MARKETING XÃ HỘI
ĐỀ TÀI: Thay đổi hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook của giới trẻ
hiện nay.
Nhóm 6:
Nguyễn Thị Hải Yến CQ524395 (NT)
Đặng Văn Bình
CQ525304
Trần Quốc Khải
CQ521815
Nguyễn Văn Giang CQ520893
Ngô Minh Thư
CQ523613
PHẦN I: NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
Bối cảnh sơ bộ
Gần đây, trào lưu facebook được xem như một “cơn lốc” với giới trẻ, điều này có
lẽ không hề sai chút nào bởi theo những con số thống kê không chính thức thì hơn 90%
học sinh sinh viên Việt Nam có sử dụng facebook như một kênh giải trí thường xuyên
thay cho game và âm nhạc. Có người đã cho rằng Facebook có dân số đứng thứ 3 trên thế
giới sau Trung Quốc và Ấn Độ, tương đương với dân số của Mỹ hiện nay. Phải chăng có
nên nhìn nhận, xem xét lại văn hóa sử dụng phương tiện giải trí này?
Tại Việt Nam, số người sử dụng facebook đã tăng nhanh chóng từ 8,5 triệu người
vào tháng 10 năm 2012 lên tới 12 triệu người vào tháng 2 năm 2013. Như vậy, theo tính
toán của mạng Techinasia, số người dùng facebook tăng bình quân là gần 1 triệu người/ 1
tháng. Con số thống kê trên cho thấy face đã trở thành một dòng trào lưu cực kì mạnh mẽ
trên các trang mạng và nó có sức hút ghê gớm với giới trẻ dù cho ở độ tuổi nào. Đa phần
những bạn học sinh ở các trường THPT và sinh viên các trường Đại học tại Hà Nội và
các thành phố khác được hỏi họ đều trả lời là có sử dụng facebook thậm chí có nhiều bạn
còn sử dụng từ 2-3 nick face. Điều này không hề khó hiểu bởi chỉ cần có phương tiện kết
để tự tử vì bị nói xấu trên page “Bộ mặt thật của các hot teen Đà thành”. Tuy vậy may
mắn là gia đình đã kịp phát hiện và đưa bạn nữ sinh này đi cấp cứu. Vụ việc dấy lên hồi
chuông cảnh tỉnh cho trào lưu lập page anti, nói xấu nhau trên facebook. Chính vì thế
những page anti, nói xấu như thế này sẽ trở thành mối hiểm họa khôn lường nếu không
ngăn chặn kịp thời. Sự việc tạm thời lắng xuống khi những admin của page anti này bị cơ
quan công an xử lí. Đây là bài học cảnh tỉnh cho những bạn teen trót dùng facebook để
bôi xấu người khác.
Do đó, với thực trạng đáng báo động như hiện nay, nhóm thực hiện đề tài này với
mong muốn sẽ giúp giới trẻ hiểu rõ tác hại của việc tung tin đồn, nói xấu người khác, từ
đó giúp nhận thức được hành vi của mình và có những biện pháp để thay đổi những hành
vi đó.
Động cơ, phanh hãm của công chúng mục tiêu
1. Ai là công chúng mục tiêu?
III.
Công chúng mục tiêu mà nhóm muốn hướng đến là những người trẻ có độ tuổi từ
14 đến 25, còn đang là học sinh, sinh viên hoặc mới bắt đầu ra trường. Đối tượng công
chúng này thường xuyên sử dụng facebook (một nơi có tính tương tác cao) như một
công cụ giải trí, công cụ thiết lập mối quan hệ với bạn bè. Đây cũng là đối tượng chưa
được tiếp xúc nhiều với xã hội, suy nghĩ còn khá non trẻ và ngây thơ, chưa lường trước
được hết những hậu quả có thể xảy ra với những việc mình làm, còn hành động theo
cảm tính và chưa thực sự để ý đến suy nghĩ của những người xung quanh.
