Thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2010– cuối 2020 - Pdf 34

Đề tài:
Thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản tại thành phố
Hà Nội giai đoạn 2010– cuối 2020
Trước sự phát triển như vũ bão của thế giới, thời gian này Đảng và Nhà
nước ta đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, khai thác và phát huy tối đa
nội lực, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đầu tư xây
dựng cơ bản là một hoạt động không thể thiếu của mỗi quốc gia, nó góp phần
tạo tiền đề cho quá trình phát triển kinh tế của mỗi đất nước. Đất nước ta cũng
không nằm ngoài quy luật đó, từ trước tới nay hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
thuộc Ngân sách Nhà nước luôn được ưu tiên thực hiện, và làm mọi cách để
ngày càng nâng cao hiệu quả của nó. Trong những năm qua, vốn đầu tư của Nhà
nước liên tục gia tăng, qua đó đã tạo nên sự chuyển biến quan trọng về cơ sở vật
chất kỹ thuật, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản
xuất, cải thiện văn minh đô thị, đóng góp quyết định vào phát triển kinh tế xã
hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước...
Tuy nhiên, việc quản lý và triển khai thực hiện các dự án trong những năm
qua còn nhiều hạn chế và yếu kém, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư, hiệu
quả đầu tư kém, làm giảm chất lượng tăng trưởng kinh tế.... Kết quả là thực
trạng thất thoát, lãng phí và tiêu cực trong đầu tư XDCB đã được đăng tải nhiều
trên các phương tiện truyền thông và tại nhiều diễn đàn, gây nhức nhối trong
toàn xã hội !
Mặc dù chưa có một cơ quan, tổ chức nào đưa ra được tỷ lệ và số liệu chính
xác về thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB là bao nhiêu (10, 20 hay 30% như
nhiều chuyên gia nhận định) nhưng thất thoát, lãng phí là có thực và nó xẩy ra ở
tất cả các khâu, giai đoạn của quá trình đầu tư, từ chủ trương đầu tư, chuẩn bị
đầu tư, thực hiện đầu tư, cấp phát vốn đầu tư, đến khâu nghiệm thu bàn giao đưa
công trình vào sử dụng và quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình.

1



chi phí được duyệt trong quyết toán vốn đầu tư. Các khoản chi phí này chưa
được kiểm tra, giám sát chặt chẽ dẫn đến gian lận, tham nhũng hay rút ruột công
trình gây thất thoát vốn ngay từ khi đồng vốn chưa đi vào dự án.
Trong đầu tư XDCB điều cần nhấn mạnh là có những thất thoát trước mắt và
còn có hậu quả về sau mà chúng gây nên. Những thất thoát trong xây dựng công
trình làm giảm sút chất lượng của công trình, ảnh hưởng đến tuổi thọ của công
trình so với thiết kế. Đây cũng là một thất thoát vốn nhà nước phải tính đến, bởi
lẽ công trình chỉ phục vụ được trong một số năm ít hơn số năm trong luận chứng
được duyệt.
Thất thoát lại có phần thấy được và có phần không thấy được. Khi thời gian
thực hiện một dự án công trình, vì nhiều lý do, bị kéo dài, hiệu quả của dự án
công trình đó sẽ bị sụt giảm bởi lẽ khi đưa công trình vào sử dụng, những điều
kiện kinh tế - xã hội đã rất khác so với lúc xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật.
Tính năng kỹ thuật của các trang thiết bị trong dự án công trình bị lỗi thời trong
khi giá thiết bị so với tính năng kỹ thuật trở nên quá đắt. Mặt khác, trong tình
hình hiện nay, dự án công trình càng bị kéo dài thì giá đất, nhất là ở các đô thị,
càng tăng, kéo theo tiền giải phóng mặt bằng và tái định cư trong các dự án công
trình đó và tổng dự toán cũng càng tăng.
2.

Lãng phí là gì ?

