ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------VÕ TẤN TÚ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CHU RU
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------VÕ TẤN TÚ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CHU RU
Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62.22.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS. TS. Ngô Văn Lệ
2. PGS. TS. Thành Phần
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2010
những vấn đề đặt ra hiện nay ................................................................................ 49
1.3.3. Cơ sở lý luận về hôn nhân ........................................................................... 54
1.3.4. Cơ sở lý luận về gia đình ............................................................................. 70
1.3.5. Hệ thống thân tộc ......................................................................................... 82
1.4. Tiểu kết chương 1 ............................................................................................... 93
CHƯƠNG 2. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHU
RU Ở TỈNH LÂM ĐỒNG ........................................................................................ 96
2.1. Hôn nhân truyền thống ...................................................................................... 96
2.1.1. Những quan niệm, loại hình hôn nhân ........................................................ 96
2.1.2. Các quy tắc trong hôn nhân ........................................................................ 110
2.1.3. Một số nghi lễ trong hôn nhân .................................................................... 115
2.1.4. Vấn đề cư trú sau hôn nhân ........................................................................ 125
2.1.5. Vấn đề ly hôn .............................................................................................. 126
2.2. Gia đình truyền thống ....................................................................................... 128
2.2.1. Hình thái gia đình của người Chu ru .......................................................... 128
2.2.2. Các mối quan hệ trong đại gia đình mẫu hệ truyền thống .......................... 135
2.2.3. Quan hệ giữa gia đình và dòng họ, xóm giềng ........................................... 149
2.2.4. Các chức năng gia đình của người Chu ru ................................................. 151
2.2.5. Những nghi lễ trong gia đình người Chu ru ............................................... 156
2.3. Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 170
CHƯƠNG 3. NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN
NAY CỦA NGƯỜI CHU RU .................................................................................. 172
3.1. Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi ................................................................... 172
3.1.1. Những biến động trong lịch sử ................................................................... 172
3.1.2. Sự xâm nhập của các tôn giáo .................................................................... 180
3.2. Những biến đổi về chính trị, kinh tế – xã hội của người Chu ru ................. 181
3.2.1. Thời kỳ từ 1975 đến 1985 .......................................................................... 182
3.2.2. Thời sau đổi mới (1986 đến nay) ............................................................... 184
Stiêng, Hoa, Tày, Nùng… trong đó có ba tộc người được xem là người bản
địa gồm: Cơ ho, Mạ và Chu ru.
Chu ru là một trong năm tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo –
Polynesian có dân số ít nhất. Cho đến nay, tộc người Chu ru vẫn còn lưu giữ
chế độ mẫu hệ khá đậm nét. Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 1999 của
Cục thống kê Lâm Đồng cung cấp, dân số tộc người Chu ru có 14.579 người,
họ sống rải rác ở một số huyện như Lạc Dương, Di Linh, Đức Trọng, Đơn
Dương… nhưng tập trung cư trú chủ yếu ở hai huyện Đơn Dương và Đức
Trọng. Tộc người Chu ru cho đến nay rất ít được các học giả trong và ngoài
nước quan tâm nghiên cứu. Do đó, rất nhiều phong tục, tập quán cổ truyền
đặc sắc của người Chu ru còn chưa được khám phá, hoặc có chăng cũng chỉ
giới thiệu ở mức sơ lược, chưa thỏa đáng so với bề dày lịch sử – văn hóa mà
tộc người này đã dày công tạo dựng.
