ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
PHẠM THỊ CHUYỀN
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐAN PHƢỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
PHẠM THỊ CHUYỀN
QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN ĐAN PHƢỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ THANH TÚ
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị Thanh Tú, ngƣời đã nhiệt
tình hƣớng dẫn, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu khoa học
và dành những tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian qua.
Tôi xin cảm ơn các Giáo sƣ, Phó giáo sƣ, Tiến sĩ là chủ tịch hội đồng, phản
biện và ủy viên hội đồng đã bớt chút thời gian quý báu để đọc, nhận xét và tham gia
hội đồng đánh giá luận văn.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhƣng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi
những sai sót, kính mong nhận đƣợc sự chỉ bảo, góp ý của quý thầy cô và bạn bè
đồng nghiệp để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn nữa.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Chuyền
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ....................................................................................... ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ................................................................................................ iii
PHẦN MỞ ĐẦU .........................................................................................................1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU – NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ
TNCN VÀ QUẢN LÝ THUẾ TNCN THEO CƠ CHẾ TỰ KHAI TỰ NỘP .................4
1.1. Tổng quan tài liệu .............................................................................................4
1.2. Khái quát về Thuế TNCN ................................................................................8
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò Thuế TNCN .................................................8
1.2.2. Cơ chế tự khai tự nộp thuế .......................................................................13
1.3. Nội dung quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai, tự nộp ...........................19
1.3.1. Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế TNCN ..........................19
1.3.2. Bộ máy quản lý thuế TNCN .....................................................................22
1.3.3. Đối tượng quản lý thuế TNCN .................................................................28
hiệu lực của bộ máy Chi cục Thuế huyện Đan Phượng ....................................81
4.1.2. Nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ chi cục thuế ................................ 81
4.1.3. Về quản lý đối tượng ................................................................................82
4.1.4. Về quản lý thu nhập chịu thuế .................................................................84
4.1.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế TNCN .....85
4.1.6. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT .........................................86
4.2. Các giải pháp điều kiện ..................................................................................87
4.2.1. Đầu tư cơ sở hạ tầng, tin học hóa công tác quản lý thu thuế. .................87
4.2.2. Kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng với cơ quan thuế trong
công tác quản lý thuế TNCN ..............................................................................89
4.3. Các kiến nghị ..................................................................................................90
4.3.1. Hoàn thiện chính sách thuế TNCN và các chính sách khác liên quan ....90
4.3.2. Kiến nghị với Cục Thuế ...........................................................................93
4.3.3. Kiến nghị với Huyện ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND), ủy ban nhân dân
(UBND) ..............................................................................................................93
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................................95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................97
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CNTT
Ngƣời nộp thuế
7
NSNN
Ngân sách Nhà nƣớc
8
MST
Mã số thuế
9
QTT
Quyết toán thuế
10
TNCN
Thu nhập cá nhân
11
UBND
Bảng 3.1
4
Bảng 3.2
5
Bảng 3.3
6
Bảng 3.4
7
Bảng 3.5
8
Bảng 3.6
9
Bảng 3.7
Tổ chức Bộ máy quản lý thu thuế theo chức
năng của Chi cục Thuế huyện Đan Phƣợng
Nguồn lực quản lý thuế TNCN tại Cục Thuế TP
DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT
Hình
Nội dung
1
Sơ đồ 3.1
Cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế
50
2
Sơ đồ 3.2
Cơ cấu tổ chức Cục Thuế trực thuộc Tổng cục Thuế
51
3
Sơ đồ 3.3
Cơ cấu, tổ chức Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế
sung; Bộ Tài Chính cũng đã ban hành Thông tƣ số 111/2013/TT-BTC ngày
15/8/2013 hƣớng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN, Luật thuế TNCN
sửa đổi và Nghị định định số 65/2013/NĐ-CP. Tuy nhiên, Luật thuế TNCN có
phạm vi điều chỉnh rộng, có nhiều khoản thu nhập chịu thuế; mỗi khoản thu nhập có
căn cứ tính thuế khác nhau; số lƣợng đối tƣợng nộp thuế và ngƣời phụ thuộc lớn;
việc quản lý thuế TNCN đòi hỏi phải có cơ sở dữ liệu đầy đủ, tập trung; ngoài ra
quá trình quản lý liên quan đến nhiều chính sách xã hội nên việc triển khai gặp
không ít khó khăn.
