Hôn nhân và gia đình của người khơ mú ở huyện mai sơn tỉnh sơn la tt - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THUẬN

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI
KHƠ MÚ Ở HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 62 31 03 02

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Trần Văn Hà
2. TS. Hoàng Hữu Bình

1. T22S Trần Văn Hà
2. TS Hoàng Hữu Bình

Phản biện 1: GS.TS. Hoàng Nam
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Ngọc Thắng
Phản biện 3: PGS.TS. Vương Xuân Tình

Luận án sẽ được bảo về trước Hội đồng chấm luận án cấp
Học viện họp tại Học viện Khoa học xã hội vào

và gia đình của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” làm đề
tài Luận án Tiến sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận diện chân dung và đặc điểm văn hóa Hôn nhân và Gia đình
của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
- Làm rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự biến
đổi và những xu hướng trong quan hệ Hôn nhân và Gia đình của tộc
người Khơ mú.
- Đề xuất, kiến nghị nội dung, giải pháp nhằm phát huy các giá trị
văn hóa Hôn nhân và Gia đình của người Khơ mú trong xây dựng
nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở ở hiện nay.
1


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án lấy đối tượng Hôn nhân và Gia đình của người Khơ mú
làm đối tượng tiếp cận, giải mã thông tin và tìm ra các giá trị văn hóa.
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian là 2 bản người Khơ mú ở Co
Chai xã Hát Lót và bản Tra xã Chiềng Lương; Về thời gian: Quan sát
Hôn nhân và Gia Đình của người Khơ mú trước và sau năm 1986; Về
nội dung: Tiếp cận đối tượng trong cái nhìn truyền thống và biến đổi
4. Nguồn tài liệu, tư liệu của luận án
Nguồn tư liệu chính được thu thập từ những đợt điền dã dân tộc
học của NCS qua các năm 2010 đến 2015 tại bản Co Chai xã Hát Lót
và bản Tra xã Chiềng Lương của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nguồn tài liệu thứ cấp được tiếp cận từ sách, báo, tạp chí và các văn bản
pháp quy, báo cáo có liên quan.
5. Đóng góp của luận án
- Luận án lần đầu tiên cung cấp tư liệu một cách có hệ thống về
Hôn nhân và Gia đình của người Khơ mú ở Sơn La, cung cấp luận cứ

1904). Học giả người Mỹ Frank Proschan, nghiên cứu về lịch sử tộc
người Khơ mú ở địa bàn Đông Dương qua báo cáo khoa học của ông
“Chương văn học dân gian, trong lịch sử và tiềm thức của người
Khơ mú” tại Hội thảo Thái học (Tai Study Worshop) năm 1990 ở
Băng Cốc (Thái Lan) đã liệt kê tài liệu về “nạn giặc Chương” diễn ra
tại một số địa phương của Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX.
Tác giả Henri Roux (1927) viết về Les tsa Khmu (Dân tộc XáKhơ mú). Tác giả đã đề cập đến nơi cư trú, những nét đặc trưng về
làng bản, nhân chủng, trang phục, trang sức, hôn nhân, tang ma, ngôn
ngữ, từ vựng, thuyết luân hồi của người Khơ mú ở Việt Nam.
Shomphra Xaiyamongkhoun (Lào) có công trình The Economic
System of the Mountainous People, Khmu Ethnic Minority, Din Dam
Village, Phabong Area, Nong Hed District, Xieng Khouang Province
(Hệ thống kinh tế của dân tộc Khơ mú làng Din Dam vùng Phabong
huyện Nong Hed, tỉnh Xiêng Khoảng). Tác giả đề cập đến việc canh
tác nông nghiệp truyền thống, canh tác nương rẫy, kỹ thuật làm vườn,
chăn nuôi gia súc, nghề thủ công truyền thống và giáo dục của người
Khơ mú.
Các công trình nghiên cứu về người Khơ mú của học giả nước
ngoài đã cung cấp tư liệu khái quát địa bàn cư trú, phương thức sản
xuất truyền thống, những nét văn hóa cơ bản của làng người Khơ mú
nhưng vẫn chưa có công trình nghiên cứu làm nổi bật văn hóa của
người Khơ mú cũng như nghiên cứu về Hôn nhân và Gia đình mang
tính chuyên khảo.
3


