So sánh các biện pháp liên kết từ vựng trong văn bản tiếng việt và tiếng anh - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
________

NGUYỄN PHÚ THỌ

SO SÁNH CÁC BIỆN PHÁP LIÊN KẾT
TỪ VỰNG TRONG VĂN BẢN
TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
MS: 5.04.27

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN KIÊN TRƯỜNG
TS HUỲNH BÁ LÂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2008


1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án này là công trình do tôi thực hiện. Tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận án.
Người cam đđoan

Nguyễn Phú Thọ

2.1.1 Qui chiếu chỉ ngôi ...............................................................................46
2.1.1.1 Từ chỉ ngôi thuộc ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.......46
2.1.1.2 Từ chỉ ngôi là từ chỉ quan hệ thân tộc .........................................48
2.1.1.3 Từ chỉ ngôi là từ chỉ quan hệ khác...............................................50
2.1.2 Qui chiếu chỉ đònh ...............................................................................52
2.1.3 Qui chiếu so sánh ................................................................................54
2.2 Phép thế......................................................................................................56
2.2.1 Thế danh từ .........................................................................................57
2.2.1.1 Từ thế là đại từ chỉ không gian, đại từ chỉ đònh, đại từ chỉ loại ....57
2.2.1.2 Từ thế là từ chỉ ngôi thứ ba .......................................................... 59


3

2.2.1.3 Ý nghóa của đại từ trong phép qui chiếu và phép thế ...................61
2.2.2 Thế động từ .........................................................................................63
2.2.3 Thế mệnh đề .......................................................................................64
2.3 Phép tỉnh lược .............................................................................................65
2.3.1 Tỉnh lược danh từ.................................................................................66
2.3.2 Tỉnh lược động từ ................................................................................68
2.3.3 Tỉnh lược mệnh đề ..............................................................................68
2.4 Phép nối......................................................................................................70
2.4.1 Quan hệ bổ sung..................................................................................72
2.4.2 Quan hệ tương phản ............................................................................73
2.4.3 Quan hệ nhân quả ...............................................................................74
2.4.4 Quan hệ thời gian ................................................................................74
2.4.5 Quan hệ không gian ............................................................................76
2.4.6 Quan hệ trình tự...................................................................................76
2.5 Phép liên kết từ ngữ ...................................................................................77
2.5.1 Lặp từ ngữ ...........................................................................................78

3.2.3.1 Thế mệnh đề tường thuật ............................................................115
3.2.3.2 Thế mệnh đề tình thái .................................................................117
3.2.3.3 Thế mệnh đề điều kiện ................................................................118
3.3 Phép tỉnh lược ...........................................................................................118
3.3.1 Tỉnh lược danh từ...............................................................................119
3.3.1.1 Từ chỉ xuất...................................................................................121
a. Từ chỉ xuất cụ thể .......................................................................121
b. Từ chỉ xuất không cụ thể .............................................................122
3.3.1.2 Hậu từ chỉ xuất ............................................................................123
3.3.1.3 Số từ ...........................................................................................125
a. Số đếm ........................................................................................125
b. Số thứ tự......................................................................................125
c.Từ chỉ lượng bất đònh ..................................................................125
3.3.1.4 Tính ngữ ......................................................................................126
3.3.2 Tỉnh lược động từ ..............................................................................127
3.3.2.1 Tỉnh lược từ vựng.........................................................................129
3.3.2.2 Tỉnh lược tác tử ...........................................................................130
3.3.3 Tỉnh lược mệnh đề ............................................................................131
3.3.3.1 Tỉnh lược tình thái .......................................................................132
3.3.3.2 Tỉnh lược đònh đề .........................................................................132
3.4 Phép nối....................................................................................................133
3.4.1 Quan hệ bổ sung...............................................................................134
3.4.2 Quan hệ tương phản .........................................................................135
3.4.3 Quan hệ nhân quả ............................................................................136
3.4.4 Quan hệ thời gian .............................................................................137
3.4.5 Quan hệ trình tự................................................................................139
3.4.6 Quan hệ giải thích ............................................................................140
3.4.7 Quan hệ so sánh ...............................................................................141
3.5 Phép liên kết từ ngữ .................................................................................142
3.5.1 Lặp từ ngữ ........................................................................................145

Danh mục công trình khoa học đã công bố ....................................................202
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................203