2. Động cơ để thực hiện hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook của công
chúng mục tiêu
- Động cơ hưởng thụ: người tung tin đồn, nói xấu trên facebook để xả cơn giận hoặc
thỏa được nỗi lòng ghen ghét đối với người bị tung tin đồn, nói xấu. Hay một hành
vi khác của động cơ hưởng thụ như người dùng có thể ngồi một chỗ sử dụng máy
tính hay điện thoại mọi lúc mọi nơi để cập nhật thông tin thời sự cũng như thông
thân; là nơi để có thể up ảnh, lưu trữ ảnh cá nhân mà có thể tải về khi cần thiệt;
lien lạc với bạn bè thường xuyên và dễ dàng hơn; sử dụng các ứng dụng và game
tích hợp được.
3. Động cơ có thể khiến cho công chúng mục tiêu thay đổi hành vi của mình:
- Nhận ra người mà mình tung tin đồn, nói xấu không phải là người xấu hoặc là
những lời đồn không đúng sự thật:
Không hẳn là những lời đồn đại là luôn sai hay luôn đúng, tuy nhiên đó có thể là
những lời phóng đại không đúng hoặc quá đáng so với sự thật. Hoặc là đó chỉ là những
lời nói từ những hiểu nhầm giữa bạn bè hoặc người thân với nhau.
-
Nhận ra hành vi của mình ảnh hưởng rất xấu tới cuộc sống thường ngày của những
người bị tung tin đồn, nói xấu.
Sau khi những lời đồn được tung ra trên một trang mạng có tính lan truyền rất cao
như facebook, hầu như người thân, bạn bè và những người xung quanh người bị tung tin
đồn, nói xấu sẽ đều biết. Dù chuyện đó là đúng hay sai thì cũng sẽ có những ảnh hưởng
không tốt đến đời sống của người bị nói xấu. Việc này có thể đi theo một chiều hướng
xấu như: Những người tin thì sẽ xa lánh, hùa vào nói xấu hoặc châm chọc người đó.
Những người không tin hoặc không quan tâm, mặc dù không quan tâm nhưng cũng sẽ có
những cảnh giác nhất định, cũng có thể sẽ suy nghĩ “không có lửa làm sao có khói”. Gia
đình, bạn bè, thầy cô hay người thân cũng sẽ có những ảnh hưởng nhất đinh, có thể
không tin tưởng người đó nữa hoặc mắng nhiếc người đó,…
Nếu câu chuyện đi theo một chiều hướng xấu hơn, người nói xấu hay tung tin đồn
có thể hả hê cũng có thể cảm thấy mình quá đáng hay sự việc đã đi quá giới hạn, họ sẽ
ngưng hành vi nói xấu lại, hoặc là họ bắt buộc phải có những giải thích thoả đáng cho
việc này.
-
và trong tâm thức của mình, bây giờ nó trở lại với chúng ta. Không có lý do gì để giận
hay buộc tội người khác khi chúng ta là người đã tạo ra nguyên nhân chính yếu đối với
rắc rối của mình.
4. Phanh hãm khiến cho công chúng mục tiêu không thay đổi hành vi của mình:
Do ghen ghét, đố kị người khác nên không muốn thay đổi hành vi tung tin đồn, nói
xấu của mình.
Những công chúng mục tiêu này rất khó có thể thay đổi hành vi, trừ khi họ nhận ra
được hậu quả xấu của việc mình làm hoặc có sự can thiệp của những người khác khiến
họ phải dừng hành vi tung tin đồn, nói xấu của mình.
- Do mình nghĩ những thông tin mà mình tung tin đồn , nói xấu giúp đỡ được cho
người khác.
Có thể những tin đồn mà họ đưa ra là tin đồn đúng sự thật, khi đó những thong tin
này giúp cảnh tình người khác. Nhưng đôi khi họ ngây thơ tin rằng những tin đồn mà
mình đang trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra là đúng, khi đó họ cho rằng mình đang giúp đỡ
những người xung quanh nhưng thực ra họ đang gây tác động xấu đến xã hội. Những
người này có thể dễ dàng cảnh tỉnh, chỉ cần để họ nhận ra sự thật hoặc tác hại của việc họ
đang làm, họ có thể sẽ thay đổi hành vi của mình.