2
Mỗi tộc người đều có những nét văn hóa đặc trưng của mình. Trong đó,
hôn nhân và gia đình là một hiện tượng xã hội – văn hóa phản ánh đặc điểm
xã hội và đặc trưng văn hóa tộc người. Nhờ vào việc lưu giữ và duy trì những
nét đặc trưng văn hóa ở trong hôn nhân và gia đình mà các nhà Dân tộc học
mới có cơ sở khoa học để dựng lại mối quan hệ xã hội tộc người, cũng như
làm sáng tỏ thêm tính đặc thù của từng tộc người. Bởi, hôn nhân và gia đình
chứa đựng và cấu trúc hóa nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa, nó liên quan chặt
chẽ với toàn bộ hệ thống xã hội như: kinh tế, văn hóa, giáo dục... Hôn nhân là
những tập tục, những nghi lễ mà các tộc người đã thực hiện trong các giai
đoạn lịch sử. Hệ quả của hôn nhân là tạo lập nên gia đình mới. Gia đình là tế
bào cơ sở của mọi xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng, hình thành nhân cách con
người, đóng vai trò chủ đạo trong tái tạo, bảo tồn và duy trì nòi giống, là điều
kiện tiên quyết để giữ gìn, bảo lưu văn hóa truyền thống tộc người. Chính vì
thiệu một cách đầy đủ về gia đình và hôn nhân, làm rõ cấu trúc tổ chức xã hội
Chu ru, góp phần làm sáng tỏ những quan hệ xã hội tộc người cũng như dựng
lại lịch sử tiến triển của các hình thức gia đình và hôn nhân, nhằm góp phần
làm giàu thêm kho tàng văn hóa chung của các dân tộc Việt Nam. Qua đó, tìm
thấy những mặt tích cực để phát huy, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực
nhằm xây dựng nếp sống văn minh, vừa hiện đại vừa thể hiện bản sắc tộc
người. Luận án tập trung làm rõ:
- Những quan niệm, quy tắc, hình thức, các bước thực hành trong nghi
lễ hôn nhân và vấn đề cư trú sau hôn nhân của người Chu ru;
- Loại hình, quy mô, các mối quan hệ trong gia đình, quan hệ giữa gia
đình dòng họ, xóm giềng, các chức năng và các nghi lễ trong gia đình;
4
- Khảo sát những biến đổi trong hôn nhân và gia đình của người Chu ru
ở Lâm Đồng hiện nay trong mối tương tác với những biến đổi về kinh tế - xã
hội, giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người.
Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của người Chu ru ở Lâm Đồng,
nhằm làm rõ những vấn đề liên quan đến xã hội truyền thống cũng như xã hội
đương đại, mối quan hệ tộc người giữa người Chu ru với các dân tộc cộng cư
mà các ngành khoa học xã hội khác đã và đang nghiên cứu ở khu vực này.
Nghiên cứu đề tài nhằm góp phần xây dựng luận cứ khoa học để nhận thức và
giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng cũng như toàn khu vực Tây
Nguyên, giúp cho các cấp chính quyền, các nhà hoạch định chính sách kịp
thời hoàn thiện hoặc đề ra những chính sách phù hợp, về: dân số và kế hoạch
hóa gia đình, xây dựng nền văn hóa mới, gia đình mới phù hợp với từng dân
tộc.
Việc nghiên cứu tìm hiểu về người Chu ru nói chung và nhất là vấn đề
hôn nhân và gia đình của họ nói riêng là việc làm cần thiết, mang ý nghĩa
Đảng với những chính sách đúng đắn về dân tộc, nhiều học giả ngày càng
quan tâm nghiên cứu về các dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Chu ru nói
riêng. Trong số các công trình nghiên cứu đó, nổi bật là những tác phẩm và
một số bài viết như: “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng” (1983) do Mạc Đường chủ
biên, Sở Văn hóa thông tin Lâm Đồng xuất bản. Công trình dày 313 trang. Đó
là kết quả nghiên cứu điền dã dài ngày về cộng đồng các tộc người bản địa ở
Lâm Đồng vào đầu những năm 1980 thế kỷ trước, với sự tham gia của nhiều
nhà nghiên cứu: Mạc Đường, Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Ngọc Chiến,
Nguyễn Văn Diệu, Nguyễn Thị Hòa, Trần Cẩm…Công trình này đã đề cập
6
đến nhiều vấn đề về kinh tế - xã hội, văn hóa của các tộc người Cơ ho, Mạ,
Chu ru.