6

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do và mục đích nghiên cứu
Văn bản được xác đònh là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng
nhất của con người. Nó đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu
trên nhiều bình diện với sự ra đời của những công trình có giá trò lớn về lí
thuyết. Những công trình này đã góp phần vào việc tìm hiểu và khám phá các
qui luật ngôn ngữ và những chi phối của chúng trong quá trình giao tiếp.
Người ta thấy rằng các cấu tố của văn bản, hiểu theo nghóa rộng gồm cả văn
bản nói và văn bản viết, có quan hệ nhau về ngữ nghóa, ngữ pháp, ngữ dụng
v.v. Tất cả những quan hệ này hình thành sự liên kết giữa các đơn vò của văn
bản như: từ, cụm từ, ngữ đoạn, câu, đoạn văn v.v. Chúng càng liên kết chặt
chẽ thì hiệu quả giao tiếp càng cao. Liên kết là hiện tượng chung của tất cả
các ngôn ngữ và mỗi ngôn ngữ đều có những biện pháp liên kết, còn gọi là
phương thức hay phép liên kết, khác nhau. Các phép liên kết này đã được các
nhà ngôn ngữ học nghiên cứu, phân loại và miêu tả qua nhiều công trình ngôn
ngữ học. Những công trình này có thể chỉ khảo sát một khía cạnh nào đó của
một trong những phép liên kết, nghiên cứu một hoặc nhiều phép liên kết hoặc
cả hệ thống liên kết văn bản. Dựa vào đặc điểm loại hình ngôn ngữ, các phép
liên kết đã được tìm hiểu tương đối có hệ thống ở một vài ngôn ngữ như tiếng
tiếng Việt và tiếng Anh. Dù chưa được nhận thức một cách đầy đủ và quan
niệm về liên kết còn nhiều chỗ chưa thống nhất nhưng liên kết văn bản và
các phép liên kết thực sự có vai trò vô cùng quan trọng trong thực tiễn hoạt
động ngôn ngữ. Khi nhu cầu giao tiếp giữa các cộng đồng người, giữa dân tộc
này với dân tộc khác, giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác càng cao

thể được khảo sát theo từng bộ phận hoặc trên tổng thể. Dó nhiên, việc nghiên
cứu cũng gắn liền với các phương pháp phù hợp, cách tư duy và lí giải riêng


8

của người nghiên cứu. Như nhận đònh ngay từ đầu, đây là một đề tài có phạm
vi rộng và việc miêu tả, phân tích và so sánh các phép liên kết không phải là
điều đơn giản. Nói chung, việc này đòi hỏi sự nắm vững kiến thức ngôn ngữ
học và bộ máy khái niệm mà qua đó vấn đề sẽ được phân tích và đi vào chiều
sâu cần có. Nếu hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt được nghiên cứu trên
hai bình diện là liên kết hình thức và liên kết nội dung với 12 phép liên kết
khác nhau thì hệ thống liên kết trong văn bản tiếng Anh chủ yếu được qui vào
5 phép liên kết. Các tác giả đã trình bày nội dung các phép liên kết với hệ
thống lí luận làm nền tảng cho nhiều công trình nghiên cứu về văn bản, đối
tượng của ngôn ngữ học văn bản. Tất nhiên, sự khác nhau về cách phân loại
và miêu tả các phép liên kết chòu sự chi phối của đặc điểm loại hình ngôn ngữ
và thực tiễn hoạt động của từng ngôn ngữ.
Để thuận lợi cho việc so sánh và đối chiếu, chúng tôi chấp nhận cách
trình bày các phép liên kết theo M.A.K Halliday và R. Hassan trong tác phẩm
‘Cohesion in English’ [91]. Luận án cũng tham khảo các tài liệu có liên quan
của các tác giả để có cách miêu tả và lí giải phù hợp. Với chủ đònh tìm ra
những tương đồng và dò biệt của các phép liên kết nên đối tượng khảo sát
trong luận án này là các phương tiện từ vựng hiện diện hay không hiện diện
được sử dụng trong các câu hay phát ngôn trong văn bản tiếng Việt và tiếng
Anh. Ngữ nghóa và ngữ dụng của các phương tiện từ vựng trong văn bản được
tìm hiểu, phân tích với những ví dụ minh họa nhằm chứng minh sự ‘ràng
buộc’ vào nhau của các yếu tố liên kết. Diệp Quang Ban [4:343] xác đònh
“Quan hệ nghóa-lôgic giữa câu này với câu khác có thể được diễn đạt bằng
những yếu tố ngôn ngữ có quan hệ giải thích cho nhau, và chính các yếu tố

liên quan đến đề tài.