1.1.2. Nghiên cứu của tác giả trong nước về người Khơ mú

- Nghiên cứu về tộc người Khơ mú ở Việt Nam
Công trình Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt

4


hệ trong gia đình của tộc người Khơ mú. Tác giả đã đưa ra hai loại
hình gia đình, trong đó loại hình gia đình nhỏ (hạt nhân) là chủ yếu
và đã đưa ra các dạng thức của gia đình hạt nhân. Gia đình lớn vẫn
còn tồn tại nhưng là đại gia đình mở rộng. Gia đình theo chế độ phụ
hệ thể hiện qua quan hệ của chủ gia đình với các thành viên khác,
trong thừa kế tài sản.
Công trình Hôn nhân của người Khơ mú ở một địa bàn khác của
Tây Bắc là xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái của Trần Thị
Thảo năm 2010. Chuyên khảo này, tác giả đã đề cập đến tập tục, quan
niệm, lễ nghi hôn nhân truyền thống và những biến đổi trong hôn nhân
của người Khơ mú ở Nghĩa Sơn, Văn Chấn, Yên Bái.
Những nghiên cứu về người Khơ mú đến nay đã cung cấp các
thông tin từ góc độ tộc danh, dân số, địa bàn cư trú cho đến hoạt động
kinh tế truyền thống, các dạng thức văn hóa cổ truyền. Đây là nguồn tư
liệu giúp NCS có thêm cơ sở đối chứng, so sánh khi khảo cứu chuyên
sâu về Hôn nhân và Gia đình của người Khơ mú ở Sơn La (Tây Bắc) với
những nét riêng và tương đồng ở một địa bàn cụ thể. Tuy nhiên các vấn
đề hôn nhân truyền thống, gia đình truyền thống và biến đổi hôn nhân và
gia đình, nguyên nhân của sự biến đổi,v.v… cũng như những vấn đề
đang đặt ra về mặt chính sách, đóng góp cho Luật Hôn nhân và Gia
đình, xây dựng đời sống văn hóa là những vấn đề mới đặt ra trong tình
hình hiện nay. Đó cũng là khoảng trống cần được bù lấp. Do vậy, việc đi
sâu tìm hiểu một cách hệ thống mang tính chuyên sâu, có tính đa dạng
vùng và các địa phương về hôn nhân và gia đình của dân tộc Khơ mú
nói chung và Sơn la (Tấy Bắc) nói riêng trong bối cảnh hiên nay là hết
sức cần thiết và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.2. Cơ sở lý thuyết về hôn nhân và gia đình

thế hệ: Cha mẹ và Con cái chưa lập gia đình. Mỗi thành viên của gia
đình hạt nhân nằm trong một loạt những quan hệ chuyển biến qua
thời gian với từng thành viên kia: giữa chồng với vợ, cha mẹ với con
cái, và giữa những người con với nhau.
Gia đình mở rộng: Là loại hình gia đình gồm ba thế hệ: Bố mẹ,
Con cái đã có vợ có chồng và Cháu sống chung với nhau.
1.2.3. Cơ sở lý thuyết về hôn nhân và gia đình

- Thuyết về chức năng (Chức năng luận)
Thuyết chức năng được áp dụng vào nghiên cứu mối quan hệ
trong hôn nhân, quan hệ giữa gia đình và xã hội :
Đó là mối quan hệ và sự tác động lẫn nhau giữa gia đình với các
yếu tố của cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, với các nhóm dân tộc hoặc
theo cơ cấu lãnh thổ. Nếu xét từ khía cạnh các lĩnh vực hoạt động của
gia đình có thể nói tới mối quan hệ giữa lĩnh vực kinh tế với các lĩnh
vực đời sống văn hóa tinh thần, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, sinh
sản, điều kiện nhà ở, trang thiết bị, v.v...
6