3


Lãng phí là mặt đối lập với tiết kiệm. Trong đầu tư xây dựng cơ bản
(XDCB), mọi việc làm tăng chi phí đầu tư so với mức cần thiết dẫn đến làm
giảm hiệu quả vốn đầu tư được coi là sự lãng phí.
Theo Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cũng như Pháp lệnh của ủy
ban Thường vụ Quốc hội về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chúng ta có thể

Vậy đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt
động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định nhằm từng bước
tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.
Đầu tư xây dựng cơ bản thường xây dựng các công trình có tính chất lâu dài
như: xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, thủy điện, cầu cảng, xây dựng
nhà cửa, công sở, nhà máy phục vụ sản xuất phát triển kinh tế ; các công trình
phúc lợi xã hội như nhà văn hóa, công viên, rạp chiếu phim ...phục vụ phát triển
của xã hội .
1.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản:
1.2.1 Lợi nhuận của đầu tư XDCB phục vụ cho mọi người, mọi ngành trong xã
hội :
Đa số những công trình XDCB có vốn lớn từ Nhà Nước bởi nó nằm trong
kế hoạch và chiến lược phát triển của Quốc gia, nhằm nâng cao cơ sở hạ tầng
phục vụ kinh tế, phục vụ cho mọi ngành, mọi người, mọi nhà. Các công trình
xây dựng cầu đường phục vụ cho giao thông buôn bán, thương mại, trao đổi
hàng hóa đươc thuận tiện ; công trình thủy lợi phục vụ cho Nông nghiệp, Ngư
nghiệp; các công trình xây dựng nhà máy cấp nước sạch phục vụ cho đời sống
nhân dân ; các công trình thủy điện cung cấp nguồn điện cho sinh hoạt gia đình,
cho chiếu sáng công cộng. Ngoài ra còn có các công trình phúc lợi xã hội như
xây dựng trường học, trạm y tế, rạp chiếu phim, công viên …tất cả đều vì mục
đích chung của toàn xã hội. Bên cạnh đó là các công trình xây dựng nhà ở, hay
công sở phục vụ mục đích của một số ít người, tuy nhiên nó cũng gián tiếp gây
ảnh hưởng chung tới cộng đồng.
1.2.2 Nguồn vốn đầu tư lớn cần có sự hỗ trợ của nhà nước :

5


Các công trình XDCB nói trên, thực tế cần một nguồn vốn rất lớn mà vốn tư
nhân không dễ gì đủ để thực hiện được. Mặt khác các công trình trên phục vụ lợi

mành” làm nhiều dự án cùng dở dang, chậm đưa vào sử dụng nên không phát
huy hiệu quả đồng vốn đầu tư, gây thất thoát lãng phí các nguồn lực. Mặt khác
thời gian đầu tư kéo dài, mà ngân sách phải phân tán nên không đủ rót xuống
khiến nhiều địa phương trở thành những đại công trường dang dở. Hơn nữa, do
vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư, giảm khả năng thất thoát lãng phí cần tiến hành phân kì đầu
tư, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục
công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư, khắc phục tình trạng thiếu
vốn, nợ đọng vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
1.2.5 Thất thoát lãng phí do thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài :
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt
động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Trong suốt quá
trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động 2 mặt, cả tích cực và tiêu
cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội…
Trong quá trình đầu tư, quản lý quá trình vận hành kết quả đầu tư không tốt,
không nhanh chóng đưa thành quả đầu tư vào sử dụng đã làm cho công trình
không hoạt động tối đa được công suất, chậm thu hồi vốn và dẫn đến các hao
mòn vô hình.
Ngoài ra cần chú ý đúng mức đến yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu
tư trong năm nhưng thành quả đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay
trong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều năm. Đây là đặc
điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý hoạt
động đầu tư và rất dễ dẫn đến thất thoát lãng phí.
1.2.6 Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư
bị thất thoát do ảnh hưởng của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng :

7


Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB mà là các công trình xây dựng


gây ra những tổn thất về vốn đầu tư. Để giảm thiểu các rủi ro cần phải thực hiện
các phương pháp như :
Thứ nhất, nhận diện rủi ro đầu tư. Có nhiều nguyên nhân rủi ro, do vậy xác
định được đúng nguyên nhân rủi ro sẽ là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải
pháp phù hợp để khắc phục.
Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro. Rủi ro xảy ra có khi rất nghiêm trọng
nhưng có khi chưa đến mức gây nên những thiệt hại về kinh tế. Đánh giá mức
độ rủi ro sẽ đưa ra những biện pháp phòng và chống phù hợp.
Thứ ba, xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro. Mỗi loại rủi ro và
mức độ rủi ro nhiều hay ít sẽ có những biện pháp phòng và chống tương ứng
nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi ro gây ra.
1.3 Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản :
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân sách
nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các
nguồn thu trong nước, nước ngoài( bao gồm vay nước ngoài của chính phủ và
vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền, các cơ quan
nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản .
2. Phân loại thất thoát lãng phí trong xây dựng cơ bản
2.1 Thất thoát lãng phí trong khâu quy hoạch( không có quy hoạch hoặc quy
hoạch không tốt ) :
Quy hoạch là khâu rất quan trọng, làm tiền đề cho các quá trình đầu tư.
Hiện nay, chất lượng quy hoạch phát triển nhiều ngành chưa cao hoặc chậm
được phê duyệt, chưa gắn kết chặt chẽ quy hoạch phát triển ngành với vùng và
địa phương, chưa sát với thực tế, chồng chéo, thiếu tầm nhìn dài hạn, chưa chú
trọng thỏa đáng đến yếu tố môi trường và xã hội… Rõ ràng là hiện chưa có sự
thống nhất giữa quy hoạch “cứng” với quy hoạch “mềm”, giữa quy hoạch mang
tính định hướng với quy hoạch mang tính chỉ tiêu. Chất lượng quy hoạch còn
hạn chế, thiếu tầm nhìn dài hạn và đồng bộ, chưa tuân thủ tính khách quan của
quy luật thị trường. Kế hoạch đầu tư phải chờ điều chỉnh, trong khi quy hoạch


Thất thoát trong khâu khảo sát thiết kế:
Khảo sát không đảm bảo chất lượng, chưa đủ mẫu, chưa sát với thực tế

hoặc không đúng với những tiêu chuẩn, quy chuẩn dẫn đến việc phải khảo sát lại
10


hoặc phải phải thay đổi, bổ sung, điều chỉnh thiết kế, phương án thi công nhiều
lần, kéo theo là làm thay đổi dự toán, làm chậm tiến độ thi công,... gây lãng phí
thời gian, tiền của của dự án; thiết kế không đảm bảo chất lượng, không đồng bộ
gây lún, nứt phải phá đi làm lại; phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật
tư, vật liệu không phù hợp với loại công trình (sử dụng vật liệu quá đắt tiền cho
công trình cấp thấp); việc chọn hệ số an toàn quá cao, tính toán không chặt chẽ
gây lãng phí vật liệu xây dựng.
2.5

Thất thoát lãng phí trong khâu kế hoạch hoá đầu tư :
Bố trí danh mục các dự án đầu tư quá phân tán, dàn trải, không sát với tiến

độ thi công của dự án đã được phê duyệt, bố trí kế hoạch đầu tư cho dự án
không đủ điều kiện dẫn đến kéo dài thời gian thi công, chậm đưa vào sử dụng
làm giảm hiệu quả đồng vốn đầu tư; bố trí kế hoạch đầu tư chỉ chú trọng kế
hoạch khối lượng, không xây dựng kế hoạch vốn dẫn đến phát sinh mất cân đối
giữa kế hoạch khối lượng và kế hoạch vốn dẫn đến hiện tượng thừa thiếu vốn
giả tạo cho các dự án; bố trí kế hoạch đầu tư hàng năm cho các dự án không theo
sát tiến độ đầu tư thực hiện dự án đã được cấp thẩm quyền phê duyệt trong quyết
định đầu tư...
2.6 Thất thoát lãng phí trong khâu đấu thầu xây dựng :
Làm sai lệch bản chất đấu thầu như không thực hiện đúng trình tự đấu thầu;