- Do muốn xả stress, muốn được người khác tôn trọng mình, hoặc muốn cho người
khác biết, nên ko muốn thay đổi hành vi tung tin, nói xấu và muốn theo các trào
lưu nên lập ra các fanpage tung tin đồn, nói xấu ( vd: lập ra các fanpage các ca sỹ,
những người nổi tiếng vì hành động không đúng của họ,….).
-
PHẦN II: NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
PHẦN I: NỘI DUNG
I.
Giới thiệu chung về cuộc nghiên cứu
• Câu hỏi nghiên cứu:
Hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook của giới trẻ hiện nay đang diễn ra
như thế nào?
Hành vi tung tin đồn nói xấu đó ảnh hưởng tới người bị nói xấu, người đi nói
xấu và những người xung quanh với mức độ như thế nào?
Thái độ cũng như hành vi của người khác khi bị nói xấu hoặc bắt gặp những
hành vi đó là gì?
Phương án và cách giải quyết của các bạn trẻ khi gặp phải những hành vi đó?
3. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook đang diễn ra trong thời
gian qua.
Hiểu biết về mức độ ảnh hưởng và những thay đổi về hành vi của các bạn trẻ
khi bị nói xấu hoặc gặp phải hành vi nói xấu của người khác
Tìm hiểu các phương án giải quyết của đối tượng công chúng mục tiêu.
II.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Loại thông tin và nguồn thông tin cần thu thập
Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu từ các trang web thống kê, các trang báo điện tử,
sách báo…
Dữ liệu sơ cấp: Điều tra phỏng vấn trực tiếp người tiêu dùng thông qua
bảng hỏi mà nhóm thiết kế.
2. Phương pháp thu thập
Thu thập dữ liệu thứ cấp
Điều tra thực trạng tung tin đồn, nói xấu thông qua các thông tin trực tuyến
đến câu hỏi chi tiết.
Phần quản lý: Thời gian, địa điểm tiến hành, thông tin người trả lời
phỏng vấn.
Lời cảm ơn.
Phân tích dữ liệu
Đối với dữ liệu thứ cấp: Đánh giá, lựa chọn thông tin hữu ích.
Đối với dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phân tích định lượng và phần mềm phân
tích dữ liệu SPSS.
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU
1. Thiết kế mẫu nghiên cứu
Tổng thể mục tiêu: người tiêu dùng ở độ tuổi từ 14 đến 25 tuổi đang sinh sống,
học tập trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phương pháp chọn mẫu: các phần tử trong mẫu được chọn theo phương pháp
chọn mẫu phi xác suất. Những người được phỏng vấn chủ yếu đều là phỏng
vấn online trên facebook, họ đang sử dụng facebook hoặc những người nằm
trong độ tuổi thích hợp.
Các phần tử được lựa chọn theo những yếu tố đặc điểm có thể đánh giá được
mức thu nhập, điều kiện sống của họ: phương tiện đi lại, dáng vẻ,phong cách
ăn mặc, cách nói chuyện,….
Kích thước mẫu: 100 phần tử
Kiểm tra quá trình chọn mẫu: thường kiểm tra trên các mặt sau: Kiểm tra đơn
vị trong mẫu có đúng đối tượng nghiên cứu không? (vì thường mắc sai lầm ở
khâu chọn đối tượng: do thu thập thông tin ở nơi không thích hợp, ở những
người không thích hợp, hoặc bỏ qua thông tin của những người lẽ ra phải
được phỏng vấn…). Kiểm tra sự cộng tác của người trả lời (hỏi càng dài thì
sự từ chối trả lời càng lớn). Kiểm tra tỷ lệ hoàn tất (xem đã thu thập đủ số đơn
vị cần thiết trên mẫu chưa) : trong phỏng vấn bằng thư có khi thư bị trả lại do
Do chủ yếu phỏng vấn cá nhân trực tiếp nên bảng hỏi có thêm những câu hỏi hơi
dài hoặc câu hỏi nêu ý kiến riêng của người được hỏi.
Số lượng câu hỏi: 16 câu.
Thứ tự câu hỏi: đi từ câu hỏi tổng quát trước sau đó mới đến các câu hỏi cụ thể.