Huyện Đan Phƣợng là đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội – Trung
tâm kinh tế - văn hóa – chính trị của cả nƣớc. Trong những năm gần đây, cùng với
sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về thuế TNCN, hoạt động quản lý thuế TNCN
trên địa bàn huyện đã có rất nhiều đổi mới, cải thiện phù hợp với yêu cầu quản lý
1
mới, phù hợp với tình hình phát triển đất nƣớc nói chung và của thành phố nói
riêng. Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế trên địa bàn huyện cũng cho thấy nhiều
hạn chế, bất cập: cấp mã số thuế bị trùng, bỏ sót đối tƣợng nộp thuế, chƣa cấp mã số
thuế (MST) cho ngƣời phụ thuộc,...Những vấn đề này ảnh hƣởng không nhỏ đến
hiệu quả của công tác quản lý thuế trên địa bàn huyện. Vậy có những giải pháp nào
nhằm tăng cƣờng công tác quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai, tự nộp? Câu hỏi
này sẽ đƣợc làm sáng tỏ trong luận văn “Quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai tự
nộp trên địa bàn huyện Đan Phƣợng, Thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về thuế TNCN và công tác quản lý
thuế TNCN.
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa
bàn huyện Đan Phƣợng, nêu lên những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong
công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn huyện Đan Phƣợng.
trên thế giới và có lịch sử hàng trăm năm. Thuế TNCN đƣợc áp dụng lần đầu tiên ở
Anh năm 1799 dƣới hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến
tranh chống Pháp và đƣợc chính thức ban hành vào năm 1842. Sau đó, thuế TNCN
đƣợc lan truyền nhanh chóng sang các nƣớc công nghiệp khác nhƣ: Nhật Bản (năm
1887), Mỹ (năm 1913), Pháp (năm 1914)… Các nƣớc Châu Á nhƣ Thái Lan bắt đầu
áp dụng vào năm 1939, ở Philippin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, Inđônêsia năm
1949, Trung Quốc năm 1984. Đến nay, đã có khoảng 180 nƣớc áp dụng thuế TNCN
và thuế TNCN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách thuế
của nhiều nƣớc. Các quốc gia có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều coi thuế
TNCN là một trong những sắc thuế có tầm quan trọng đặc biệt trong việc huy động
nguồn thu ngân sách, thực hiện phân phối công bằng xã hội và điều tiết vĩ mô nền
kinh tế. Tuy nhiên, đặt ra mức thuế cao hay thấp, đánh vào tổng thu nhập hay đánh
vào từng khoản thu nhập khác nhau của chủ thể thƣờng phụ thuộc vào quan điểm
điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong chính sách kinh tế, xã hội của từng nƣớc
trong từng thời kỳ nhất định. Ở các nƣớc phát triển, thuế TNCN thƣờng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số thu từ thuế (Thuế TNCN chiếm tỷ trọng gần 40% trong tổng
thu thuế Ngân sách Liên bang Mỹ, Tây Ban Nha 38%, Anh 35%, Đan Mạch 50%)
và đƣợc xem là một loại thuế rất quan trọng, thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số thu thuế, là công cụ đảm bảo tính công bằng, tính hiệu quả kinh tế và hội nhập
(PGS. TS. Lê Văn Ái, TS. Đỗ Đức Minh, “Chƣơng 2 - Thuế TNCN của một số
nƣớc trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam”, Thuế TNCN trên thế
giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội, 2002,
trang 45-106).
