học tập của học viên trong các nhà trường quân đội luôn chịu sự tác
động của nhiều yếu tố của môi trường giáo dục quân sự. Trong nhà trường
quân đội, các tổ chức cơ sở đảng, tổ chức cơ sở đoàn, tập thể học viên và đội
ngũ cán bộ quản lý được tổ chức ra với mục đích trung tâm là quản lý mọi
hoạt động học tập và rèn luyện đội ngũ học viên. Do vậy, đây là các yếu tố có


21
khả năng tác động mạnh mẽ nhất đến tính tích cực học tập của học viên đào
tạo sĩ quan cấp phân đội trong các nhà trường quân đội.
1.2.3. Các lý thuyết xã hội học có liên quan khác
Lý thuyết xã hội học về thiết chế xã hội. Khi bàn về cấu trúc và liên hệ xã
hội, các nhà xã hội học kinh điển đều đề cập các thiết chế xã hội. Theo H.
Spencer, thiết chế xã hội là kiểu tổ chức xã hội xuất hiện và hoạt động nhằm
đảm bảo đáp ứng các nhu cầu, yêu cầu chức năng cơ bản của hệ thống xã hội
[Lê Ngọc Hùng: Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Nxb ĐHQG, 2002, tr 110].

của họ đều bị chi phối bởi dư luận của chính cộng đồng xã hội đó. Dư luận xã
hội có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách con người.
“Trong xã hội, hành vi của cá nhân bị chế ước bởi dư luận xã hội, thông qua
sự đánh giá(tốt, xấu, khen, chê), để người ta lựa chọn các phương án ứng xử,
duy trì các khuôn mẫu hành vi sao cho phù hợp với chuẩn mực chung, giá trị
chung” [Mai Quỳnh Nam: Mấy vấn đề về dư luận xã hội trong thời kỳ đổi
mới, Tạp chí Xã hội học, số 2(54), 1996, tr 12].
Lý thuyết xã hội học gia đình. Các lý thuyết xã hội học về xã hội hoá và
xã hội học gia đình đều nhấn mạnh đến vai trò, chức năng quan trọng của gia
đình trong giáo dục con người, xã hội hóa cá nhân. Gia đình không những là
môi trường định hình và nuôi dưỡng nhân cách trẻ thơ, mà đối với mỗi cá
nhân dù đã trưởng thành, dù sống trong gia đình hay luôn phải đi xa gia đình,
thì những tác động của gia đình vẫn ảnh hưởng rất lớn đối với hoạt động xã
hội của họ. Truyền thống, nền nếp gia phong, điều kiện kinh tế, tình trạng đời
sống tinh thần và tình cảm của gia đình luôn là yếu tố vô cùng quan trọng chi
phối động cơ, hiệu quả hoạt động xã hội của con người ở mọi lứa tuổi.
Lý thuyết xã hội học tổ chức. Các nhà xã hội học kinh điển như C. Mác
và M. Weber đều đã quan tâm đến sự phát triển của tổ chức và hình thức hợp
lý của trật tự xã hội. Các ông cho rằng, tổ chức là một hiện tượng xã hội, kết
quả của sự phát triển xã hội, một chỉ số của chuyển đổi xã hội và tiến hoá xã
hội. “Tổ chức là dấu hiệu đặc trưng và yếu tố cấu thành một xã hội công



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status