Câu hỏi mở đầu: Có tác dụng tạo thiện cảm để tạo nên sự hợp tác của người trả lời
lúc bắt đầu buổi phỏng vấn, gợi ra đối tượng tìm hiểu của cuộc phỏng vấn.
Câu hỏi định tính: Có tác dụng xác định rõ đối tượng được phỏng vấn
Câu hỏi hâm nóng: Có tác dụng gợi nhớ để tập trung vào chủ đề mà bảng câu hỏi
•
•
đang hướng tới.
Câu hỏi đặc thù: Có tác dụng làm rõ nội dung cần nghiên cứu
Câu hỏi phụ: Có tác dụng thu thập thêm thông tin về đặc điểm nhân khẩu người
trả lời (giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp,..)
Cấu trúc bảng hỏi: 4 phần.
Phần mở đầu: tiêu đề cuộc nghiên cứu, lời giới thiệu, mục đích nghiên cứu, cam
kết giữ bí mật, lời cảm ơn.
Phần nội dung: các câu hỏi nghiên cứu, đi từ câu hỏi mở đầu thăm dò đến câu hỏi
chi tiết.
Phần quản lý: thời gian, địa điểm tiến hành, thông tin người trả lời phỏng vấn.
Lời cảm ơn.
Khi được hỏi những người có nhận thức tốt về việc văn hóa sử dụng facebook thì
mọi người rất nhiệt tình trả lời
Khó khăn
• Đối tượng điều tra từ chối không trả lời phỏng vấn vì nhiều lý do: Họ ngại mất
thời gian, họ ngại trả lời, họ sợ bị lừa đảo, …
• Vì vấn đề tung tin đồn, nói xấu trên facebook là vấn đề nhạy cảm và động chạm
đến nhiều người nên những người được hỏi còn ngại trả lời hoặc trả lời không
đúng sự thật.
• Nhiều người ko hiểu được bản chất của cuộc phỏng vấn là lấy số liệu tham khảo
mà họ còn cho rằng cuộc phỏng vấn có những mục đích ko tốt khác dẫn đến việc
họ từ chối tham gia phỏng vấn.
• Một số người đồng ý tham gia phỏng vấn nhưng khi đi vào câu hỏi, họ không đọc
kĩ câu hỏi mà trả lời qua loa cho xong chuyện hoặc đánh dấu không đúng vào câu
hỏi trắc nghiệm dẫn đến kết quả có phần sai lệch so với kết quả đáng có.
• Một số người ko những ko tham gia cuộc phỏng vấn mà còn tỏ thái độ bất lịch sự
hoặc xua đuổi
•
4. Biên tập, mã hóa dữ liệu
Nhập dữ liệu vào Excel sau đó mới copy vào SPSS.
Các phiếu điều tra được đánh dấu theo thứ tự ở mục “Phiếu số” nhằm hạn chế
chưa được tiếp xúc nhiều với xã hội, suy nghĩ còn khá non trẻ và ngây thơ, chưa
lường trước được hết những hậu quả có thể xảy ra với những việc mình làm, còn hành
động theo cảm tính và chưa thực sự để ý đến suy nghĩ của những người xung quanh.
Bảng 1: Cơ cấu giới tính đối tượng điều tra
Nam
52,9%
Nữ
47,1%
Nhóm đã cố gắng cân bằng nhất có thể giữa tỉ lệ nam và nữ trong số những
người được hỏi nhằm mang đến kết quả trung thực nhất cho cuộc nghiên cứu. Trong
đó, có 52,9% đối tượng được hỏi là nam và 47,1% đối tượng được hỏi là nữ. Tỉ lệ này
khá là cân bằng.
Bảng 2: Lượng người sử dụng facebook trong những đối tượng được điều tra
Tiêu chí
Tần suất
Có
99,0 %
Không
1,0 %
Tổng
100%
Từ kết quả trên cho thấy rằng có phần lớn người được phỏng vấn ngẫu nhiên sử
dụng FB chiếm 99% và chỉ có 1% là không dùng FB. Điều này cho thấy mạng xã hội nói
chung và FB nói riêng có tầm ảnh hưởng khá lớn tới cuộc sống con người, nó như cái
một công cụ thiết yếu của con người trong đời sống. Và facebook đã trở thành thế giới
thứ hai sau thế giới thực đối với một số người.