Thất thoát lãng phí trong cơ chế quản lý giá trong xây dựng :
Giá trị vật liệu xây dựng (VLXD) thường chiếm khoảng 75% - 80% giá trị

xây lắp công trình, nên thất thoát trong đầu tư XDCB phần lớn cũng “rò rỉ” từ
VLXD. Thất thoát trong XDCB đầu tiên phải kể đến các sai sót trong khâu thiết
kế công trình, tính toán không chặt chẽ, chọn hệ số an toàn quá cao... dẫn đến
lãng phí VLXD. Đến khi thực hiện dự toán công trình, cơ quan chức năng dựa
vào đơn giá không chính xác như sử dụng định mức vật tư, đơn giá của những
loại máy móc thi công lạc hậu, nên gây ra lãng phí.
Còn trong quá trình thi công, VLXD qua nhiều khâu trung gian, mua đi bán
lại, đầu cơ nâng giá, gửi giá, tăng khối lượng, dùng vật liệu có giá thấp thay cho
vật liệu có giá cao, dùng vật tư ở địa bàn gần tính vào giá vật tư ở địa bàn xa để
“xơi” chênh lệch cước phí vận chuyển...
2.10 Thất thoát lãng phí trong khâu thanh, quyết toán :

12


Phổ biến nhất là thất thoát do quyết toán khống, không làm vẫn thanh quyết
toán, quyết toán sai chủng loại vật tư, thiết bị so với thực tế thi công. Những
công trình XDCB trái quy định thường sau khi hoàn thành mới lập dự toán để
hợp thức hóa các khoản đã chi. Và trong đó có nhiều khoản chi khống, tham ô là
chuyện thường xảy ra.
Nếu như trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư chủ thầu lập dự toán thấp, chi phí
cần thiết không được tính đúng, khi xây dựng dở dang sẽ xin bổ sung kinh phí;
hoặc lập dự toán vượt xa nhu cầu cần thiết về kết cấu vật tư, khối lượng xây
dựng để khi quyết toán theo dự toán số tiền chênh lệch được chia nhau đút túi
giữa A và B.
3.


định không sát, không đúng chiếm khoảng 60-70% tổng số thất thoát lãng phí.
Chưa kể tình trạng cố ý làm sai, vi phạm pháp luật, vụ lợi trong đầu tư XDCB
còn diễn ra ở nhiều dự án.
Trình độ chuyên môn thấp :
Ngoài việc một số chủ thể tham gia quá trình triển khai các dự án cố ý vi
phạm các quy định quản lý dự án thì ở nhiều trường hợp khác, năng lực hạn chế,
trình độ chuyên môn yếu, thiếu tính chuyên nghiệp của các chủ thể cũng ảnh
hưởng trực tiếp đến tiến độ, chất lượng, giá thành của dự án. Tại Hội thảo toàn
quốc về nguồn nhân lực ngành xây dựng mới đây đã thống nhất nhận định:
nguồn nhân lực trong XDCB vừa thiếu vừa yếu ở tất cả các khâu, các chủ thể
tham gia quản lý triển khai (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, tư vấn khảo sát, thiết
kế, giám sát, đến nhà thầu xây lắp). Thực tế này cũng đã được Đoàn giám sát
của UBTVQH ghi nhận trong quá trình làm việc với các bộ, ngành địa phương.
Báo cáo của Đoàn giám sát cho biết: Một số Ban quản lý dự án không có kỹ sư
xây dựng; Việc phân cấp mạnh cho huyện, xã trong XDCB tỏ ra vượt quá khả
năng chuyên môn của cán bộ thuộc các cấp này...
3.2

Cơ chế chính sách:

3.2.1 Hệ thống chính sách văn bản pháp luật chưa hoàn chỉnh :
Mặc dù nước ta đã có Pháp lệnh, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí,
nhưng vẫn chưa có cơ chế phòng ngừa, đấu tranh một cách cụ thể, đồng bộ,
thống nhất chặt chẽ. Những nội dung pháp luật chưa thật sự tuyên truyền sâu
rộng đến với dân, chưa thấm nhuần vào nhận thức, hành động của mọi người;
14


chưa có chế tài xử lý nghiêm minh, kịp thời những người vi phạm. Việc thực
hiện cải cách hành chính vừa chậm vừa lúng túng, chưa tạo ra tác động tích cực