Nhân học văn hóa xem xét trên tất cả các bình diện về hình thức
hôn nhân thông qua đó để thấy được mối quan hệ thân tộc, nội bộ dân
tộc và giữa các dân tộc thông qua vấn đề hôn nhân.
Hai chức năng cơ bản nhất của gia đình đối với xã hội là "tái tạo
ra một thế hệ mới" (bao gồm cả việc sinh đẻ và giáo dục đào
tạo) và "nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình". Hai
chức năng cơ bản này chi phối toàn bộ các chức năng khác của gia
đình (chức năng kinh tế, giao tiếp tinh thần, tổ chức thời gian rỗi, giải
trí…).
- Lý thuyết về biến đổi (change)

Vết tích tô tem giáo còn thể hiện khá rõ nét ở dòng họ của người
Khơ mú đều mang tên một loài vật, đồ vật hoặc cỏ cây. Hiện nay thì
người Khơ mú vẫn nhớ đến dòng họ của mình và nhận nhau là họ
hàng khi có cùng tổ tiên khi nói chuyện trong cùng tộc người, nhưng
trong giấy tờ nhân thân thì họ đã chuyển sang tên họ của người Thái
như họ Mè, Hoàng, Lò, Lường, Vi, Quàng…
Mai Sơn là một huyện thuộc tỉnh Sơn La, có 21 xã và 1 thị trấn Hát
Lót. Huyện lỵ đóng tại thị trấn Hát Lót. Khí hậu, thời tiết mang đặc
trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền núi Tây Bắc. Huyện Mai Sơn có
6 tộc người gồm Thái, Mông, Mường, Kinh, Khơ mú, Xinh mun sinh
sống xen cài đến tận xã, bản.
1.4.2. Đôi nét về điểm nghiên cứu

1.4.2.1. Bản Tra
Xã Chiềng Lương có 20 bản, trong đó 05 bản người Hmông,
1 bản người Xinh mun, 1 bản người Kinh, 1 bản người Khơ mú, 12
bản người Thái. Bản Tra của người Khơ mú cách Ủy ban nhân dân
xã 2,5 km. Hiện nay có 50 hộ gia đình (năm 2014) sinh sống và làm
nông nghiệp trồng ngô, mía, dong là chủ yếu.
1.4.2.2. Bản Co Chai
Xã Hát Lót có 5 dân tộc cư trú gồm 31 bản, trong đó có 9 bản
người Thái, 1 bản người Khơ mú còn lại các bản đều cư trú đan xen
giữa người Thái và người Kinh, Hmông.
Co Chai là bản người Khơ mú cư trú có tổng số 81 hộ (năm
2014), trong đó có 79 chủ hộ là người Khơ mú, 2 chủ hộ là người Thái
và người Dao. Trong 81 chủ hộ là người Khơ mú thì có 27 chủ hộ họ
Mè (Tmoong), 17 hộ họ Lò (Slooc), 14 chủ hộ họ Hoàng (Rvai), 10 chủ
hộ họ Quàng (Rvai), 8 chủ hộ họ Vì (Xi ôm), 3 chủ hộ họ Hùng (Cút), 1
chủ hộ họ Hà (người Thái), 1 chủ hộ họ Triệu (người Dao).
Kinh tế của người Khơ mú bản Co Chai chủ yếu làm nông

không phạm phải các điều cấm kỵ truyền thống tộc người đã đúc rút
truyền lại.
Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ: Người Khơ mú nghiêm cấm
người cùng một dòng họ kết hôn với nhau, đây là nguyên tắc bất di
bất dịch. Nguyên tắc nội hôn tộc người, đồng bào cho rằng lấy người
khác tộc sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống gia đình cũng như
trong lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày, vì họ không biết
phong tục dân tộc mình, không biết thờ cúng ma nhà mình. Nguyên
tắc hôn nhân thuận chiều, đây là cơ sở hình thành ba mối quan hệ họ
hàng: Tai hem-mạ êm, dông êm-mạ cưn, dông quynh, tồn tại phổ biến
ở tất cả các bản của người Khơ mú. Theo phong tục, người nào vi
9


phạm nguyên tắc này sẽ bị dư luận chê cười, do phạm vào tục “quay
đầu lợn”, phá vỡ tập quán truyền thống.
2.1.1.3. Hình thức hôn nhân