Bảng 3: Tần suất sử dụng fb
Tiêu chí
34,8%
16,7%
19,7%
28,8%
100%
Từ bảng 3 và bảng 4 cho thấy sự liên hệ chặt chẽ trong việc mục đích sử dụng Fb
với thời gian dành cho nó. Ví dụ như mục đích nói chuyện với bạn bè là lớn nhất và
tương đồng với nó thì người dùng Fb dành nhiều thời gian cho việc này nhất chiếm
34,8%. Và hầu như người dùng đều sử dụng facebook với các mục đích còn lại.
2. Thực trạng về việc sử dụng fb của giới trẻ hiện nay và những vấn đề liên
quan đến hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook
Đến tháng 8/2013, tại Việt Nam đã có 19,6 triệu người dùng Facebook, chiếm
21,42% dân số và chiếm tới 71,4% người sử dụng Internet.
Việt Nam đang là nước đứng thứ 16 trên thế giới về tỉ lệ tăng trưởng lượng
người sử dụng Facebook tính đến tháng 7/2013.
Những con số ấn tượng trong kết quả nghiên cứu của Socialbakers &
SocialTimes.Me -2013 vừa được công bố tại Hội thảo Toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam
lần thứ 18 - VIO 2013 diễn ra ở TP.HCM.
Có thể nói Facebook vẫn đang phát triển mạnh tại Việt Nam: chỉ sau gần 1
năm, tổng lượng người dùng Facebook đã tăng gấp hơn 2 lần. Quay lại thời điểm cách
đây gần 1 năm, thống kê nghiên cứu từ WeAreSocial về thị trường Internet Việt Nam
cho biết, tính đến tháng 10/2012, với 8,5 triệu thành viên, Facebook đã vượt qua Zing
Me (8,2 triệu thành viên) để trở thành mạng xã hội có nhiều người dùng nhất Việt
Nam. Tính trên toàn thế giới, Việt Nam là quốc gia mà Facebook có thị phần tăng
trưởng nhanh nhất, với tốc độ 146% trong 6 tháng (từ tháng 5 - 10/2012), trung bình
cứ 3 giây thì Facebook có 1 người dùng Việt Nam mới.
Mức độ
khác
Sử dụng FB
Rất thường xuyên
Thường
Thỉnh thoảng
Đôi khi
Đã từng
Chưa từng
20
0
0
0
46
25
7
6
Dựa vào
bảng cho
thấy, tất
cả
những người đã từng tung tin đồn nói xấu người khác đều là những người sử dụng FB rất
thường xuyên. Liệu có phải do mức độ sử dụng FB mà làm cho người dùng có hành vi
57,1%
25,7%
17,1%
100%
Phần lớn hành vi tung tin đồn nói xấu đề nhắm tới bạn bè với 57,1% và tiếp là
người thân với 25,7%, thật bất ngờ khi những hành vi tung tin đồn nói xấu lại lại chủ yếu
nhắm vào người quen, người thân mà ít nhắm tới người có ngoại hình xấu gần như không
quen biết. Nếu hành vi tung tin đồn nói xấu ngày càng tăng thì khả năng rạn nứt tình cảm
giữa bạn bè và người thân là rất lớn. Điều nay cũng là một dấu hiệu đáng báo động về
mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người. Thế giới càng phát triển, con người
càng bị cuốn theo sự phát triển đó thì tình cảm giữa người với người càng dễ dàng thay
đổi theo chiều hướng xấu đi, họ không còn tin tưởng, quan tâm, yêu thương nhau nhiều
như trước nữa.