THỰC TRẠNG THẤT THOÁT LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
CƠ BẢN TẠI HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2001 – CUỐI 2010
I. Vài nét về Hà Nội :
Hà Nội là thủ đô, đồng thời là thành phố đứng đầu Việt Nam về diện tích
tự nhiên và đứng thứ hai về diện tích đô thị sau thành phố Hồ Chí Minh, nó cũng
đứng thứ hai về dân số với 6,472 triệu người. Nằm giữa đồng bằng sông Hồng
trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị và tôn giáo ngay từ
những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, Lý Công Uẩn, vị vua đầu tiên
của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng
Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng
Long là nơi buôn bán, trung tâm văn hóa, giáo dục của cả miền Bắc.
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện
nay có diện tích 3.344,92 km² với dân số là 6.448.837 người (1/4/2009). Gồm 10
quận: Hoàn Kiếm, Ba Ðình, Ðống Ða, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Thanh Xuân, Cầu
Giấy, Long Biên, Hoàng Mai, Hà Đông.1 thị xã : Sơn Tây và 18 huyện : Ðông
Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Gia Lâm (Hà Nội cũ); Ba Vì, Chương Mỹ,
Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất,
Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa (Hà Tây cũ) và Mê Linh (từ Vĩnh Phúc).
Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên,
Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giáp các
tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình và Phú
Thọ.
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế
thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối
giao thông quan trọng của Việt Nam.
Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm
kinh tế của cả quốc gia. Năm 2009, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng
khoảng 6,67%, tổng thu ngân sách khoảng 70.054 tỷ đồng. Hà Nội cũng là một
16


dụng.
Trạm cấp nước sinh hoạt xã Phù Đổng-Gia Lâm khởi công xây dựng
đầu năm 2001 với tổng kinh phí đầu tư xấp xỉ 4,5 tỷ đồng. Sau khi xây dựng
17


hoàn tất, trạm cấp nước được bàn giao cho HTX Dịch vụ nông nghiệp Phù Đổng
vận hành, khai thác. Ngày đầu, hệ thống bơm hoạt động trơn tru, chất lượng
nước bảo đảm.Thế rồi, niềm vui ngắn chẳng tày gang, vì có trạm bơm mà không
có ống dẫn. Cố gắng lắp đặt xong hệ thống đường ống trục chính thì mới té
ngửa người dân trong xã không có nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của
trạm bơm.
Có hai lý do khiến người dân không mặn mà. Thứ nhất, để đấu nối vào hệ
thống cung cấp nước sạch của xã, dân phải bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để
mua đường ống và lắp đặt đồng hồ. Thứ hai, thu nhập bình quân của người dân
còn thấp trong khi hàng tháng phải trả một khoản tiền nước đáng kể. Sau 3 năm,
Phù Đổng chỉ có 100/3.000 hộ dân đăng ký sử dụng nước sinh hoạt. Trong khi
đó hệ thống bơm vẫn phải vận hành, chi phí bảo dưỡng vẫn phải trả, vì "thu
không đủ chi" nên trạm cấp nước đành tạm ngưng hoạt động. Sau 8 năm "đắp
chiếu", giờ trạm cấp nước sinh hoạt xã Phù Đổng thực sự chỉ còn là nơi cho côn
trùng ẩn nấp.
( http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Phong-su-Ky-su/514881/tien-ty-thanh-phelieu.htm )
2.