10

3. Lòch sử nghiên cứu vấn đề
Như đã nói, văn bản là sản phẩm ngôn ngữ phục vụ cho nhu cầu giao
tiếp của con ngøi. Chúng là những tổng thể hợp nhất gồm các ngữ đoạn, câu
hay phát ngôn có nhiều kích cở khác nhau. M.A.K. Halliday [91] khẳng đònh
rằng đơn vò giao tiếp cơ bản không phải là từ hay câu mà là văn bản. Những
nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như: H. Harmann, H. Weinrich và W. Dressler
cũng thừa nhận văn bản là đơn vò có chức năng giao tiếp cao nhất. Từ quan
niệm này, quan hệ giữa nội dung văn bản với hoàn cảnh sử dụng ngôn ngữ để
đạt hiệu quả giao tiếp đã được quan tâm nghiên cứu. Đồng thời, văn bản
được xác đònh là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản. Nhiều thuật
ngữ, khái niệm và tên gọi như: cú pháp văn bản, ngữ pháp văn bản, ngôn ngữ
học diễn ngôn, xuyên ngôn ngữ học, phân tích diễn ngôn v.v. và những nội
dung như: tính hiểu được của văn bản, cách chuyển đổi quy chiếu người và
vật, sự phân bố phần đề và phần thuyết của phát ngôn, phương thức liên kết
v.v. xuất hiện trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ ra đời từ những năm
60 của thế kỷ XX đến nay. Tuy nhiên, các công trình liên quan đến việc so
sánh và đối chiếu các phép liên kết giữa các ngôn ngữ thực sự chưa nhiều.
Trong các công trình ngôn ngữ học ở Việt Nam, có thể nói ‘Hệ thống liên kết
văn bản tiếng Việt’ của Trần Ngọc Thêm [56] là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu
các phép liên kết trong văn bản tiếng Việt. Trong công trình này, văn bản
được nghiên cứu theo quan điểm riêng của tác giả với những kiến giải sâu sắc
về hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Công trình đã được đánh giá cao,
khởi đầu cho nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến văn bản và có
vai trò quan trọng trong nội dung giảng dạy về văn bản tiếng Việt ở trường
phổ thông và đại học hiện nay.

12

đặc thù như: phép tuyến tính, hoán ngữ trực thuộc, hậu ý, ngôn điệu v.v. cũng
đã được đề cập.
Hoàng Văn Vân [72] phác thảo tình hình chung về việc nghiên cứu ngữ
pháp tiếng Việt theo quan điểm chức năng hệ thống trong ‘Ngữ pháp kinh
nghiệm của cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống’. Trong
công trình này, cú tiếng Việt, ‘đơn vò cơ bản của cú pháp’, được khảo sát ở
bình diện ngữ nghóa và ngữ pháp-từ vựng. Tác giả đã mô tả và phân tích ngữ
pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt như một cách khẳng đònh vai trò quan
trọng của cú trong nghiên cứu ngữ pháp theo quan điểm ngữ pháp chức năng.
Trong nhiều công trình nghiên cứu văn bản và diễn ngôn của các nhà
ngôn ngữ học nước ngoài, có thể nói ‘Cohesion in English’ của M.A.K.
Halliday và R. Hassan [91] là công trình nổi bật nhất. Công trình được xem là
nền tảng cho các khái niệm, luận điểm và kiến giải cụ thể liên quan đến các
phép liên kết với đơn vò khảo sát chủ yếu là cú trong văn bản tiếng Anh.
Cũng trên cơ sở công trình này, tác phẩm ‘An Introduction to Functional
Grammar’ của M.A.K. Halliday ([94] và [95]) đã ra đời với những chỉnh sửa
và bổ sung thiết yếu nhằm khẳng đònh vai trò của văn bản và các phép liên
kết theo quan điểm chức năng hệ thống. Nhìn chung, theo quan sát của chúng
tôi, hầu như các tài liệu phân tích diễn ngôn, trong nước lẫn ngoài nước, cũng
có những trích lược hoặc phân tích quan hệ liên kết giữa các cú hoặc giữa các
phát ngôn theo quan điểm mà ông thể hiện trong các công trình của mình.
Ngoài một vài công trình tiêu biểu trên, những bài viết trong các tạp
chí ngôn ngữ tiếng Việt đều có đề cập đến văn bản ở nhiều khía cạnh với
quan điểm và cách lí giải riêng. Những vấn đề như: liên kết hồi chỉ, liên kết
qui chiếu, ngữ nghóa của liên từ, đại từ tiếng Việt v.v. được khảo sát và chứng
minh qua ngữ liệu tiếng Việt và tiếng Anh. Nhìn chung, những vấn đề này chỉ