Bảng 8: Lí do thực hiện hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook
Tiêu chí
Vì quá bức xúc
Vì lí do khác
Tổng
Tần suất
47,6%
52,4%
100%
Từ kết quả trên có thể thấy mọi người thường có những hành động gây ảnh hưởng
đến hình ảnh người khác do quá bức xúc với các việc làm, lời nói của người bị nói xấu,
chiếm tới 47,6%. Đây là hành động kết quả của một trạng thái tâm lý ở mức không thể
Cho dù người đã từng hay chưa từng làm ảnh hưởng tới hình ảnh của người khác
thì khi họ thấy một bài tung tin đồn nói xấu họ đều chọn cách bỏ qua để tấy chay những
thông tin này. Đây là một dấu hiệu rất tốt làm cho hành vi xấu này không được phát triển
được. Tuy nhiên, có thể những người được hỏi không dám trả lời thực về hành động của
mình. Có thể họ đã từng có hành vi xấu này nhưng họ không muốn hoặc không dám thừa
nhận vì không muốn tự nói xấu bản thân, vì không muốn người khác nghĩ xấu về mình
hoặc vì hối hận về hành động cua bản thân.
Bảng 10: Mức độ hối lỗi đối với hành vi trên
Tiêu chí
Đã từng
Chưa từng
Tổng
Tần suất
14,4%
85,6%
100%
Có thể thấy chỉ có khoảng 14,4% số người được hỏi nói rằng mình đã từng bị nói
xấu, tung tin đồn. Tuy nhiên, kết quả này có thể bị sai lệch do những người thường bị nói
xấu, tung tin đồn là những người nổi tiếng hay có những đặc điểm đặc biệt nào đó. Hơn
nữa, người bị nói xấu, tung tin đồn hiếm khi biết được việc mình bị nói xấu. Nhưng cũng
có thể cho rằng là mọi người thường tập trung nói xấu, tung tin đồn một nhóm người nhất
định, không phải tất cả.
4. Tác động của hành vi tung tin đồn, nói xấu trên fb tới người bị nói xấu, người
nói xấu và những người khác
tương đối
nhỏ (4)
Ảnh hưởng
rất nhỏ
(5)
2,9
0
21,0
27,6
(3)
47,6
6,7
24,8
53,3
14,3
0
13,3
họ. Họ phải lắng nghe những bình luận không hay về mình và thậm chí là không đúng sự
thật mà không thể thanh minh được. Nếu có thanh minh cũng bị nói xấu tiếp. Những điều
này gây ảnh hưởng rất lớn tới tâm lý và đời sống hàng ngày của người bị nói xấu. Hơn
nữa, gia đình của người bị nói xấu cũng bị ảnh hưởng rất nhiều .
Đối tượng thứ 2 bị ảnh hưởng trong việc nói xấu, tung tin đồn là cộng đồng những
người sử dụng facebook. Họ bị kéo vào những “trận chiến”, những cuộc nói xấu người
khác và bị dụ dỗ có những suy nghĩ và hành động lệch lạc, không đứng đắn. Đồng thời,
facebook cũng bị mất đi sự trong sạch khi liên tục có những hình ảnh, lời nói nói xấu,
tung tin đồn về người khác.
Đối tượng thứ 3 bị ảnh hưởng là chính bản thân người nói xấu, họ sẽ không thể
kiểm soát được các hành động của mình. Nhân phẩm và đạo đức của họ sẽ bị hạ thấp và
không được mọi người yêu quý nếu tiếp tục ngày càng có nhiều hành vi nói xấu, tung tin
đồn người khác.
Đối tượng cuối cùng bị ảnh hưởng là những người xung quanh. Những người này
không bị tác động quá nhiều trong cuộc chiến nói xấu, tung tin đồn nhưng vẫn có những
ảnh hưởng nhất định.
Ngoài ra, hành vi nói xấu, tung tin đồn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chính
người đi nói xấu, đặc biệt là gây đến xích mích với người khác và bị trả đũa nói xấu lại.
Ảnh hưởng này chiếm tới 75,2%, một con số khá lớn. Ngoài ra, hành vi này còn khiến
cho người khác không tin tưởng vào người đi nói xấu, chiếm tới 66,3%. Có khoảng
37,6% người đi nói xấu sẽ cảm thấy tinh thần họ không vui khi đi nói xấu người khác.