Về tộc người Chu ru, có bài viết “Người Chu ru” của Nguyễn Văn
Diệu (từ trang 271 – 290). Bài viết đã trình bày những vấn đề chung về: sinh
hoạt kinh tế, tổ chức xã hội, hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân của người
Chu ru, tác giả viết: “Chế độ hôn nhân của người Chu ru là chế độ hôn nhân
một vợ một chồng và cư trú bên vợ. Người phụ nữ đóng vai trò chủ động
trong hôn nhân mà họ thường gọi là tục “bắt chồng” [21, tr.285]. Về gia
đình, tác giả viết: “Gia đình trong xã hội cổ truyền của người Chu ru là đại
gia đình mang nhiều tàn dư của chế độ mẫu hệ. Điều đó biểu hiện tập trung
nhất ở vai trò của người vợ, người cậu (miăh) và quyền thừa kế tài sản thuộc
về những người con gái trong gia đình. [21, tr.282]. Đây là nguồn tư liệu
quan trọng liên quan đến đề tài của chúng tôi, giúp chúng tôi đặt ra những câu
hỏi nghiên cứu và có sự đối chiếu so sánh với những kết quả nghiên cứu của
mình.
Liên quan đến tộc người Chu ru, còn có các công trình nghiên cứu khác
như: “Dân tộc Chu ru”, in trong “Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam” (1983),
cơ sở so sánh với hôn nhân và gia đình người Chu ru ở Lâm Đồng. Tuy
nhiên, hạn chế của công trình này là chưa đề cập cụ thể đến hôn nhân và gia
đình của người Chu ru.
Trong luận án, chúng tôi đã tham khảo và kế thừa một số công trình và
luận án, luận văn nghiên cứu về hôn nhân và gia đình của các tộc người, như:
Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam (1994) của
Đỗ Thúy Bình, nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội; Gia đình và hôn nhân
của người Chăm ở Việt Nam (2001) của Bá Trung Phụ, nhà xuất bản Văn hóa
8
Dân tộc, Hà Nội; Người phụ nữ Ê đê trong đời sống xã hội tộc người (2001),
của Thu Nhung Mlô Duôn Du (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội); Hôn nhân và gia
đình của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long (2008), của Đặng Thị
Kim Oanh (Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh); Sự biến
đổi trong hôn nhân của người Chil (Cil) ở Lâm Đồng (2009), của Phạm
Thành Thôi (Luận án Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).
Các công trình nghiên cứu này nó đã giúp chúng tôi có được cái nhìn
tổng quát và sâu sắc về đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của các tộc người
có cùng thiết chế mẫu hệ và định hướng tốt cho chúng tôi cách tiếp cận vấn đề
để nghiên cứu. Từ đó, chúng tôi có được sự liên hệ, so sánh, đối chiếu về
những điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa các tộc người.
Với những công trình và những bài viết đã xuất bản được liệt kê trên là
những công trình khoa học quý giá cho những nghiên cứu tiếp theo về tộc
người Chu ru. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện, mang tính hệ thống và chuyên biệt về tộc
người theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với nếp sống văn hóa mới.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
5.1. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp sưu tầm, tổng hợp và phân tích dữ liệu có sẵn, nhằm
giúp tác giả có được những kiến thức cơ bản về tộc người Chu ru ở tỉnh Lâm
Đồng; hiểu được địa bàn cư trú, quan hệ xã hội, đời sống kinh tế, hoạt động
tôn giáo, cũng như cách tiếp cận đề tài, những quan điểm và những lý thuyết
10
ứng dụng trong nghiên cứu các vấn đề hôn nhân và gia đình ở Việt Nam nói
chung, tộc người Chu ru nói riêng.
Trên cơ sở những thông tin thu thập được từ những nhà nghiên cứu đi
trước, tác giả phân tích và chọn lọc những thông tin quan trọng để đưa vào so
sánh với cộng đồng đang nghiên cứu về các vấn đề: kinh tế, văn hoá, xã hội
và đặc biệt là quan hệ hôn nhân, nghi lễ trong hôn nhân, quan hệ gia đình,
nghi lễ trong gia đình…
Đề tài hôn nhân và gia đình của người Chu ru ở tỉnh Lâm Đồng thuộc
chuyên ngành Dân tộc học, nên việc tiến hành nghiên cứu điền dã dân tộc học
là công việc không thể thiếu. Các phương pháp nghiên cứu như quan sát và
tham dự, phương pháp phỏng vấn hồi cố, phỏng vấn sâu trực tiếp, ghi chép,
ghi băng, chụp ảnh, quay phim… được xem là phương pháp nghiên cứu chính
nhằm thu thập, sưu tầm những tư liệu mang tính trung thực cao. Trong đó,
chúng tôi có sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương
pháp định lượng. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng phương pháp liên ngành
để có hướng nhìn rộng hơn.