4
Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nƣớc ta không
thu thuế đối với thu nhập của cá nhân không kinh doanh. Bởi vì, nguồn thu nhập
của cƣ dân trong xã hội thời kỳ đó mang tính chất thuần nhất, do cơ chế phân phối
Luận văn Thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, của tác giả Trịnh Hoàng Cơ, Hà Nội,
2004; “Tăng cường quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế của Đặng Thị Lan Hƣơng, Hà Nội, năm 2013;“Thực trạng và giải pháp
hoàn thiện công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Hà
Nội”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Trần Hải Nam, Hà Nội, năm 2013; “Một số
giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế Tại Cục Thuế Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ
Kinh tế của Hoàng Hải Yến, Hà Nội, năm 2013.
Ở đây, nhóm tác giả đã phân tích thực trạng công tác quản lý thuế và chỉ ra
đƣợc các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân cũng nhƣ những giải pháp nhằm hoàn
thiện chính sách và công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay phù hợp với chiến
lƣợc cải cách ngành thuế theo hƣớng hiện đại hóa. Tập trung nghiên cứu một cách
chi tiết các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế trong quá trình đổi mới.
“Quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy giảm kinh tế
trong nước và suy thoái kinh tế toàn cầu”, tác giả Đặng Hạnh Thu, Tạp chí Cộng
Sản số 803, 2009. Tác giả đã đặt ra những vấn đề cần phải quan tâm trong công tác
quản lý và điều hành công tác thuế trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu đã có
những ảnh hƣởng trực tiếp đến Việt Nam khi chúng ta đã tham gia vào WTO.
Nhóm các công trình về hoàn thiện, nâng cao năng lực trong công tác thuế:
“Hoàn thiện quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay”, Luận
văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý của Vũ Thị Mai, Hà Nội, 2005; “Hoàn thiện quy
trình quản lý thu thuế theo hướng hiện đại hoá ngành Thuế ở Việt Nam”, Luận văn
thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thu Thuỷ, Hà Nội, 2006; “Cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế
và những vấn đề đặt ra ở Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Hiệu, Nguyễn Việt Cƣờng,
Nxb Tài chính, Hà Nội, 2007; “Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế trong cơ chế tự khai,
tự nộp thuế ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của Lê Thị Thu Hồng, 2008.
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu thực trạng các quy trình và công tác quản
lý thuế và đề ra các nhóm giải pháp nhằm thực hiện tốt các quy trình quản lý thuế
trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể.
6
7
tự khai, tự nộp – Ngƣời nộp thuế (NNT) tự kê khai, tự tính thuế và tự nộp thuế vào
NSNN. Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì cơ quan Thuế sẽ không phải can
thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp mà tập trung nguồn lực cho
công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hƣớng dẫn để NNT có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ
NSNN. Đồng thời cũng tăng cƣờng các biện pháp theo dõi giám sát, kiểm tra để kịp
thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi phạm pháp luật thuế, tránh gây thất thu
NSNN. Do vậy, vấn đề tăng cƣờng công tác quản lý thuế TNCN theo cơ chế tự khai,
tự nộp càng trở nên cần thiết.
Từ thực trạng quản lý thuế TNCN trên địa bàn nhỏ - huyện Đan Phƣợng, tôi
xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng quản lý thuế TNCN theo
cơ chế tự khai, tự nộp nói chung và trên địa bàn huyện Đan Phƣợng nói riêng.
1.2. Khái quát về Thuế TNCN
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò Thuế TNCN
1.2.1.1. Khái niệm thuế TNCN
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận đƣợc thu
nhập dƣới bất kỳ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao
động, hay đầu tƣ,...) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho nhà nƣớc
dƣới dạng thuế thu nhập.
Thuế thu nhập đƣợc chia làm hai loại: Thuế thu nhập công ty và thuế TNCN.
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã
hội trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm) (Bộ Tài Chính Tổng Cục Thuế, “Chuyên đề 13: Thuế TNCN”, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cho
công chức mới - Kiến thức về hệ thống chính sách thuế hiện hành, Tập 3, 2011,
trang 60.)