5. Thái độ và hành vi của công chúng mục tiêu khi bị tung tin đồn, nói xấu hay
bắt gặp hành vi tung tin đồn, nói xấu trên fb
Bảng 12: Lượng người đã từng bị nói xấu trong số những đối tượng được điều tra
Tiêu chí
Đã từng
Chưa từng
có xu hướng “thêm mắm dặm muối” vào câu chuyện. Có tới 85,7% số người được hỏi
không trả lời câu hỏi này nên chúng ta cũng chưa đánh giá rõ ràng được về kết quả.
Bảng 14: Thái độ và hành vi của những người bị nói xấu khi rơi vào trường hợp
đó
Tiêu chí
Đứng ra lên tiếng giải thích
Mặc kệ, không quan tâm
Thu mình lại, tránh xa người thân,
bạn bè và toàn xã hội
Hành động khác
Không trả lời
Tần suất
0%
14,3%
0%
0%
85,3%
Tổng
100%
Khi rơi vào hoàn cảnh bị nói xấu, mọi người thường có xu hướng mặc kệ, không
quan tâm. Đây là một cách thức khá tốt khi bị nói xấu. Tuy nhiên, có tới 85,3% người
được hỏi không trả lời câu hỏi này, cho thấy mọi người không muốn đề cập hay bày tỏ
quan điểm về vấn đề này.
Bảng 15: Hành vi của người dùng facebook khi bắt gặp hành vi tung tin đồn, nói
xấu
hành vi tung tin đồn, nói xấu.
V. Kiến nghị, đề xuất
Bảng 16: Giải pháp nhằm giảm bớt hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook
gay ảnh hưởng xấu đến người khác.
Tiêu chí
Không nên hưởng ứng bằng like, comment
hay share những status hay page anti nói
xấu, tung tin đồn người khác
Khuyên can, giải thích nếu như bắt gặp
hành vi tung tin đồn, nói xấu của người
khác
Bản thân mình cũng sẽ suy nghĩ kĩ trước
khi có những hành vi làm ảnh hưởng xấu
đến người khác trên facebook
Tuyên truyền với bạn bè, người thân về tác
động xấu của hành vi này
Hành động khác
Tổng
Tần suất
47,5%
0%
48,4%
4,1%
0%
100%
-
Đưa ra các biện pháp nhằm thay đổi hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook
của giới trẻ, hạn chế những hành vi gây tác động xấu đến người khác trên mạng xã
hội facebook.
Với những nhiệm vụ chính kể trên, chương trình được thực hiện chính ở trên internet đặc
biệt là kênh tương tác facebook, tác động đến những bạn trẻ dùng facebook bằng tiếng
Việt. Sau một năm tiến hành, chuỗi chương trình sẽ được kiểm tra, đánh giá lại nhằm đưa
ra kế hoạch mới phù hợp để tiếp tục chương trình.
II.
Chiến lược cho chương trình:
1. Phân đoạn thị trường
Với mục tiêu đề ra của chương trình, nhóm áp dụng tiêu thức phân đoạn thị trường
theo hành vi của công chúng.
Thứ nhất là đoạn thị trường bao gồm những công chúng đã từng hoặc thường xuyên
có hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook. Đây là những công chúng đã và đang sử
dụng facebook, có thể khó tiếp cận và thay đổi, vì họ không nhận thức được hành vi cử
mình ảnh hưởng đến những người xung quanh và đến chính người bị nói xấu như thế
nào. Họ cho rằng hành vi của mình diễn ra trong quyền hạn của mình và không lien quan
hay ảnh hưởng đến ai. Đối với đoạn thị trường này, nhóm sẽ cố gắng đưa ra những
chương trình giúp thay đổi phần nào suy nghĩ cũng như nhận ra tác hại của hành vi mà họ
gây ra. Khi họ thấy rõ hậu quả thì họ sẽ thay đổi hoặc giảm thiểu hành vi của mình.