Người Khơ mú tuân thủ theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng
bền vững. Người chồng chỉ được phép lấy vợ lẽ khi người vợ cả chết
hoặc đôi vợ chồng này đã ly hôn. Trong bản Co Chai, bản Tra cho
đến nay chưa có trường hợp nào đa thê. Chỉ khi góa bụa thì người
còn sống được quyền đi bước nữa và được anh em họ hàng, dân bản
khuyến khích đi bước nữa hoặc đã ly dị thì việc lấy chồng, vợ tiếp
theo không cấm.
2.1.1.4. Tính chất hôn nhân

Hôn nhân truyền thống của người Khơ mú bị chi phối bởi tính
chất loại hình gia đình phụ quyền. Dù trai hay gái đến tuổi trưởng
thành đều được phép tự do tìm hiểu, yêu đương, nhưng cuộc hôn

chức lễ cưới đón dâu. Theo quan niệm của người Khơ mú, đây mới là
lễ cưới công nhận chính thức vợ chồng sau một thời gian chàng rể
được thử thách bên nhà vợ. Thời gian sống chung của đôi vợ chồng
trẻ bên nhà chồng không cố định thời gian cụ thể. Việc ở chung kết
thúc chỉ khi nào bố mẹ chồng cho rằng có đủ điều kiện kinh tế, nhà ở,
v.v…cho đôi trẻ ra ở riêng một cách thuận lợi nhất.
2.1.2. Các bước trong cưới hỏi
Đám cưới của người Khơ mú diễn ra trình tự theo các bước:Bước
tìm hiểu (Dụm), lễ dạm ngõ (Dông êm, mạ êm), lễ ăn hỏi (Dun thao
dun ke, lạ dông lạ mạ), lễ cưới ở rể (srông veech gút cămbrạ), lễ cưới
đưa dâu (Pưn đề glệ cămbrạ), lễ lại mặt (Gay hợp dông êm mạ êm)
2.2. Biến đổi trong hôn nhân của người Khơ mú ở bản Co Chai
và bản Tra
2.2.1. Thay đổi trong quan niệm, nhận thức về tìm hiểu và kết hôn
Độ tuổi kết hôn của người Khơ mú đã dần tuân theo Luật Hôn
nhân và Gia đình. Kết quả khảo sát năm 2014 cho thấy: Số người kết
hôn từ 18 tuổi đến 22 tuổi là 60%, từ 23 đến 30 tuổi là 22,2%, đây là
độ tuổi kết hôn tương đối muộn so với độ tuổi kết hôn trung bình của
các dân tộc thì người Khơ mú kết hôn độ tuổi này cũng chiếm con số
lớn. Nhưng kết hôn dưới 18 tuổi ở người Khơ mú hiện nay vẫn còn
và chiếm 17,8%.
Hiện nay, thời điểm tiến hành đăng ký kết hôn của người Khơ
mú thường diễn ra sau lễ ăn hỏi, trước khi cưới ở rể để chàng rể đến
ở nhà cô dâu, chung sống với cô dâu thì đã đăng ký kết hôn. Hôn
nhân được xây dựng trên cơ sở tình yêu tự nguyện của đôi trai gái có
sự tham khảo ý kiến của bố mẹ, họ hàng.
2.2.2. Lựa chọn bạn đời trong hôn nhân
Trước đây lựa chọn bạn đời của người Khơ mú chủ yếu trong
nội bộ tộc người, trong cùng bản. Hiện nay việc giao lưu, trao đổi
11


CHƯƠNG 3
GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI KHƠ MÚ Ở HUYỆN MAI SƠN,
TỈNH SƠN LA
3.1. Gia đình truyền thống của người Khơ mú
3.1.1. Phân loại gia đình và cấu trúc gia đình
Loại hình gia đình phổ biến của người Khơ mú là gia đình phụ
hệ với 2 loại hình là Tiểu gia đình (gia đình hạt nhân) và Đại gia đình
(gia đình mở rộng).
Cấu trúc đơn giản nhất là gia đình gồm một cặp vợ chồng và con
cái hoặc bố mẹ, em trai, gái chưa lấy vợ hay lấy chồng. Dạng phức
tạp hơn gồm các cặp vợ chồng và con cái của các anh, em trai cùng
cha mẹ già yếu và các em trai chưa vợ, em gái chưa chồng sống trong
một mái nhà, các thành viên ứng xử theo quan hệ luật tục và cùng
làm chung, ăn chung.
3.1.2. Gia đình hạt nhân và quy mô