Trên cơ sở kế thừa các công trình đi trước, với cái nhìn khái quát và
những phát hiện cụ thể qua trình bày và so sánh, luận án có những đóng góp
như sau:
° Về mặt lý thuyết

Các khái niệm về văn bản và liên kết được sử dụng rộng rãi hiện nay
chủ yếu được khái quát từ tiếng Anh. Trên cơ sở mô tả hệ thống liên kết trong
văn bản tiếng Việt, luận án hy vọng sẽ làm rõ thêm một số đặc điểm khái
quát, phân tích thêm về độ đậm nhạt ở một số khía cạnh mà vì nhiều lý do
các công trình lý thuyết đã công bố chưa đề cập đến. Bên cạnh đó, thông qua
những phép liên kết gắn liền với đặc điểm của tiếng Việt, luận án cũng chỉ ra
được những thuộc tính riêng của loại hình ngôn ngữ đơn lập và bổ sung thêm
một số phát hiện cụ thể về hoạt động của hai ngôn ngữ không cùng loại hình.
°Về mặt thực tiễn

Hiện nay trình độ am hiểu và sử dụng các phép liên kết trong các ngôn
ngữ nói chung, trong tiếng Việt và tiếng Anh nói riêng là vấn đề còn bỏ ngõ
và chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, kết quả của luận án này sẽ là một
tài liệu hữu ích cho việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và
tiếng Việt cho người nước ngoài. Đồng thời, đây cũng là tài liệu thiết thực để
có thể tham khảo và sử dụng vào việc đối dòch Anh-Việt và Việt-Anh. Trong
chừng mực nào đó, luận án hy vọng phác thảo được một bức tranh tổng quan
về liên kết văn bản với những phân tích, nhận đònh có ý nghóa về các phép
liên kết, khả dó tiếp nối được quá trình nghiên cứu của những công trình đi
trước.


15

6. Bố cục

Luận án đúc kết những đặc điểm khái quát nhất về liên kết văn bản,
nhận đònh chung về các vấn đề đã trình bày và nhấn mạnh những điểm chính
yếu sau khi so sánh và đối chiếu các phép liên kết. Đồng thời, luận án cũng
nêu triển vọng nghiên cứu về văn bản trong tương lai.


17

CHƯƠNG 1 LIÊN KẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Văn bản
Trước đây, các nhà ngôn ngữ dùng thuật ngữ ‘văn bản’ để nói về tất cả
những trường hợp ghi lại ngôn ngữ trong sử dụng. Nó mang tính chất khép kín
và ít lệ thuộc vào ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ. Hiện nay, nhiều nhà ngôn ngữ
đồng ý rằng ‘văn bản’ là sản phẩm ngôn ngữ thể hiện bằng văn viết, ‘ngôn
bản’ là sản phẩm ngôn ngữ thể hiện qua lời nói và ‘diễn ngôn’ được hiểu là
bao gồm cả ‘văn bản’ và ‘ngôn bản’. Dressler [87] nhận đònh rằng đơn vò ngôn
ngữ cao nhất và ít lệ thuộc nhất không phải là câu mà là văn bản. Trong luận
án này, văn bản được hiểu là đơn vò giao tiếp có tính hoàn chỉnh, bao gồm
hàng loạt đơn vò lớn hơn câu, tồn tại dưới dạng nói hoặc viết thuộc nhiều thể
loại khác nhau. Nó mang một nội dung cụ thể và hướng đến một đối tượng
giao tiếp nhất đònh. Như vậy, văn bản có đặc trưng là tính hoàn chỉnh về hình
thức và nội dung. Về hình thức, kết cấu của văn bản có thể gồm hai hoặc ba
thành phần như: mở đầu, thân bài và kết luận. Trong một số trường hợp đặc
biệt, văn bản có thể chỉ là một ngữ đoạn, một câu hay một phát ngôn. Về nội
dung, hầu như văn bản nào cũng liên quan đến một chủ thể với trạng thái,
hành động và tính chất của chủ thể đó trong một thời gian và không gian cụ
thể. Nói khái quát, văn bản liên quan chặt chẽ đến những vấn đề giao tiếp
như: ai, điều gì, như thế nào, tại sao, ở đâu và lúc nào. Khi phản ánh hiện
thực, văn bản có sự hạn chế vì các đơn vò ngôn ngữ khi được sử dụng phải