Thuế TNCN đã đƣợc áp dụng từ rất lâu ở các nƣớc phát triển. Lần đầu tiên ra
đời ở Anh vào năm 1799 thuế TNCN đã đƣợc áp dụng nhƣ một hình thức thu tạm
thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và đƣợc chính thức
ban hành vào năm 1842. Sau đó thuế TNCN đã nhanh chóng đƣợc lan truyền sang
thuế khác nhƣ thuế hàng hóa, thuế thu nhập công ty và thuế TNCN, trong đó thuế
TNCN là nguồn tài chính lớn cho ngân sách của quốc gia, đặc biệt đối với các nƣớc
phát triển. Trƣớc chiến tranh thế giới lần thứ nhất số NNT TNCN mới chỉ chiếm
9
khoảng gần 1 triệu ngƣời, năm 1939 tăng lên 5 triệu ngƣời, thì đến năm 1980 con số
này là 100 triệu ngƣời, biến thuế này thành thứ thuế đại chúng (PGS.TS. Lê Văn Ái,
TS. Đỗ Đức Minh, Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vận dụng ở Việt Nam,
NXB Tài Chính -2002, trang 13). Khi trình độ kinh tế càng phát triển thì thuế thu
nhập ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng số thu về thuế. Vasanthi
Monsingh (1998) đã liên hệ các giai đoạn phát triển của nền kinh tế với đặc điểm
cấu truc thuế nhƣ sau:
Bảng 1.1: Cấu trúc của thuế qua các giai đoạn phát triển
Thời kỳ
Thời kỳ mới cất cánh
Vai trò các loại thuế
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu giữ vị
trí trọng yếu
Thời kỳ tiến đến công nghiệp hóa hiện
Thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ nội địa
đại hóa
chiếm tỷ trọng chủ yếu
điểm này xuất phát từ tính trực thu của thuế TNCN.
Ba là, Thuế TNCN là loại thuế luôn gắn liền với chính sách xã hội của quốc
gia mặc dù các quốc gia hiện nay vẫn luôn hƣớng tới một hệ thống chính sách thuế
mang tính trung lập. Khi tính thuế TNCN có xem xét đến hoàn cảnh cá nhân của
NNT bằng việc quy định một số khoản đƣợc khấu trừ có tính chất xã hội trƣớc khi
tính thuế.
Bốn là, Thuế TNCN thƣờng đƣợc tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần do
thuế TNCN đƣợc đánh theo nguyên tắc “khả năng nộp thuế” và cũng xuất phát từ
vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh ngƣời có thu nhập cao, động viên
sự đóng góp của những ngƣời có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội.
Năm là, Thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ. Thuế TNCN
không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên nó không tạo
ra sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ.
1.2.1.3. Vai trò của Thuế TNCN
Xuất phát từ những đặc điểm kể trên, Thuế TNCN có vai trò quan trọng:
Thứ nhất, Thuế TNCN là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội,
giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa những người có thu nhập cao và những
người có thu nhập thấp trong xã hội.
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của một quốc gia. Mặc dù về
quan điểm hoàn thiện chính sách thuế là cần phải xây dựng một chính sách thuế có
11
tính trung lập cao, không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau, nhƣng trong thực tế chƣa
có quốc gia nào tách rời hẳn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội. Sự
công bằng đƣợc biểu thị bởi biểu thuế thuế lũy tiến từng phần, mức điều tiết về thuế
tăng dần đều, ngƣời có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều. Chính sách xã hội thể hiện
thông qua cơ chế chiết trừ gia cảnh và một số khoản giảm trừ trƣớc khi tính thuế.
Thứ hai, Thuế TNCN là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng và ổn
định cho NSNN.
giảm thuế có thể khuyến khích đầu tƣ, tiết kiệm...
Nhƣ đã phân tích, thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập của cá nhân,
thể hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nƣớc và đƣợc căn cứ trên các nguyên
tắc “lợi ích”, “công bằng” và “khả năng nộp thuế”. Việc áp dụng thuế TNCN sẽ góp
phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và hạn
chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cƣ; đồng
thời Nhà nƣớc sẽ nắm đƣợc thông tin về thu nhập của cá nhân. Thông qua đó, vừa
thực hiện động viên nguồn lực vừa góp phần phòng chống tham nhũng, lãng phí.