Gia đình hạt nhân hình thành sớm và tồn tại song song với gia đình
mở rộng. Tập quán truyền thống của người Khơ mú trong gia đình
không nhất thiết các con trai phải ở cùng bố mẹ. Họ quan niệm chỉ con
trai cả ở cùng bố mẹ để làm nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc bố mẹ khi
già yếu, thờ cúng tổ tiên khi bố qua đời nên con trai cả hay con trai duy
nhất trong gia đình sẽ ở cùng bố mẹ và được hưởng nhà cửa, ruộng
nương, ao cá, trâu bò của bố mẹ.
3.1.3. Gia đình mở rộng và quy mô

Gia đình mở rộng gồm từ 3 thế hệ trở lên. Đối với người Khơ mú,
gia đình mở rộng tuy không phải loại hình phổ biến nhưng luôn tồn tại
song song với gia đình hạt nhân. Bên cạnh đó, còn có trường hợp nhiều
thế hệ sinh sống trong một gia đình với thế hệ con cái có nhiều cặp gia

Người cha hoặc người con trai lớn luôn là người chủ gia đình,
điều hành mọi công việc trong nhà, trong sản xuất, phụ trách cúng tế
và cũng là người thay mặt gia đình trong quan hệ với dòng họ, làng
bản. Mọi tài sản trong gia đình như nhà cửa, ruộng nương, trâu bò...
đều do người chủ gia đình quản lý và chịu trách nhiệm. Trong gia
đình (trước hết là bố mẹ) thường bàn bạc với nhau để có quyết định
các vấn đề thuộc về đời sống gia đình.
Quan hệ giữa bố mẹ và con cái của người Khơ mú ở Co Chai và
bản Tra (huyện Mai Sơn) là quan hệ ứng xử giữa các thế hệ và vị thế
trong gia đình thân thiết, yêu thương, kính trọng, lễ phép. Con cái là
niềm an ủi, hạnh phúc và mong ước của bố mẹ.
3.1.6. Tập quán, nghi lễ gia đình
14


Tập quán sinh đẻ :Nếu phụ nữ có thai trong nhà bố mẹ đẻ, tức
trong thời gian chàng trai đang đi ở rể thì người phụ nữ đó kiêng
không được qua lại nhà chàng trai đến khi được tổ chức cưới đón
dâu. Chỉ có bố mẹ, họ hàng nhà trai muốn đến thăm và chăm nom
con dâu thì đến nhà bố mẹ cô gái để thăm. Thời gian ở cữ của sản
phụ họ sẽ kiêng không cho người lạ vào nhà.
Nghi lễ xin con nuôi :Hai bên thỏa thuận trước, đến khi đứa trẻ
lọt lòng mẹ thì bố mẹ nuôi đến nhận và đón về làm lễ đặt tên, lấy
theo họ bố nuôi, cúng ma nhà cho phép nhập hồn và họ của con vào
dòng họ.
3.2. Biến đổi gia đình của người Khơ mú
Theo số liệu điều tra năm 2012, gia đình hạt nhân và gia đình mở
rộng song song tồn tại, trong đó chủ yếu là gia đình hạt nhân nhưng
số lượng nhân khẩu trong gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng có
những thay đổi từ chính sách kế hoạch hóa gia đình. Quy mô gia đình



CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
4.1. Kết quả nghiên cứu về hôn nhân và gia đình người Khơ mú
4.1.1. Về hôn nhân
Hình thức hôn nhân một vợ một chồng trên cơ sở tự nguyện
xuất phát từ tình yêu nam nữ là chủ đạo. Và người con trai sẽ là
người chủ động đầu tiên trong bước tìm hiểu và đặt vấn đề xây dựng
gia đình. Trai, gái đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu bạn đời,
và giữ vai trò quyết định. Bố, mẹ giữ vai trò định hướng cho con cái
trong tìm hiểu và nhắc nhở, hay xem xét đến quan hệ dòng họ của đôi
lứa để tránh những cấm kỵ liên quan đến luật tục.
4.1.2. Về gia đình
Gia đình người Khơ mú là gia đình phụ quyền với hai loại hình
hạt nhân và mở rộng song song tồn tại. Tuy tục ở rể là vẫn tồn tại ở
cả hai cộng đồng được nghiên cứu, nhưng không đậm nét. Ở gia đình
truyền thống, trước giải phóng (1954), thậm chí đến những năm trước
định canh định cư (1968), một số gia đình ở bản Co Chai không tồn
trại tình trạng khi chàng trai đi ở rể phải đổi họ mà chỉ làm lễ nhập
hồn để con rể thuần tính nết khi chung sống với nhà vợ và tổ tiên nhà
vợ sẽ phù hộ không ốm đau, tai nạn. Khi gia đình nhà trai tổ chức
cưới đón dâu về nhà chồng thì sau 10 ngày nhà trai cũng làm lễ nhập
vía cô dâu vào dòng họ nhà chồng và tập tục này tồn tại đến ngày
nay. Con cái sinh ra mặc dù khi thời gian bố còn ở rể vẫn lấy theo họ
bố. Gia đình hỗn hợp dân tộc, con cái cũng luôn lấy theo họ bố.
4.2. Bàn luận
4.2.1. Về hôn nhân của người Khơ mú

Đồng bào Khơ mú sống thành cộng đồng kết cấu thành bản với

bước góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú, mang đậm bản sắc đời
sống tinh thần của dân tộc Khơ mú, kết hợp hài hòa giữa đời sống vật
chất và tinh thần làm giàu thêm bản sắc của dân tộc Việt Nam trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
4.2.3. Nhìn lại việc áp dụng thuyết chức năng và thuyết biến đổi trong
nghiên cứu
Sau hôn nhân, gia đình được thiết lập với tư cách một cấu trúc
chỉnh thể - tế bào của xã hội. Trong gia đình hay dòng họ, hôn nhân
luôn phải tuân thủ nguyên tắc là những người không cùng tô tem, vật
tổ để đảm bảo duy trì nòi giống (chức năng sinh học). Tập quán ướm
hỏi họ hàng trước khi cưới luôn duy trì là hoạt động loại trừ nhầm lẫn
của các cặp kết hôn liên quan đến cùng họ hàng và kiêng kỵ cùng tô
tem (cùng họ Tmoong nhưng tô tem khác vẫn lấy được nhau, như đã
dẫn dụ trường hợp bản Co Chai, ở chương 3).
18


Chức năng giáo dục và cố kết trong gia đình, dòng họ và cộng
đồng thể hiện trong văn hóa Khơ mú không đơn thuần là giáo dục về
quan hệ giao tiếp xã hội hay ngôn ngữ mà chính là trao truyền kiến
thức, tập quán, phong tục của tộc người cho thế hệ sau.
Chức năng tương trợ và bảo tồn văn hóa tộc người. Gia đình có
vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục nhân cách con người. Ở đó,
văn hóa gia đình (nhân cách và thói quen ứng xử, tập quán lễ nghi,
ngôn ngữ mẹ đẻ, v.v…) được vun đắp, nuôi dạy trong mối liên hệ
chặt chẽ khi con người đó trở thành thành viên chính thức của cộng
đồng, họ đã được tích nạp các yếu tố văn hóa tộc người. Cùng với
những hoạt động lễ nghi văn hóa, thực hành các hành vi văn hóa tộc
người đã góp phần bảo tồn văn hóa của người Khơ mú. Thông qua
các lễ nghi gia đình về chu kỳ đời người như: đám ma, đám cưới, làm