Thất thoát lãng phí do quy hoạch thiếu đồng bộ giữa ngành, vùng, lãnh

thổ:
Sự thống nhất giữa các quy hoạch của ngành, vùng lãnh thổ là một điều
quan trọng, cần thiết, đảm bảo cho phát triển toàn diện ,cân bằng trong tổng thể
kinh tế - xã hội chung. Nhưng thực tế hiện nay việc lồng ghép các quy hoạch

hàng trăm tỷ đồng ngày đó có thể xây được nhiều ngôi trường học khang trang.
Chính vì không tìm hiểu kỹ tâm lý, nhu cầu sử dụng của người dân, cứ xây đại
nên hậu quả thất thoát nặng nề.Theo đánh giá của các ngành chức năng, việc đầu
tư các trạm nước không đồng bộ, nhiều hạng mục chưa hoàn thành.
Theo thống kê của Sở NN&PTNT, Hà Nội hiện có 16 trạm cấp nước nông
thôn đã đầu tư nhưng không thể sử dụng, nhiều trạm bị hư hỏng hoàn toàn
không có khả năng khôi phục, sửa chữa như: trạm nước tại thôn Kim Tiên (xã
Xuân Nộn, huyện Đông Anh) hoặc trạm nước tại thôn Đoan Lữ (xã An Mỹ,
huyện Hoài Đức). Đó chính là hậu quả của công tác quy hoạch không đồng bộ
giữa các địa phương trong cùng một ngành. Vì mong muốn tất cả người dân trên
địa bàn thành phố có nước sinh hoạt để dùng nhưng cuối cùng mới ngã ngửa là
19


đa số người dân ngoại thành không có nhu cầu hoặc vì điều kiện kinh tế. Bởi lẽ
nhu cầu và mức kinh tế của người dân ngoại thành- người dân nội thành không
thể giống nhau.
( http://hanoimoi.com.vn/newsdetail/Phong-su-Ky-su/514881/tien-ty-thanh-phelieu.htm )
2.2

Thiếu vốn đầu tư gây thất thoát lãng phí :
Do công tác quy hoạch kém, cơ chế xin - cho xuất hiện phổ biến tại các

ngành, địa phương và quyết định đầu tư không gắn liền với trách nhiệm huy
động vốn nên hiện tượng thiếu vốn cho công trình, dở dang công trình gây ứ
đọng vốn; những đồng vốn đã bỏ ra đầu tư là những đồng vốn “chết’’, không
phát huy được hiệu quả sử dụng, gây thất thoát lãng phí.
Ví dụ điển hình là dự án xây dựng tòa tháp đôi của trường đại học Kinh tế
quốc dân. Công trình này được cấp vốn Nhà nước để xây dựng. Mặc dù khởi
công từ năm 2005 nhưng đến nay mới chỉ được lên được tầng thứ 5. Do thiếu

1.

Thất thoát lãng phí trong công tác chuẩn bị đầu tư :
Thất thoát lãng phí trong công tác nghiên cứu thăm dò thị trường:
Thị trường của một dự án chính là đầu ra của dự án. Thông thường nó

được xác định trên cơ sở thị trường mục tiêu của dự án.Thị trường mục tiêu của
dự án được xác định bằng ba bước cơ bản:
- Phân đoạn thị trường
- Xác định thị trường mục tiêu của dự án
- Định vị sản phẩm cho dự án
Việc nghiên cứu thị trường đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian, công sức, nhân
lực và nó có vai trò đặc biệt, vì thế mà nó cần có các số liệu một cách chính xác,
khách quan và cần nguồn kinh phí rất lớn. Như vậy nếu nguồn kinh phí đó
không được sử dụng một cách có hiệu quả thì sẽ gây ra sự thất thoát lãng phí
không hề nhỏ.
Chủ trương chính sách của nhà nước liên quan đến lĩnh vực đầu tư trong
từng giai đoạn. Trong khi việc nghiên cứu thị trường cần một thời gian khá dài.
Vì vậy, đôi khi nó gây nên một sự thất thoát lãng phí không đáng có. Nguồn
21


nhân lực thường là các cán bộ trẻ, vì vậy họ có ít kinh nghiệm. Do đó việc quản
lý cũng như xử lý số liệu, phạm vi nghiên cứu không được đúng trọng tâm. Việc
này cũng gây nên một sự thất thoát lãng phí tương đối lớn. Chúng ta có thể kể
đến các công trình do thiếu sự quan trắc, xử lý số liệu dẫn đến đầu tư sai lầm.
Lãng phí trong những quyết định đầu tư thường bắt nguồn từ việc xác định
mục tiêu đầu tư dự án, công tác nghiên cứu thăm dò thị trường không được chủ
đầu tư cân nhắc, tính toán trước khi xây dựng nên khi công trình hoàn thành đưa
vào sử dụng chủ đầu tư mới nhận thấy công trình không phát huy hiệu quả. Ví