Thứ hai, là đoạn thị trường bao gồm những công chúng có thể không có những
hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook nhưng có những hành động khác như like,
share hay comment hưởng ứng, tham gia vào hành vi lan truyền tin đồn. Đoạn thì trường
này có nhiều công chúng hơn đoạn thị trường thứ nhất. Vì hầu hết mọi người nhận ra
được hậu quả của hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook cũng ảnh hưởng đến chính
bản thân mình, nhưng lại không thấy rõ, chính hành vi tham gia vào việc lan truyền tin
định vị đây là một chương trình mang lại lợi ích cho xã hội, nhất là giới trẻ hiện nay. Chỉ
một hành động nhỏ cũng giúp góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây là chuỗi
chương trình mang ý nghĩa, góp phần tạo nên văn hóa facebook, để người ta không còn
chỉ nhìn vào mặt xấu nữa mà còn biết theo đuổi những gì tốt đẹp hơn. Chương trình sẽ để
lại trong lòng công chúng những hình ảnh tốt đẹp nhất về một chương trình có ý nghĩa
tạo nên một môi trường xã hội ảo lành mạnh và không có những hành vi xấu.
4. Xác định mục tiêu
Qua những phân tích và nghiên cứu ở trên, nhóm đưa ra mục tiêu chính của chuỗi
chương trình là:
-
Giúp giới trẻ nhận thức rõ những hậu quả có thể xảy ra đối với xã hội.
Thay đổi thái độ của giới trẻ đối với hành vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook
của người khác.
Nhằm tạo ra một môi trường lành mạnh, trong sạch trên thế giới ảo facebook.
Đưa ra các biện pháp nhằm thay đổi hành vi, tác động đến hành vi của công chúng
mục tiêu đối với việc tung tin đồn, nói xấu trên facebook.
III.
Chương trình Marketing - Mix
1. Product – Sản phẩm
Qua chuỗi chương trình “Sống đẹp đến từng nút like”, sản phẩm cơ bản mà chương
trình muốn mang lại là việc không để xảy ra các hành vi tung tin đồn, nói xấu trên
facebook hoặc việc hưởng ứng hành vi đó.
Sản phẩm bao gồm 3 gói sản phẩm chính:
-
đã từng bị tung tin đồn, nói xấu và hậu quả mà họ phải gánh chịu trong cả thế giới ảo
facebook và trong cả đời sống thực cũng như những tác động không nhỏ đến gia đình và
những người xung quanh họ. Qua đó cho thấy những tác động xấu không thể lường trước
được của hành vi này và cảnh tỉnh giới trẻ hiện nay. Ngoài ra page cũng đăng tải những
câu chuyện về sống đẹp, những hành động đẹp trong đời sống nhằm tác động vào ý thức
sống vì gia đình và xã hội của giới trẻ hiện nay.
1.1.2. Tổ chức event trên fan page
Event được tổ chức ra nhằm tạo sự thu hút của giới trẻ đối với chương trình. Có thể
tổ chức cuộc thi ảnh với áo có logo khẩu hiệu của chương trình. Ảnh dự thi sẽ được gửi
vào mail của chương trình và được đăng tải trên fanpage. Những hình ảnh có đầy đủ
thông tin của người dự thi và đáp ứng yêu cầu của chương trình thì mới hợp lệ. Phần
thưởng cho người có mức ảnh nhiều like nhất là 1 triệu đồng tiền mặt vào áo in logo của
chương trình. Hoặc cuộc thi viết bài kể về những câu chuyện hay những bài học về hành
vi tung tin đồn, nói xấu trên facebook, phần thưởng cho bài viết hay nhất là một triệu
đồng tiền mặt và áo có in logo của chương trình.
1.1.3. In áo có câu khẩu hiệu của chương trình và kêu gọi giới trẻ hưởng ứng
phong trào
Khẩu hiệu của chương trình là “Sống đẹp đến từng nút like”. Áo trắng đi kèm với
hình nút like màu xanh đặc trưng của facebook và đi kèm với câu khẩu hiệu của chương
trình. Áo được bán với giá 100 nghìn đồng một áo, số tiền thu được sẽ góp làm phần
thưởng cho các cuộc thi trong event trên facebook và chi phí thực hiện chương trình.
1.2.
Biện pháp góp phần giúp tạo ra môi trường lành mạnh trên facebook
Tuyên truyền bằng tờ rơi, banner, các chương trình trên truyền hình, các bài viết