và gia đình.
Kinh tế hàng hóa, mối quan hệ được mở rộng nhờ cơ sở hạ tầng:
điện, đường, trường trạm được xây dựng. Mức độ hưởng thụ văn hóa
của người dân ở Co Chai và bản Tra qua các phương tiện thông tin
đại chúng được mở rộng dẫn đến những thay đổi trong hôn nhân của
người Khơ mú nơi đây, đặc biệt từ sau Đổi mới (1986) đến nay.
4.4. Một số kiến nghị
Về quan điểm nhận thức. Vấn đề thực hiện Luật Hôn nhân và
Gia đình ở các cộng đồng Khơ mú trong bối cảnh hiện nay phải có sự
cân nhắc cẩn trọng trong khâu tổ chức, thực hiện. Trước hết là tuyên
truyền, giải thích luật từ các kênh truyền thông đại chúng nhiều hơn
nữa, đồng thời, huy động, khai thác các đơn vị tư vấn pháp luật miễn
phí thông qua tổ chức Hội Luật gia địa phương đối với cộng đồng
Khơ mú. Vấn đề thủ tục đăng ký kết hôn theo Luật: Về độ tuổi của
các cặp đôi nam nữ khi đến thời điểm đăng ký phải có sự du di và
linh động, phần lớn do họ chưa đủ tháng. Vì phải so tuổi, cưới lấy
tuổi, hoặc để lấy ngày cưới cho đẹp theo phong tục. Đôi khi, đám
cưới tổ chức xong tháng này, sang tháng sau mới đến UBND xã đăng
ký kết hôn. Vì vậy, nếu phải chịu phạt hoặc gặp phải khó khăn trong
thủ tục sẽ gây tâm lý không tốt trong tuyên truyền, phổ biến luật.
Vấn đề thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ thuộc quan hệ gia
đình của các bên liên quan trong phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn
nhân và Gia đình. Ở đây theo chúng tôi, vấn đề chính sách an sinh xã
hội đối với người cao tuổi cần được đặc biệt quan tâm. Theo phong
tục, từ xưa đến nay người Khơ mú vẫn muốn sinh con trai hoặc nhận
con trai làm con nuôi để nương tựa tuổi già (ít khi ở cùng gia đình
con gái, trừ có rể đời). Đó là truyền thống tốt đẹp, khi hết sức lao
20



tộc người.
1. Cộng đồng Khơ mú được NCS chọn điểm nghiên cứu của
luận án ở các xã Chiềng Lương và Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn
La là hai nhóm cộng đồng có quan hệ gần gũi. Ngoài quan hệ về
dòng họ, hai nhóm cộng đồng Khơ mú còn có quan hệ hôn nhân và
các lễ nghi khác về mặt tộc người có nhiều nét tương đồng (các bước
hôn nhân, tục ở rể, vai trò ông cậu, và các qui định của luật tục). Bên
cạnh đó, so với các nhóm Khơ mú ở các địa phương trong và ngoài
tỉnh ở 2 cộng đồng Co Chai và bản Tra lại có những nét khác biệt
trong nghi lễ cưới xin và phạm vi quan hệ hôn nhân. Trước đây, quan
hệ hôn nhân ngoài dòng họ vẫn là chủ đạo, song do cư trú biệt lập và
áp lực dân số gia tăng, quan hệ hôn nhân không mở rộng với các dân
tộc Kinh, Thái, Xinh Mun tại địa bàn, nên việc hôn nhân của hai
nhóm cộng đồng đã phải chấp nhận giữa các chi khác trong cùng
dòng họ với tô tem chung.
2. Các hình thức, nguyên tắc, đặc điểm và tính chất mang dấu
ấn hôn nhân của hai nhóm Co Chai và bản Tra qua giai đoạn khác
nhau gắn liền với quá trình tộc người Khơ mú. Hôn nhân của người
Khơ mú ở hai nhóm cộng đồng nghiên cứu là dựa trên tự nguyện.
Hình thức hôn nhân một vợ một chồng bền chặt. Hôn nhân truyền
thống dựa trên qui định và sự điều phối của luật tục. Mặc dù là bất
22


thành văn, song việc thực hiện luật tục cộng đồng và dòng họ đối với
các thành viên của các quan hệ trong tổ chức phi quan phương này lại
rất nghiêm túc và chặt chẽ.
3. Cùng với quá trình giao lưu văn hóa, tác động của các chính
sách phát triển kinh tế- xã hội và các chính sách dân tộc khác nữa của
Đảng và Nhà nước, hôn nhân hỗn hợp tộc người được mở rộng trong



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status