+ Phương pháp quan sát tham dự, là phương pháp chuyên ngành của
Nhân học/Dân tộc học, buộc người nghiên cứu phải sống, làm việc và nghiên
cứu cùng cộng đồng trong một thời gian dài. Với phương pháp này, sẽ giúp
ngõ (ngày 28 tháng 2 năm 2007) và lễ cưới (ngày 20 tháng 12 năm 2009) của
chị Touneh Mai Kiểm và anh Bơju Ya Phú, ở thôn R’lơm, xã Tu Tra, huyện
Đơn Dương; lễ dạm ngõ của chị Bơnahria Ma Nơu và anh Touprong Ya Jin,
ngày 21 tháng 12 năm 2009, ở thôn Ma Đanh, xã Tu Tra, huyện Đơn
Dương…
12
+ Phương pháp hồi cố, đây là một phương pháp nghiên cứu tàn dư
trong dân tộc học. Theo phương pháp này, chúng tôi đã gặp gỡ, trao đổi và
phỏng vấn với những người Chu ru lớn tuổi, trí thức, các Tha plơi (già làng),
Bơjơu (thầy cúng), Pô bơnỡ (trưởng thủy), Mò boại (bà mụ)… ở các làng
khác nhau nhằm thu thập tư liệu để hồi cố lại xã hội mẫu hệ xưa kia của họ,
cũng như những thay đổi đang diễn ra hiện nay, vừa khai thác, thu thập thêm
tư liệu mới, vừa kiểm chứng các tư liệu thư tịch.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu dân tộc học, là phương pháp lấy thông
tin từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định.
Phương pháp này sẽ được thực hiện cùng với việc thực hiện phương pháp
quan sát – tham dự trong quá trình đi điền dã tại cộng đồng. Mục đích tìm
hiểu những quan niệm và suy nghĩ của các đối tượng khác nhau về quá trình
hình thành cộng đồng, về hôn nhân, gia đình và những thay đổi về hôn nhân
và gia đình theo thời gian.
Theo phương pháp này, chúng tôi đã thực hiện hơn 100 cuộc phỏng vấn
sâu cá nhân tại các làng Chu ru theo các câu hỏi đã được chuẩn bị trước. Đối
tượng được phỏng vấn rất đa dạng về thành phần, gồm những người hiểu biết
về văn hóa tộc người mình.
+ Phương pháp nghiên cứu đồng đại và lịch đại, là một trong những
phương pháp nghiên cứu, phân tích các dạng tài liệu thư tịch, tư liệu điền dã.
Sử dụng phương pháp này, tác giả hướng đến mục đích tìm hiểu văn hóa của
Về tiêu chí chọn mẫu:
- Là tộc người Chu ru.
- Sinh sống trên địa bàn các thôn, thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Tuổi từ 18 trở lên (tính đến thời điểm nghiên cứu của đề tài).
14
- Đã lập gia đình.
Với bốn tiêu chí chọn mẫu trên tiến hành chọn có chủ định các mẫu
thỏa mãn bốn tiêu chí đã nêu.