cứu thị trường không đúng hướng sẽ dẫn đến thất bại trong đầu tư vào sản phẩm
mới.
Vì vậy việc tiếp cận sai thị trường và phối hợp không đồng bộ các công tác thăm
dò thị trường sẽ gây tổn thất đặc biệt lớn trong quá trình đầu tư.
(http://hanoi.org.vn/publiccity/vi/2010/08/cong-vien-yen-s%E1%BB%9F-10nam- va-con-lau-h%C6%A1n-n%E1%BB%AFa%E2%80%A6/ )
2. Thất thoát lãng phí trong công tác xác định quy mô vốn và huy động vốn:
Vốn đầu tư cho dự án bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Việc đầu tư
được thực hiện trước khi dự án thực hiện cũng như trong quá trình dự án hoạt
động.
Nguồn vốn cho dự án gồm có:
+ Nguồn vốn đầu tư trong nước:
- Vốn nhà nước
- Vốn của dân cư và tư nhân
- Vốn của ngân hàng thương mại
- Vốn trên thị trường tài chính
+ Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
- Vốn ODA
- Vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
- Vốn đầu tư trực tiếp FDI
- Thị trường vốn quốc tế
Việc TTLP trong việc huy động vốn có rất nhiều nguyên nhân, sau đây ta sẽ đi
sâu vào vài nguyên nhân chính:
23


2.1 Việc bố trí vốn ngân sách Nhà nước một cách phân tán, dàn trải dẫn đến

việc thi công dở dang, chậm tiến độ dẫn đến thất thoát lãng phí vốn đầu tư:
Thực trạng này diễn ra một cách phổ biến ở nước ta. Ở Hà Nội có thể kể đến
trường hợp điển hình:

cho ngân sách.
Theo tiến độ dự kiến, ít nhất đến cuối năm 2011 dự án mới hoàn thành và vì
lý do chậm trễ này, các khoản chi phí cho dự án tiếp tục đội lên trong đó lãi vay
vốn ODA là khoản đáng nói.
(http://www.baomoi.com/Du-an-nghin-ty-cua-VTV-Cham-ma-khongchac/45/5553804.epi )
Bên cạnh đó, nếu khâu quyết định đầu tư nếu cân nhắc kỹ hơn, sát sao
hơn thì đã có thể tránh được những lãng phí. Thực tế cho thấy, số lượng và tỷ lệ
các dự án có vi phạm các quy định về quản lý đầu tư (không phù hợp quy hoạch,
phê duyệt không đúng thẩm quyền, không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra,
thẩm định dự án, đấu thầu không đúng quy định, giá dự thầu không phù hợp, ký
hợp đồng không đúng quy định, chậm tiến độ, chất lượng xây dựng thấp, lãng
phí) có xu hướng tăng lên. Như vậy, việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước hợp
lý là rất quan trọng trong chuẩn bị đầu tư.
2.2

Tình hình nợ vốn và hoàn trả tạm ứng vốn không đúng thời điểm dẫn

đến thất thoát nguồn vốn đầu tư:
Một trong những khó khăn của công tác chuẩn bị đầu tư là tình trạng nợ
vốn và hoàn trả tạm ứng không đúng thời điểm: Nợ khối lượng xây dựng cơ bản
hoàn thành do chưa có vốn thanh toán diễn ra ở một số bộ và hầu khắp đang là
vấn đề rất bức xúc. Các khoản nợ XDCB vượt quá khả năng cân đối của NSNN,
dẫn đến việc chiếm dụng vốn lẫn nhau, nợ quá hạn Ngân hàng tăng...
2.3

Thiếu vốn đối ứng nên đã gây khó khăn cho việc giải ngân các dự án

ODA dẫn đến lãng phí nguồn vốn:
Vốn đối ứng cho các chương trình dự án ODA chỉ chiếm một tỷ lệ không
lớn, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ triển khai thực hiện dự án.Tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status