De Beaugrande và Dressler [85] cho rằng mỗi văn bản viết hay nói đều
được xem là một sự kiện giao tiếp. Nó phải đạt bảy tiêu chuẩn của tính chất
văn bản. Nếu thiếu một trong những tiêu chuẩn này thì văn bản được xem như


19

không thực hiện được chức năng giao tiếp. Những tiêu chuẩn đó là: tính liên
kết, tính mạch lạc, tính dự đònh, tính có thể chấp nhận được, tính có thông tin,
tính có liên quan và tính liên văn bản. Tính liên kết liên quan đến cách thức
mà trong đó các thành phần của văn bản có nối kết nhau trong một chuỗi ngữ
đoạn, mệnh đề, câu hay phát ngôn bằng các phương tiện từ vựng hoặc ngữ
pháp được chọn lựa trong hệ thống ngôn ngữ. Tính mạch lạc liên quan đến
việc cho thấy những từ được tiếp nhận là có thể sử dụng được và thích ứng với
nhau. Cả liên kết và mạch lạc đều có chức năng kết hợp văn bản lại nhằm
làm cho các chuỗi câu có ý nghóa. Tính dự đònh thuộc về người tạo văn bản và
tính có thể chấp nhận được thuộc về người tiếp nhận văn bản, nghóa là người
tạo văn bản phải hướng đến một dự dònh nào đó và người tiếp nhận văn bản
phải chấp nhận được nó theo những khái niệm hữu quan và sự tương tác giao
tiếp. Tính có thông tin, tính có liên quan và tính liên văn bản liên quan đến
cấu trúc thông tin, đến tình huống giao tiếp và quan hệ giữa văn bản này với
văn bản khác. Một cách khái quát, văn bản có thể là một đoạn văn được nói
hoặc viết ra thành một tổng thể hợp nhất, có độ dài ngắn khác nhau và được
nhìn nhận như “một thứ câu bậc trên, một thứ đơn vò ngữ pháp lớn hơn câu
nhưng có quan hệ với câu theo cách câu quan hệ với mệnh đề và mệnh đề quan
hệ với cụm từ “ [91:2]. Tóm lại, với những đặc trưng vốn có của ngôn ngữ, văn
bản được con người sử dụng như một công cụ giao tiếp chính yếu để tồn tại và
phát triển.
1.1.2 Câu, phát ngôn và cú
Câu, phát ngôn và cú được tìm hiểu với nhiều quan niệm khác nhau.

về chủ đề. Nếu một phát ngôn có đủ cả hai phần chủ đề và thuật đề thì nó sẽ
hoàn chỉnh về cấu trúc và được gọi là câu. Trong thực tế, phát ngôn hoàn
chỉnh về cấu trúc tương ứng với câu đúng, câu bình thường hoặc câu theo