+ Phương pháp ghi chép hệ thống thân tộc
Để ghi chép hệ thống thân tộc của người Chu ru, trong luận án, phương
pháp ghi chép bằng ký hiệu và dấu hiệu được chúng tôi chọn sử dụng. Đối với
phương pháp ghi chép bằng ký hiệu, chúng tôi chọn phương pháp ghi chép
theo Iu. Levin, nhưng không dùng mẫu tự theo tiếng Nga mà dùng mẫu tự
bằng tiếng Anh bằng cách mã hóa bằng một mẫu tự cho mỗi ký hiệu như: F,
M, S, D, H, W, B, Z. Đối với phương pháp ghi chép bằng dấu hiệu, chúng tôi
chọn cách ghi chép bằng dấu hiệu theo quy ước sau đây:
5.2. Nguồn tài liệu sử dụng trong luận án
Thực hiện đề tài Hôn nhân và gia đình của người Chu ru ở tỉnh Lâm
Đồng, chúng tôi đã tham khảo và thu thập nhiều công trình, bài nghiên cứu
của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến tộc người Chu ru ở mức
độ khác nhau. Đồng thời, chúng tôi cũng đã tham khảo các công trình viết về
15
xã hội mẫu hệ của các dân tộc khác nhau để so sánh với người Chu ru. Đây là
Chương 2: Hôn nhân và gia đình truyền thống của người Chu ru
Trong chương này, chúng tôi trình bày về những quan niệm, loại hình,
các nguyên tắc, các nghi lễ, vấn đề cư trú sau hôn nhân truyền thống; hình
thái gia đình, các mối quan hệ trong gia đình, quan hệ gia đình và dòng họ,
xóm giềng, các chức năng, các nghi lễ trong gia đình truyền thống của người
Chu ru ở Lâm Đồng.
Chương 3: Những biến đổi trong hôn nhân và gia đình hiện nay của
người Chu ru
Trong chương này, chúng tôi trình bày những biến đổi trong hôn nhân
và gia đình hiện nay của người Chu ru ở tỉnh Lâm Đồng dưới sự tác động của
những nguyên nhân khác nhau.
17
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.
Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và thành phần tộc người ở tỉnh Lâm
Đồng
Lâm Đồng là một tỉnh miền núi ở Nam Tây Nguyên, có diện tích
9.772,19km2, chiếm khoảng 2.9% diện tích cả nước, có chung đường ranh
giới với các tỉnh:
- Phía Đông giáp tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận.
- Phía Tây, Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, Đồng Nai.
- Phía Nam, Đông Nam giáp tỉnh Bình Thuận.
- Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk.
Mật độ dân
(km2)
bình (người)
số
(người/km2)
1
Thành phố Đà Lạt
393,29
206.105
524
2
Thị xã Bảo Lộc
232,56
148.654
639
6
Huyện Đơn Dương
610,32
94.001
154
7
Huyện Đức Trọng
901,80
166.377
184
8
Huyện Di Linh
1.614,64
154.786
96
37.087
87
(Nguồn: Cục Thống kê Lâm Đồng, Niên giám thống kê năm 2009, Đà Lạt
tháng 5/2010)
1
Cục Thống kê Lâm Đồng, Niên giám thống kê năm 2009.
19
Về thành phần tộc người, Lâm Đồng là một tỉnh đa tộc người, có hơn
40 tộc người anh em cùng sinh sống, như: Kinh, Cơ ho, Mạ, Chu ru, M’nông,
Raglai, Giẻ Triêng, Chăm, Hoa, Tày, Nùng, Thái, Dao… Các tộc người thiểu
số có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, ngôn ngữ, phong tục
tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa khác nhau, rất phong phú và đa dạng.
Trong số đó, ba tộc người được xem là cư dân bản địa của Lâm Đồng là: Cơ
ho, Mạ, Chu ru, đã định cư lâu đời tại vùng đất này, ngoài ra các tộc người
khác có nguồn gốc cư trú từ nhiều vùng miền khác nhau đã di cư đến vùng đất
Lâm Đồng sau này, khoảng vài thập niên gần đây. Theo số liệu thống kê Tổng
điều tra dân số ngày 01 tháng 4 năm 1999, tại Lâm Đồng, ngoài người Kinh
chiếm đa số, cộng đồng các tộc người thiểu số cũng rất đa dạng. (Xem bảng
1.2)
BẢNG 1.2. KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ TẠI TỈNH LÂM ĐỒNG
01/4/1999
Dân tộc
Thổ
726
M’nông
9.679
10
Thái
4.178
4
Chu ru
14.579
11
Mường
2.076
5
Raglai
762.759
Và có hơn 25 thành phần dân tộc khác có số lượng dân số ít hiện đang cư
trú tại Lâm Đồng
(Nguồn: Dẫn theo Địa chí Lâm Đồng (2001), Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc,
Hà Nội)