Thứ tư, thuế TNCN góp phần quản lý thu nhập dân cư.
Thông qua việc kiểm tra, xác minh thu nhập tính thuế TNCN, cơ quan Nhà
nƣớc có thể phát hiện những khoản thu nhập hợp pháp, không hợp pháp để có
những biện pháp xử lý phù hợp. Qua tài liệu, số liệu về thuế TNCN giúp cho Chính
phủ có thêm cơ sở để đánh giá khái quát về tình hình thu nhập xã hội, về cơ cấu thu
nhập dân cƣ để đề ra các chính sách kinh tế - xã hội phù hợp.
Qua thời gian thực hiện thuế TNCN ở Việt nam, bƣớc đầu đã tạo cho mọi
ngƣời dân quen với việc kê khai thu nhập và nhận thức đƣợc trách nhiệm về đóng
thuế thu nhập, một loại thuế phổ biến trên thế giới và cũng là tiền đề trong quá trình
hoàn thiện chính sách thuế TNCN ở Việt Nam.
Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia. Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên
những vai trò này vẫn chƣa thực sự đƣợc phát huy ở những nƣớc chậm phát triển.
1.2.2. Cơ chế tự khai tự nộp thuế
1.2.2.1. Khái niệm và đặc điểm của cơ chế tự khai tự nộp
Khái niệm
Cơ chế tự khai tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó các đối tƣợng
nộp thuế (ĐTNT) tự giác căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kì kê khai
13
của mình và căn cứ vào những quy định của pháp luật tự xác định nghĩa vụ thuế của
Thuế sẽ không phải can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp mà tập
trung nguồn lực cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hƣớng dẫn để NNT có đủ năng
lực thực hiện nghĩa vụ NSNN. Đồng thời cũng tăng cƣờng các biện pháp theo dõi
giám sát, kiểm tra để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi vi phạm pháp luật
thuế, tránh gây thất thu NSNN.
Việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp là phù hợp với xu thế cải
cách quản lý hành chính của nhà nƣơc theo hƣớng dân chủ, tôn trọng và phát huy
tính tự giác, tự chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật của ngƣời dân. NNT đƣợc giảm bớt
các thủ tục hành chính, đƣợc chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình
đối với Nhà Nƣớc. Còn về phía cơ quan Thuế, cơ chế mới sẽ tạo điều kiện để sắp
xếp lại bộ máy quản lý chuyên sâu theo chức năng, chuyên môn hóa tới từng cán
bộ. Khi áp dụng cơ chế này, cơ quan Thuế có thể đáp ứng yêu cầu quản lý khi số
lƣợng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, các giao dịch kinh tế diễn ra ngày một
phức tạp và đảm bảo yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Hơn nữa, nền kinh tế
ngày càng phát triển, luật doanh nghiệp mới có một số quyết định thông thoáng hơn
nên số lƣợng các doanh nghiệp, đối tƣợng sản xuất kinh doanh ngày càng tăng lên
nhiều. Trong khi đó số cán bộ thuế còn thiếu nhiều về cả số lƣợng và chất lƣợng.
Do vậy cơ quan Thuế phải đổi mới phƣơng thức quản lý thuế thì mới có thể theo kịp
đƣợc yêu cầu sản xuất kinh doanh.
Nhƣ vậy thực hiện quản lý thuế theo cơ chế NNT tự khai, tự nộp thuế là tất
yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, nhất là trong điều kiện hiện nay nhà
nƣớc ta đang đẩy mạnh cải cách hành chính để đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế. Hơn nữa, trên thế giới có rất nhiều nƣớc đã áp dụng cơ chế này và đã thu
đƣợc kết quả rất cao trong việc thu thuế cho NSNN.
1.2.2.3. Điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế
Việc thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi các điều kiện sau:
Một là, Hệ thống luật thuế phải thực sự minh bạch, người dân có thể dễ
dàng tiếp cận và tìm hiểu chính sách thuế.
Khi áp dụng mô hình quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp thì các chế tài
pháp luật nghiêm minh là rất cần thiết, rất quan trọng trong bối cảnh khả năng lợi
16