21

nghóa hẹp. Câu có thể chia làm hai loại là câu tự nghóa và câu hợp nghóa. Nếu
một phát ngôn thiếu một trong hai thành phần chủ đề-thuật đề hoặc thiếu cả
hai thì nó là ngữ trực thuộc. Cấu trúc chủ đề-thuật đề được cụ thể hóa bằng
cấu trúc ngữ pháp nòng cốt cấu tạo từ những thành phần của phát ngôn. Trần
Ngọc Thêm [56] xác đònh có bốn cấu trúc nòng cốt: nòng cốt đặc trưng, nòng
cốt quan hệ, nòng cốt tồn tại và nòng cốt qua lại. Những thành phần tham gia
các cấu trúc nòng cốt này là: chủ ngữ, vò ngữ, trạng ngữ và bổ ngữ. Về chức
năng, trong cấu trúc chủ đề-thuật đề, chúng có thể là chính tố hay phụ tố của
phát ngôn. Phát ngôn được cấu tạo theo một trong những kiểu cấu trúc nòng
cốt này là phát ngôn đơn, nghóa là chỉ có một cấu trúc chủ đề-thuật đề. Nếu
nó có đầy đủ các thành phần chính thì nó là câu đơn. Nếu không có đầy đủ
thành phần chính thì nó là ngữ trực thuộc đơn. Xét về mặt nội dung, phát ngôn
có hai loại là phát ngôn tự nghóa phát ngôn hợp nghóa. Thành phần câu mà
Trần Ngọc Thêm gọi là ngữ trực thuộc thì Cao Xuân Hạo [31] gọi là câu liên
đới hay câu ứng tiếp vì chúng chỉ có nghóa trọn vẹn nhờ các câu kế cận. Như
vậy, ngữ trực thuộc được Cao Xuân Hạo xem xét trước hết ở mặt hình thức
của chúng. Đó có thể là những câu có tỉnh lược, câu chứa những từ ngữ hồi
chỉ hoặc khứ chỉ, câu bắt đầu bằng những kết từ hoặc những tác tử phân giới.
Còn những câu có ý nghóa trọn vẹn, không cần đến sự bổ sung nghóa của câu
nào khác được gọi là những câu tự lập. Nói chung, xét về cấu trúc, các phát
ngôn có thể gồm hai loại là phát ngôn hoàn chỉnh và phát ngôn không hoàn
chỉnh cấu trúc. Cụm từ hoàn chỉnh về cấu trúc được gọi là cú và cụm từ không
hoàn chỉnh về cấu trúc thì được gọi là ngữ. Yếu tố chính của ngữ được gọi là

câu hay phát ngôn, đoạn văn v.v. Giá trò của mỗi từ được xác đònh theo quan
hệ giữa từ đó vơiù những từ khác trong câu và giá trò của mỗi câu có được do vò
trí của nó trong văn bản và quan hệ giữa nó với các câu khác theo nguyên tắc


23

tổ chức văn bản. Do đó, đặc trưng nổi bật của các yếu tố là tính liên kết văn
bản. Tác dụng của tính liên kết là làm cho văn bản trở thành một thể thống
nhất, chặt chẽ về các mặt nội dung, hình thức và cấu trúc. Tính liên kết đặt
trên cơ sở nghóa và các yếu tố ngôn ngữ được dùng làm phương tiện liên kết
có quan hệ nghóa với nhau theo kiểu yếâu tố này giải thích cho yếu tố kia, làm
cho yếu tố kia trở thành cụ thể hoặc xác đònh theo những cách khác nhau. Do
quá trình tiếp nhận nội dung văn bản phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố hữu quan
như: người phát (người nói hay người viết), nội dung văn bản (thông điệp),
người nhận (người nghe hay người đọc), sự tiếp xúc, ngữ cảnh và mã ngôn
ngữ nên liên kết mà luận án trình bày ở đây làø liên kết dựa trên cơ sở ngữ
nghóa của các yếu tố ngôn ngữ nằm trong các phát ngôn, có xét đến các yếu
tố nêu trên. Sau đây là một đoạn văn cho thấy các phát ngôn có liên kết nhau
theo một số phép liên kết mà luận án sẽ trình bày.
(1). Trong suy nghó của nhiều người Việt Nam lâu nay, họ vẫn lấy quyền lực
làm tri thức mà chưa thực sự coi tri thức là quyền lực, quyền được vào đời và
tự khẳng đònh (1). Đây là một nếp nghó cố hữu xuất phát từ một xã hội khoa cử
phong kiến, nghóa là phải qua thi cử, đỗ đạt mới được ra làm quan và được
xem là thành đạt (2). Nếp nghó này không còn phù hợp với một xã hội năng
động và hiện đại như hôm nay nữa (3). Tri thức luôn là chân lí (4). Một chân
lí thì có giá trò trong mọi xã hội, còn nếp nghó thì có thể thay đổi nếu nó
không còn phù hợp (5). (Tuấn Hải - Tri thức phải được coi là quyền lực - báo
tuổi trẻ số 229/05, ngày 4/10/05).
Chủ đề được nói đến trong đoạn văn này là ‘nếp nghó của người Việt




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status